Mục lục
Lời nói đầu
Phần I.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN
I. Thực chất của tích lũy tư bản và các nhân tố quyết định
quy mô tích lũy tư bản
1. Giá trị thặng dư - nguồn gốc của tích lũy tư bản
2. Những nhân tố quyết định quy mô của tích lũy tư bản
II. Quy luật chung của tích lũy tư bản
1. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tăng cấu tạo hữu cơ của
tư bản
2. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình tích tụ và tập trung tư
bản ngày càng tăng
3. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình bần cùng hóa giai cấp
vô sản
Phần II
VẬN DỤNG LÝ LUẬN TÍCH LŨY TƯ BẢN VÀO THỰC
TIỄN VIỆT NAM
I. Tại sao phải tích lũy vốn
II. Thực trạng vấn đề tích lũy vốn ở Việt Nam
III. Các giải pháp thúc đẩy quá trình tích lũy ở Việt Nam
1 .Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy - tiêu dùng
2. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
3. Tăng cường tích luỹ vốn trong nước và có biện pháp thu hút
vốn đầu tư nước ngoài
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang
2
phát triển, đưa đất nước vững vàng đi theo con đường chủ nghĩa xã hội mà
chúng ta đã lựa chọn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang
tiến hành công cuộc CNH-HĐH thì nhu cầu về vốn để xây dựng các công
trình nền tảng và cải tiến kỹ thuật áp dụng khoa học tiên tiến lại càng cần
thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.
Chính vì tính chất quan trọng đó của tích lũy tư bản (vốn) mà
trong bài tiểu luận: “Tích lũy tư bản và việc vận dụng vào thực tiễn Việt
Nam” này em sẽ trình bày xung quanh vấn đề tích lũy, làm rõ hơn bản
chất, quá trình thực hiện nó và áp dụng lý luận này vào thực tiễn nền kinh
tế Việt Nam. Bài viết gồm hai nội dung chính:
Phần I: Lý luận chung về tích lũy tư bản
Phần II: Vận dụng lý luận tích lũy tư bản vào thực tiễn Việt
Nam
2
Phần I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍCH LŨY TƯ BẢN
I. Thực chất của tích lũy tư bản và các nhân tố quyết định
quy mô tích lũy tư bản
1.Giá trị thặng dư - nguồn gốc của tích lũy tư bản
“Tích lũy là sự chinh phục thế giới của cải”(1)
Xã hội không thể ngừng tiêu dùng nên không thể ngừng sản
xuất. Do vậy bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào nếu xét theo tiến trình đổi
mới không ngừng của nó, thì đồng thời cũng là quá trình tái sản xuất. Quá
trình này là tất yếu khách quan theo hai hình thức: tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng.
Tái sản xuất giản đơn là quá trình tái sản xuất được lặp lại với
quy mô như cũ, đặc trưng cho nền sản xuất nhỏ. Tái sản xuất mở rộng là
do đó lao động của công nhân trong quá khứ lại trở thành phương tiện để
bóc lột chính người công nhân.
Thứ hai, quá trình tích lũy đã làm cho quyền sở hữu trong nền
kinh tế hàng hóa biến thành quyền chiếm đoạt tư bản chủ nghĩa. Nhà tư bản
không những chiếm đoạt một phần lao động của công nhân, mà còn là
người sở hữu hợp pháp lao động không công đó.
Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự lớn lên không
ngừng của giá trị. Để thực hiện được điều đó các nhà tư bản không ngừng
tích lũy và tái sản xuất mở rộng, xem đó là phương tiện căn bản để bóc lột
công nhân. Mặt khác do tính cạnh tranh quyết liệt nên các nhà tư bản buộc
phải không ngừng làm cho tư bản của mình tăng lên, điều đó chỉ có thể
thực hiện bằng cách tăng nhanh tư bản tích lũy. Do đó động cơ thúc đẩy
tích lũy tư bản và tái sản xuất mở rộng chính là quy luật kinh tế cơ bản của
chủ nghĩa tư bản – quy luật giá trị thặng dư.
2.Những nhân tố quyết định quy mô của tích lũy tư bản
Quy mô của tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị
thặng dư và tỉ lệ phân chia giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm và thu
nhập.
Nếu nhà tư bản sử dụng khối lượng giá trị thặng dư vào tiêu
dùng cá nhân nhiều thì khối lượng giá trị thặng dư dành cho tích lũy ít đi,
khi đó quy mô tích lũy sẽ giảm đi.Ngược lại, việc tiêu dùng ít sẽ làm tăng
khối lượng tích lũy làm quy mô tích lũy tăng lên.
5
Nếu tỉ lệ phân chia đó đã được xác định thì quy mô của tích lũy
tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Bì vậy những nhân tố
quyết định quy mô tích lũy chính là những nhân tố quyết định quy mô của
cấu tạo kỹ thuật.
Cấu tạo kỹ thuật của tư bản là tỷ lệ giữa số lượng tư liệulao
động và khối lượng tư bản cần thiết để sử dụng các tư liệu đó. Cấu tạo kỹ
thuật là cấu tạo hiện vật, nên nó biểu hiện dưới hình thức: số lượng máy
móc, nguyên liệu, năng lượng do công nhân sử dụng trong một thời gian
nào đó. Cấu tạo kỹ thuật phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất.
Cấu tạo giá trị của tư bản là tỷ lệ theo đó tư bản phân thành tư
bản bất biến và tư bản khả biến (hay giá trị của sức lao động) cần thiết để
tiến hành sản xuất.
Cấu tạo kỹ thuật thay đổi sẽ làm cấu tạo giá trị thay đổi.C.Mác
đã dùng phạm trù cấu tạo hữu cơ của tư bản để phản ánh mối quan hệ
đó.Cấu tạo hữu cơ của tư bản là cấu tạo giá trị tư bản, do cấu tạo kỹ thuật
quyết định và phản ánh sự thay đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
7
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, do tác động thường
xuyên của tiến bộ khoa học, cấu tạo hữu cơ của tư bản cũng không ngừng
biến đổitheo hướng ngày càng tăng lên. Sự tăng lên đó biển hiện ở chỗ: bộ
phận tư bản bất biến tăng nhanh hơn bộ phận tư bản khả biến, tư bản bất
biến tăng tương đối và tăng tuyệt đối, còn tư bản khả biến có thể tăng tuyệt
đối nhưng lại giảm xuống tương đối.
Sự tăng lên của cấu tạo hữu cơ của tư bản làm cho khối lượng tư
liệu sản xuất tăng lên, trong đó sự tăng lên của máy móc thiết bị là điều
kiện để tăng năng suất lao động, còn nguyên liệu tăng theo năng suất lao
động. Nó đòi hỏi việc sử dụng lao động mới được đào tạo với giá trị sức
lao động cao nhưng năng suất lao động tăng cao lại làm cho hàng hóa kỹ
thuật hiện đại giảm xuống. Xu hướng chung là tỷ trọng người lao động có
Tập trung tư bản không những dẫn đến sự thay đổi về lượng của
tư bản mà còn làm cho tư bản có một chất lượng mới, làm cho cấu tạo hữu
cơ của tư bản tăng lên, nhờ đó năng suất lao động tăng lên nhanh chóng.
Chính vì vậy, tập trung tư bản trở thành đòn bẩy mạnh mẽ của tích lũy tư
bản.
9
Quá trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng, do đó nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng được xã hội hóa, làm cho mâu thuẫn
kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản càng trở nên sâu sắc.
3. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình bần cùng hóa giai
cấp vô sản
Sự phân tích trên cho thấy, cấu tạo hữu cơ của tư bản ngày càng
tăng là một xu hướng phát triển khách quan của sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Do vậy, số cân tương đối về sức lao động cũng có xu hướng ngày càng
giảm. Đó là nguyên nhân gây ra nạn nhân khẩu thừa tương đối, hay cầu sức
lao động giảm một cách tương đối.
Có ba hình thái nhân khẩu thừa: Nhân khẩu thừa lưu động, nhân
khẩu thừa tiềm tàng, nhân khẩu thừa ngừng trệ.
Nạn thất nghiệp đã dẫn giai cấp công nhân đến bần cùng
hóa.Bần cùng hóa giai cấp công nhân là hậu quả tất nhiên của quá trình tích
lũy tư bản. Bần cùng hóa tồn tại dưới hai dạng: bần cùng hóa tuyệt đối và
bần cùng hóa tương đối. Bần cùng hóa tuyệt đối của công nhân biểu hiện
mức sống bị giảm sút. Sự giảm sút này không chỉ xảy ra trong trường hợp
tiêu dùng cá nhân tụt xuống tuyệt đối, mà còn khi tiêu dùng cá nhân tăng
lên, nhưng mức tăng đó chậm hơn mức tăng nhu cầu do chi phí sức lao
động nhiều hơn.
iệt cả về phương pháp, nhận thức chỉ đạo thực tiễn. Ai cũng biết rằng để
CNH, HĐH cần phải có vốn.Hiện nay chúng ta đang tiến hành xây dựng
chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp, trong khi đó tiến hành công
nghiệp hóa, hiện đại hóa lại phải cần nhiều vốn để đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng. Tuy đất nước và khu vực đã thoát khỏi khủng hoảng, nhưng nước
ta vẫn là một nước nghèo, chậm phát triển thì vấn đề tích lũy vốn là vấn đề
có tầm quan trọng đặc biệt, có ý nghĩa tiên quyết đối với toàn bộ quá trình
xây dựng, tại đại hội Đảng lần thứ VIII Đảng ta đã khẳng định: “luôn chủ
trương tự lực cánh sinh xây dựng, phát triển kinh tế, công nghiệp tích lũy
vốn từ nội bộ kinh tế là chủ yếu”.
Nhiều chuyên gia quốc tế đã cho rằng Việt Nam muốn phát
triển và đạt tốc độ theo hướng rồng bay thì phải nỗ lực huy động và tích lũy
vốn trong nước, tăng cường có hiệu quả với nguồn nước ngoài và đầu tư có
hiệu quả cao. Họ đã tính toán rằng để tốc độ tăng trưởng GDP trung bình
hàng năm khoảng 8-10% thì tổng đầu tư trong nước của Việt Nam phải đạt
từ 20-35%, từ nay đến 2020 để đạt được sự tăng trưởng GDP với tố độ cao
như vậy đòi hỏi phải đẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Nhưng đất nước ta đang đứng trước một bài toán vô
cùng nan giải đó là tình trạng thiếu vốn về mọi mặt (vốn lao động, vốn tín
dụng, vốn đầu tư phát triển) cần phải giải đáp của nền công nghiệp: muốn
phát huy tối đa nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân
tài để phát huy tối đa cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa thì phải
12
đầu tư cho GDP đẩy nhanh ứng dụng khoa họ công nghệ vào sản xuất cũng
như xây dựng cơ sở hạ tầng không thể thiếu vai trò của vốn.
Mặt khác chúng ta đang tiến tới hiệp định GEPT/AFTA (
ASEAN) và tham gia vào khu vực tự do hoá thương mại Châu Á TBD (AP
EC) để đứng vững được chúng ta phải có sức cạnh tranh trên mọi thị trườn
đầu tư chưa hiệu quả, nguồn vốn không được luân chuyển từ nơi thừa đến
nơi thiếu. Đầu tư của nhà nước tăng lên nhưng còn dàn trải, lãng phí, thị
trường vốn, tiền tệ chậm phát triển, lãi suất tín dụng chưa phù hợp với việc
đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn, vì thế còn hạn chế đầu tư phát
triển. Việc quản lý sử dụng vốn còn phân tán, không tập trung tối đa vốn
tiền mặt cũng như nhân tài vật lực để giải quyết những công trình thiết yếu
của nền kinh tế.Tuy nhiên sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng
khoán cho thấy đây là một kênh huy động vốn thật sự hấp dẫn và rất đáng
kể.
III.Các giải pháp thúc đẩy quá trình tích lũy ở Việt Nam
1.Giải quyết đúng đắn mối quan hệ tích lũy - tiêu dùng
Vì mục tiêu của xã hội là không ngừng tái sản xuất mở rộng,
tăng thêm sản phẩm xã hội, nâng cao mức sống của người dân mà chúng ta
phải xác định cho được quan hệ giữa quỹ tích lũy và tiêu dùng. Tương quan
14
giữa tích lũy và tiêu dùng được coi là tối ưu khi sử dụng được các tài sản
hiện có, thực hiện được mức tích lũy có thể đảm bảo phát triển sản xuất với
tốc độ cao ổn định mà cuối cùng vẫn đảm bảo tăng tiêu dùng.Việc phân
chia này tùy thuộc vào nhu cầu nền kinh tế ở từng thời kỳ nhất định.Đồng
thời phải khuyến khích mọi người không ngừng tiết kiêm, tích lũy.
2. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn
Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, trước hết chúng ta phải xác
định rõ từng đối tượng được cấp vốn, từđó phân bổ nguồn vốn một cách
hợp lý cho các ngành nhằm tạo ra hiệu quả sử dụng vốn cao hơn.
Đối với các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ không nên cấp
vốn toàn bộ mà nên tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp, nhờ vậy doanh
nghiệp sẽ có trách nhiệm hơn với đồng vốn của mình, đồng thời chính nhờ
có cổ phần hoá mà tạo điều kiện cho các chủ doanh nghiệp phát huy mọi
quỹ tín dụng nhân dân để tích tụ và tập trung vốn được thuận tiện.Mặt
khác, việc tích tụ và tập trung các nguồn vốn trong nước từ các nguồn tài
nguyên quốc gia và từ những tài sản công còn bỏ phí vừa là mục tiêu vừa là
biện pháp cơ bản trước mắt và lâu dài để chúng ta tăng thêm nguồn vốn
trong nước cho đầu tư phát triển. Cần nghiên cứu lại các quy định vềđất và
quyền sử dụng đất kết hợp hài hoà với các tổ chức thị trường liên
16
quan.Trong thời gian tới phải tìm cách để khai thác cao nhất hiệu quả nhất
nguồn vốn từ tài sản công. Đó là cơ sở vật chất trực tiếp sẵn có mà chúng ta
có thể huy động bằng cả hiện vật hoặc huy động bằng tiền trở thành nguồn
thu trực tiếp của ngân sách Nhà nước là cơ sở ban đầu cần thiết để gọi vốn
đầu tư nước ngoài.
Và một biện pháp mới được áp dụng ở nước ta hiện nay là thu
hút vốn thông qua thị trường chứng khoán. Đây là hình thức tích tụ và tập
trung vốn rất có hiệu quảđang được các nước phát triển áp dụng.Chính thị
trường chứng khoán là một hình thức của thị trường vốn, và nếu thị trường
chứng khoán hoạt động tốt thì nó sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của nền kinh tế.
Ngoài nguồn vốn tích luỹ trong nước thì trong hoàn cảnh hiện
nay khi nền kinh tế mở cửa hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì một nguồn
vốn có vai tròđặc biệt quan trọng khác là nguồn vốn đầu tư nước ngoài, bao
gồm vốn đầu tư trực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp trong đó vốn đầu tư trực
tiếp cóý nghĩa vô cùng lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế trong nước.
Vì thế mà chúng ta cần phải có chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp, đặc
biệt là vốn của các nước phát triển.
17
1.
2.
3.
Giáo trình kinh tế chính trị Mac-Lenin, tập 1
Tư bản, quyển 1, tập 3/ C.Mác
Thời báo kinh tế Việt Nam 2005-2006
19
4.
5.
Văn kiện đại hội Đảng lần thứ VIII
http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-tich-luy-von-
nen-kinh-te-viet-nam-18362/
6.
http://tailieutonghop.com/free/nhung-ly-luan-chungve-tich-luy-tu-ban-va-ung-dung-ly-luan-do-vao-thuc-tien-vietnam_f76-20601.html
7.
http://timtailieu.vn/tai-lieu/de-tai-nghien-cuu-van-detich-luy-tu-ban-dong-thoi-dua-ra-cac-giai-phap-nham-thuc-day-quatrinh-tich-luy-cho-nen-kinh-te-13548/#
8.
http://tailieuhay.com/chi-tiet-tai-lieu/ly-luan-ve-tichluy-tu-ban-va-su-van-dung-dung-no-vao-thuc-tien-vn/15404.html
20