Vì sao nói học thuyết giá trị thặng dư là học thuyết kinh tế cơ bản của chủ nghĩa mác lê nin - Pdf 35

Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

LỜI NÓI ĐẦU
Khi nghiên cứu toàn bộ học thuyết của Các Mác, chúng ta đã
thấy rõ công lao to lớn của ông trong việc khắc phục những hạn
chế của các học thuyết trước đó . Trên cơ sở kế thừa những cái đã
có và tìm ra những hạn chế của các học thuyết đó để bổ sung, hoàn
thiện, sáng tạo và phát triển. Như Lê Nin đã nói: “ Tất cả thiên tài
của Các Mác chính là ở chỗ giải đáp được những vấn đề mà tư
tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra. Các Mác đã kế thừa tất cả
những cái gì tốt đẹp nhất mà loài người tạo ra trong thế kỉ XIX”.
Toàn bộ học thuyết của Các Mác được trình bày trong bộ tư bản,
đây được coi là một tác phẩm lớn, trình bày một cách khoa học, có
hệ thống các học thuyết kinh về: giá trị, giá trị thặng dư, tiền công,
tích lũy tư bản, tuần hoàn, chu chuyển tư bản, tái sản xuất tư bản…
Trong đó học thuyết về giá trị thặng dư là một trong hai học thuyết
vĩ đại nhất của Các Mác, đây cũng là học thuyết kinh tế cơ bản của
chủ nghĩa Mác Lê Nin.
Trên cơ sở học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản
chủ nghĩa, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư, “ Mác hoàn toàn
dựa vào và chỉ dựa vào những quy luật kinh tế của sự vận động của
xã hội hiện đại mà kết luận rằng xã hội tư bản chủ nghĩa nhất định
sẽ biến thành xã hội xã hội chủ nghĩa. Việc xã hội hóa lao động
ngày càng tiến nhanh thêm dưới muôn vàn hình thức, đã biểu hiện
rõ ràng ở sự phát triển của đại công nghiệp,…đấy là cơ sở vật chất
chủ yếu cho sự ra đời không thể tránh khỏi của chủ nghĩa xã hội.
Hình thành một cách đồng thời với chủ nghĩa xã hội là sự ra đời
của nhà nước xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng, chức năng và
nhiệm vụ nhất định .

1

trào hiến chương, Cuộc cách mạng tư sản 1848 mang tính toàn
châu Âu). Đó là những chất liệu quý giá cho sự hình thành các học
thuyết của Các Mác.
- Về tiền đề lý luận: Các Mác đã dựa vào kinh tế chính trị tư
sản cổ điển Anh ( W. Petty, A.Smith, D.Ricardo), chủ nghĩa xã hội
không tưởng của Pháp, Triết học cổ điển Đức (Hêghen và
Phoiơbắc).

2


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

Với bối cảnh ra đời trên, học thuyết giá trị thặng dư của
C.Mác được trình bày từ phần IV đến phần V trong quyển 1 và từ
phần I đến phần III trong quyển 3 của Bộ "Tư bản"
II, Nội dung cơ bản học thuyết giá trị thặng dư của chủ nghĩa
Mác.
Học thuyết giá trị thặng dư nghiên cứu trực tiếp sự tồn tại và
phát triển của quan hệ sản xuất Tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật
giá trị thặng dư với tư cách là quy luật kinh tế tuyệt đối (hay quy
luật kinh tế cơ bản) của xã hội Tư bản, nghiên cứu hình thức biểu
hiện của giá trị thặng dư mà trước tiên là lợi nhuận và lợi nhuận
bình quân.
Nội dung cơ bản của học thuyết giá trị thặng dư của Mác thể
hiện cụ thể như sau:
- Sự chuyển hóa tiền tệ thành tư bản.
- Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tuyệt đối.
- Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối.
- Mối quan hệ và sự khác biệt giữa sản xuất ra giá trị thặng

đích của lưu thông T-H-T’ là sự lớn lên của giá trị thặng dư, nên sự
vận động T-H-T’ là không có giới hạn vì sự lớn lên của giá trị là
không có giới hạn.
Sự vận động của mọi tư bản đều biểu hiện trong lưu thông
theo công thức T-H-T’, do đó công thức này được gọi là công thức
chung của tư bản.
Tiền ứng trước, tức là tiền đưa vào lưu thông, khi trở về tay
người chủ của nó thì thêm một lượng nhất định (T). Vậy có phải do
bản chất của lưu thông đã làm cho tiền tăng thêm, và do đó mà
hình thành giá trị thặng dư hay không?
Thật vậy trong lưu thông nếu hàng hoá được trao đổi ngang
giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, còn tổng số giá trị,
cũng như phần giá trị thuộc về mỗi bên trao đổi là không đổi. Về
mặt giá trị sử dụng trong trao đổi của hai bên là không có lợi gì.
Như vậy, không ai có thể thu được từ lưu thông một lượng lớn hơn
lượng giá trị đã bỏ ra (Tức là chưa tìm thấy T).
C.Mác cho rằng trong xã hội tư bản không có bất kỳ một nhà
tư bản nào chỉ đóng vai trò là người bán sản phẩm mà lại không
phải là người mua các yếu tố sản xuất. Vì vậy khi anh ta bán hàng
hoá cao hơn giá trị vốn có của nó, thì khi mua các yếu tố sản xuất ở
đầu vào các nhà tư bản khác cũng bán cao hơn giá trị và như vậy
cái được lợi khi bán sẽ bù cho cái thiệt hại khi mua. (Cuối cùng
vẫn không tìm thấy nguồn gốc sinh ra T)
Nếu hàng hoá được bán thấp hơn giá trị, thì số tiền mà người
đó sẽ được lợi khi là người mua cũng chính là số tiền mà người đó
sẽ mất đi khi là người bán. Như vậy việc sinh ra T không thể là kết
quả của việc mua hàng thấp hơn giá trị của nó.
4



của mình như một hàng hóa.
Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư
liệu sản xuất, để tồn tại buộc anh ta phải bán sức lao động của
mình để sống.
Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao
động thành hàng hóa.
2, Sự sản xuất ra giá trị thặng dư.
5


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

A,Bản chất giá trị thặng dư:
Nói chung, trong nền sản xuất hàng hoá dựa trên chế độ tư
hữu về tư liệu sản xuất, giá trị sử dụng không phải là mục đích. Giá
trị sử dụng được sản xuất chỉ vì nó là vật mang giá trị trao đổi.
Nhà tư bản muốn sản xuất ra một giá trị sử dụng có một giá trị trao
đổi, nghĩa là một hàng hoá. Hơn nữa, nhà tư bản muốn sản xuất ra
một hàng hoá có giá trị lớn hơn tổng giá trị những tư liệu sản xuất
và giá trị sức lao động mà nhà tư bản đã bỏ ra để mua, nghĩa là
muốn sản xuất ra một giá trị thặng dư.
Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa
quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị
thặng dư. C.Mác viết: “ Với tư cách là sự thống nhất giữa hai quá
trình lao động và quá trình tạo ra giá trị thì quá trình sản xuất là
một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa
quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản
xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, là hình thái tư bản
chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”.
Quá trình lao động với tư cách là quá trình nhà tư bản tiêu

Giá 10 kg bông
10
nhân bảo tồn và chuyển
10
đôla
giá trị 10 kg bông vào 10 đôla
kg sợi.
Hao mòn máy móc
2 đôla Khấu hao tài sản cố định 2
đôla
Tiền thuê sức lao
4 4 đôla Giá trị mới do 8 giờ lao
8
động trong một ngày
động của người công
đôla
nhân tạo ra
Tổng chi phí sản
xuất

16
đôla

Tổng doanh thu

20
đôla

Nhà tư bản đối chiếu giữa doanh thu sau khi bán hàng (20
đôla) với tổng chi phí tư bản ứng trước quá trình sản xuất (16 đôla)

giá trị sức lao động hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho
mình (4 đôla).
Phần thời gian còn lại là thời gian lao động thặng dư: Trong
thời gian lao động thặng dư người công nhân lại tạo ra một lượng
giá trị lớn hơn giá trị sức lao động hay tiền lương nhà tư bản đã trả
cho mình, đó là giá trị thặng dư (4 đôla) và bộ phận này thuộc về
nhà tư bản (nhà tư bản chiếm đoạt).
Từ đó, Mác đi đến khái niệm về giá trị thặng dư:
Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra bên ngoài giá trị sức lao
động do công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị nhà tư bản chiếm
đoạt.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư là quá trình sản xuất ra
giá trị vượt khỏi điểm mà ở đó sức lao động của người công nhân
đã tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng với giá trị sức lao động
hay mức tiền công mà nhà tư bản đã trả cho họ. Thực chất của sản
xuất giá trị thặng dư là sản xuất ra giá trị vượt khỏi giới hạn tại
điểm đó giá trị sức lao động được trả ngang giá.
B- Phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối:
Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối được tiến hành bằng cách
kéo dài tuyệt đối thời gian lao động trong ngày của người công
nhân trong điều kiện thời gian lao động cần thiết (hay mức tiền
công mà nhà tư bản trả cho công nhân là không đổi).
Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao
động cần thiết và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình
8


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

độ bóc lột của nhà tư bản là 100%. Giả định ngày lao động được

gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng dư trong trường
hợp đó cũng thay đổi. Khi đó thời gian lao động cần thiết là 2 giờ,
thời gian lao động thặng dư là 6 giờ, trình độ bóc lột của nhà tư
bản lúc này là 300%
(m’ = 300%).
9


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

Để có thể rút ngắn thời gian lao động cần thiết thì các nhà tư
bản phải tìm mọi biện pháp, đặc biệt là phải áp dụng tiến bộ và
công nghệ vào trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất lao
động xã hội, giảm giá thành và tiến tới giảm giá cả thị trường của
sản phẩm. Đặc biệt nâng cao năng suất lao động xã hội trong
những ngành, những lĩnh vực sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng để
nuôi sống người công nhân. Từ đó tiến tới hạ thấp giá trị sức lao
động.
Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị
thặng dư tuyệt đối chiếm ưu thế, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi mà
kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối chiếm vị trí
chủ yếu. Hai phương pháp trên được các nhà tư bản sử dụng kết
hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê
trong các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản.
3, Quy luật giá trị thặng dư.
Quy luật kinh tế cơ bản của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là
quy luật giá trị thặng dư.
+Quy luật giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ
nghĩa tư bản bởi vì nó quy định bản chất của nền sản xuất tư bản
chủ nghĩa, chi phối mọi mặt đời sống kinh tế của xã hội tư bản.

bản ra sức áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến sản xuất. Từ
đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, nền sản xuất
có tính chất xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn giữa tính chất xã
hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa
ngày càng gay gắt.
Kết Luận:
Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa không phải là sản xuất
ra giá trị sử dụng, mà là sản xuất ra giá trị thặng dư, là nhân giá trị
lên. Theo đuổi giá trị thặng dư bằng bất cứ thủ đoạn nào là mục
đích, động cơ thúc đẩy sự hoạt động của mỗi nhà tư bản, cũng như
của toàn bộ xã hội tư sản. Sản xuất ra giá trị thặng dư quả thực là
động lực vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
C.Mác viết: “ Mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm giàu,
là nhân giá trị lên, làm tăng giá trị, do đó bảo tồn giá trị trước kia
và tạo ra giá trị thặng dư”.
Để sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa, các nhà tư bản tăng cường
bóc lột công nhân làm thuê không phải bằng cưỡng bức siêu kinh
tế (roi vọt), mà bằng cưỡng bức kinh tế (kỷ luật đói rét) dựa trên
cơ sở mở rộng sản xuất, phát triển kỹ thuật để tăng năng suất lao
động, tăng cường độ lao động và kéo dài ngày lao động.
Vậy sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của
chủ nghĩa tư bản. C.Mác viết: “ Việc tạo ra giá trị thặng dư, đó là
quy luật tuyệt đối của phương thức sản xuất đó”. Nội dung chủ yếu
của quy luật này là để thu được giá trị thặng dư một cách tối đa,
11


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

nhà tư bản đã tăng số lượng lao động làm thuê và tìm mọi thủ đoạn

cấp, nhưng vì lợi ích của tất cả những người lao dộng tức là tuyệt
đại đa số nhân dân; thực hiện sự trấn áp đối với những lực lượng
chống đối, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủn nghĩa.
12


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

Ba là, trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và trấn áp,
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê Nin vẫn xem mặt tổ chức,
xây dựng là đặc trưng cơ bản của nhà nước xã hội chủ nghĩa, của
chuyên chính vô sản. V.I.Lê Nin cho rằng, chuyên chính vô sản
không phải chủ yếu là bạo lực mà mặt cơ bản của nó là tổ chức,
xây dựng toàn diện xã hội mới – xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa.
Bốn là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là yếu tố cơ bản cảu nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Theo V.I.Lê Nin, con đường vận động, phát
triển của nó ngày càng hoàn thiện các hình thức đại diện của nhân
dân, ,mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân
dân tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội.
Năm là, nhà nước xã hội chủ nghĩa là một kiểu nhà nước đặc
biệt, “nhà nước không còn nguyên nghĩa”, là “nửa nàh nước”. Sau
khi những cơ sở kinh tế - xã hội cho sự tồn tại của nhà nước mất đi
thì nhà nước cũng không còn, nhà nước “tự tiêu vong”. Đây cũng
là một đặc trưng nổi bật của nhà nước vô sản.
Những đặc trưng cơ bản đó cho thấy chức năng, nhiệm vụ của
nhà nước xã hội chủ nghĩa biểu hiện tập trung ở việc quản lý xã
hội trên tất cả các lĩnh vực bằng pháp luật.
Chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa được thực hiện cả
bằng tổ chức có hiệu quả công việc xây dựng toàn diện xã hội mới,

nhiệm vụ chính là: quản lý kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế,
cải thiện không ngừng đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,
quản lý văn hóa- xã hội, xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa,
thực hiện giáo dục- đào tạo con người phát triển toàn diện, chăm
sóc sức khỏe nhân dân... Ngoài ra, nhà nước xã hội chủ nghĩa còn
có chức năng, nhiệm vụ đối ngoại nhằm mở rộng quan hệ hợp tác
hữu nghị, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì sự phát triển và tiến bộ
xã hội đối với nhân dân các nước trên thế giới.
Từ thực tế xây dựng xã hội mới ở nước Nga Xôviết, V.I.Lênin
đã làm rõ nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa trên hai lĩnh
vực kinh tế và xã hội.
Đối với lĩnh vực kinh tế, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
nhà nước vô sản là phải nhanh chóng phát triển mạnh số lượng sản
phẩm, củng cố ký luật lao động mới và nâng cao năng suất lao
động.
Đối với lĩnh vực xã hội, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải xây
dựng được quan hệ xã hội mới, hình thành những tổ chức lao động
mới, tập hợp được đông đảo những người lao động có khả năng
vận dụng những thành tựu khoa học- kỹ thuật vào sản xuất, thực
hiện từng bước cải tạo những người tiểu sản xuất hàng hóa thông
qua những tổ chức thích hợp.
II, Liên hệ với Việt Nam

14


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước đặc
biệt với những đặc trưng cơ bản sau đây:

6. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước do
Đảng cộng sản Việt nam lãnh đạo. Đây là đặc điểm đặc
trưng, cơ bản, rất quan trọng mang tính lý luận và đã
15


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

được kiểm chứng bằng thực tế lịch sử của cách mạng
Việt Nam.
7. Với những đặc trưng nêu trên, nhà nước pháp quyền của
chế độ ta thể hiện những tư tưởng quan điểm tích cực,
tiến bộ, phản ánh ước mơ và khát vọng của nhân dân đối
với công lý, tự do, bình đẳng trong một xã hội còn giai
cấp.
Những đặc trưng cơ bản đó cho thấy chức năng của nhà nước xã
hội chủ nghĩaViệt Nam là:
+) Quản lý xã hội trên tất cả các lĩnh vực bằng pháp luật.
+) Tổ chức có hiệu quả công việc xây dựng toàn diện xã hội
mới, cả bằng việc sử dụng những công cụ bạo lực để đập tan sự
phản kháng của kẻ thù chống lại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội, bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước, giữ vững an ninh xã
hội.
+) Cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa
và cộng sản chủ nghĩa .
+) Chức năng giai cấp và chức năng xã hội:
Chức năng giai cấp : Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là công cụ chuyên chính của giai cấp nhất định .
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân dân định
đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận

mối liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân,
đồng thời đấu tranh không khoan nhượng, trừng trị kịp thời mọi
hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội”, Đảng ta đã chỉ rõ: “Nhà nước có mối liên hệ
thường xuyên và chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý
kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và
biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham
nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm, xâm phạm quyền dân chủ của
nhân dân
+) Tổ chức và quản lý kinh tế, Nước ta xây dựng chủ nghĩa
xã hội bắt đầu từ một nền kinh tế chậm phát triển, còn phổ biến là
sản xuất nhỏ, nên nhiệm vụ tổ chức, quản lý kinh tế của nhà nước
là hết sức khó khăn, phức tạp, chính vì thế mà nhiệm vụ phát triển
kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt và là một nhiệm vụ khá mới mẻ.
Trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, trình độ của lực
lượng sản xuất còn thấp, song song với đó lại phải vừa thực hiện
nhiệm vụ giữ vững an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội,
vừa phải bảo đảm ổn định và cải thiện không ngừng đời sống nhân
dân về mọi mặt, nhiệm vụ tổ chức, xây dựng của Nhà nước ta càng
trở nên nặng nề.
+) Tổ chức và quản lý văn hoá, khoa học, giáo dục. Xã hội
xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng là “xã hội dân giàu,
17


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ;
có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại

cơ bản
của chủ nghĩa Mác Lê
Nin ?..............................................................Trang 2
18


Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê Nin

Câu 2 : Đặc trưng, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ
nghĩa, liên hệ với nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt
Nam ?..................................Trang 10

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status