ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÝ THỊ HỒNG AN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ CẦN THƠ LÃNH
ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỪ
NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2012
0
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ
LÝ THỊ HỒNG AN
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ CẦN THƠ LÃNH
ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO TỪ
NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt
Nam
Mã số: 60 22 56
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Trần Kim Đỉnh
HÀ NỘI - 2012
: Giáo dục nghề nghiệp
GDTX
: Giáo dục thƣờng xuyên
GDMN
: Giáo dục Mầm non
MN
: Mầm non
PCGD
: Phổ cập giáo dục
TCCN-DN : Trung cấp chuyên nghiệp – dạy nghề
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
UBND
BẢNG QUY ƢỚC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CNTT
: Công nghệ thông tin
ĐBSCL
: Đồng bằng sông Cửu Long
GDCN
: Giáo dục chuyên nghiệp
GD - ĐT
: Giáo dục - đào tạo
GDTH
: Giáo dục tiểu học
GDNN
: Giáo dục nghề nghiệp
: Ủy Ban nhân dân
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại phát triển nhanh, đã
bƣớc sang một giai đoạn mới.Tri thức và thông tin đã trở thành yếu tố hàng
đầu, là nguồn tài nguyên có giá trị nhất.Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở
thành nhân tố quyết định, là nguồn tài nguyên không gì thay thế đƣợc đối với
sự phát triển kinh tế xã hội. Các nƣớc trên thế giới kể cả các nƣớc đang phát
triển đều coi giáo dục là nhân tố quyết định đối với sự phát triển nhanh và bền
vững của mỗi quốc gia. Trong trật tự kinh tế mới đất nƣớc nào đầu tƣ nhiều
nhất cho giáo dục, nƣớc đó có cạnh tranh mạnh nhất. Năm 1994 UNESCO
cũng đã chỉ rõ: Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự
tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó và những quốc
gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm
giáo dục một cách hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem nhƣ đã an bài và
điều đó còn tệ hơn cả sự phá sản.
Đặc biệt ở nƣớc ta, thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải đồng
thời thực hiện hai nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là chuyển biến từ nền kinh tế
nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và tận dụng cơ hội “đi tắt đón đầu”
để đi thẳng vào những ngành sử dụng công nghệ cao của nền kinh tế tri thức,
cùng với sự phát triển nhanh nhƣ vũ bão của khoa học, công nghệ và xu
hƣớng hội nhập, cạnh tranh gay gắt của thế giới ngày nay, hai nhiệm vụ đó
đặt ra những đòi hỏi mới và những thách thức to lớn đối sự phát triển giáo dục
và đào tạo cả nƣớc.
Với tình hình ấy, ở nƣớc ta hiện nay phát triển sự nghiệp GD - ĐT là
rất cần thiết. Ngày 19/2/1996 đồng chí Tổng Bí Thƣ Đỗ Mƣời phát biểu tại
6
tạo, nguồn nhân lực đầu ra, nguồn đào tạo chƣa đáp ứng nhu cầu của xã hội,
nhiều tiêu cực trong giáo dục , cơ sở vật chất chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu…
Để góp phần vào việc làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ
thành phố Cần Thơ trong sự nghiệp GD - ĐT đặc biệt trong giai đoạn mới là
thành phố trực thuộc Trung ƣơng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ
thành phố Cần Thơ lãnh đạo sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo từ năm 2004
đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Lịch sử - chuyên ngành
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề giáo dục đào tạo là mối quan tâm chung của toàn xã hội, đã có
nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục chung của cả nƣớc cũng nhƣ ở từng
khu vực riêng biệt, trong đó có thành Phố Cần Thơ.
Nhóm nghiên cứu thứ nhất:
- Hai tác giả Đào Thanh Hải - Minh Tiến đã sƣu tầm, tuyển chọn những
quan điểm tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh về giáo dục qua quyển: Tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về giáo dục (2005), Nxb Lao Động, Hà Nội.
- Nguyễn Quang Ân, Trƣơng Quang Quật, Lê Danh (1968), Một số
kinh nghiệm lãnh đạo giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hƣng (2004), Giáo dục Việt Nam
hƣớng tới tƣơng lai vấn đề và giải pháp, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.
- Trịnh Văn Chung, Nguyễn Quang Hƣng, Vũ Thị Hƣơng Giang
(2000), Toàn cảnh Giáo dục - Đào Tạo Việt Nam, Nxb Chính Trị Quốc Gia,
Hà Nội.
- Nguyễn Tiến Đạt (2004), Kinh nghiệm và thành tựu phát triển giáo
dục và Đào tạo trên thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
Những tác giả trên đã đề cập nhiều đến những nét chung về nền giáo
dục của Việt Nam qua mỗi thời kỳ với những bƣớc tiến của nó, đã hệ thống
8
- Bộ giáo dục - Đào tạo (1995), 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục
và đào tạo (1945 - 1995), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Chiến lƣợc phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các
quốc gia (2002), Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội.
- Chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001-2010 (2002), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Lê Văn Lạng (2003), Lịch sử giản lƣợc hơn 1000 năm nền giáo dục
Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội.
Nhóm nghiên cứu thứ hai: các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sỹ.
-Trần Xuân Hải (2001), Giải pháp tạo nguồn vốn đầu tƣ phát triển sự
nghiệp giáo dục đào tạo hiện nay ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học
Quốc Gia, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Lâm Sính (1999), Đảng bộ Lâm Đồng lãnh đạo xây dựng
phát triển giáo dục phổ thông trong những năm 1986 -1996, Luận văn thạc sỹ,
ĐHQG Hà Nội.
- Trần Hữu Phƣớc (2000), Vai trò của giáo dục - đào tạo đối với việc
phát triển nguồn lực con ngƣời trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Quảng Ninh, ĐHQG Hà Nội, luận văn thạc sỹ.
Đa số các tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học luận văn thạc sỹ
hay luận án tiến sỹ đều nhấn mạnh tầm quan trọng vai trò của GD - ĐT để
phát triển nguồn lực con ngƣời phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội, về
những vấn đề xoay quanh sự nghiệp GD - ĐT nhất là trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở từng địa phƣơng.
Nhóm nghiên cứu thứ ba:
Các bài viết, báo cáo, nghiên cứu xoay quanh vấn đề giáo dục ở thành
phố Cần Thơ nhƣ:
- Tác giả Minh Nguyệt có bài viết trên báo “Cần Thơ 1975 - 2000” với
bài “Đại học Cần Thơ đơn vị cung cấp nguồn nhân lực chủ yếu cho Đồng
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Làm rõ đƣợc vai trò lãnh đạo phát triển Giáo dục - đào tạo của Đảng bộ
thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến năm 2010.Trên cơ sở đó tác giả tổng kết
thành tựu và phân tích một số kinh nghiệm thực tiễn.
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Trình bày một cách có hệ thống quá trình lãnh đạo của Đảng bộ thành
phố Cần Thơ vận dụng chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng vào thực tiễn địa
phƣơng để phát triển giáo dục đào tạo từ năm 2004 đến 2010.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Cần Thơ về sự nghiệp giáo dục đào
tạo thể hiện ở những chủ trƣơng, biện pháp và tổ chức thực hiện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
Đề tài nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Cần Thơ đối
với sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo.
Về không gian và thời gian:
Luận văn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến
năm 2010.
5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Văn kiện của Đảng bộ tỉnh Cần Thơ từ năm 1996 đến năm 2004.
- Văn kiện Đảng bộ thành phố Cần Thơ từ năm 2004 đến năm 2010.
- Tài liệu của Ủy Ban nhân dân, Hội đồng nhân dân và tài liệu của các
Sở, Ban, Ngành thành phố Cần Thơ.
11
ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH
1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Cần Thơ
Cần Thơ là một vùng đất đƣợc hình thành vào khoảng cuối thế kỷ 17,
đầu thế kỷ 18. Năm 1698 khi Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn lập ra
phủ Gia Định - đơn vị hành chính đầu tiên của vùng Nam Bộ - thì khu vực
Nam sông Hậu (gọi là miền Hậu Giang) về căn bản vẫn là một vùng hoang hóa.
Đến năm 1757 công cuộc khai phá vùng Nam bộ căn bản đã hoàn
thành. Cuối năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng cho chia
vùng Nam Bộ ra làm 6 tỉnh gọi là “Nam Kỳ lục tỉnh” : Biên Hòa, Gia Định,
Định Tƣờng, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Khu vực Cần Thơ lúc ấy là
huyện Phong Phú, phủ Tuy Biên, tỉnh An Giang.
Ngày 30/4/1872 Thống đốc Nam kỳ ra Nghị định nhập huyện Phong
Phú (Cần Thơ) với Bắc Tràng thuộc phủ Lạc Hóa (Trà Vinh) để lập ra hạt Trà
Ôn (tòa Bố Chánh đặt tại Trà Ôn). Đến ngày 23/2/1876, Pháp cho thành lập
hạt Cần Thơ với tỉnh lỵ là Cần Thơ.
Năm 1889, các hạt đƣợc đổi thành tỉnh. Tỉnh Cần Thơ có số dân
214.700 ngƣời Việt và 101 ngƣời Âu.
Năm 1956, Chính quyền Ngô Đình Diệm chia Nam Bộ ra làm 26 tỉnh.
Ngày 22/10/1956, chính quyền Diệm ra sắc lệnh đổi tên tỉnh Cần Thơ thành
Tỉnh Phong Dinh.
Ngày 30/9/1970 Chính quyền Sài Gòn lập thị xã Cần Thơ.
Trong thời kỳ này Cần Thơ luôn đóng vai trò là phủ thủ của Miền Tây
Nam Bộ (Tây Đô).
Sau năm 1975, tỉnh Cần Thơ bao gồm tỉnh Phong Dinh và một phần
tỉnh Chƣơng Thiện. Thành phố Cần Thơ là đơn vị hành chính tƣơng đƣơng
13
cấp tỉnh. Đến tháng 2/1976, Hội đồng chính phủ quyết định thành lập tỉnh
đặc điểm chung là nóng ẩm và mƣa theo mùa.
Thành phố Cần Thơ là khu vực có mạng lƣới sông rạch khá cao.
Về cơ bản thành phố Cần Thơ là một vùng đƣợc thiên nhiên ƣu đãi với
địa hình đồng bằng cao và tƣơng đối bằng phẳng, đất phù sa màu mở và có
nƣớc ngọt quanh năm, chế độ khí hậu ổn định, không có thiên tai lớn nhƣ bão,
lũ lụt…
Thành phố Cần Thơ có hệ thống giao thông: Quốc lộ 91 từ Cần Thơ đi
An Giang, quốc lộ 80 từ Cần Thơ đi Kiên Giang, Quốc lộ 1A, từ Cần Thơ đi
các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhƣ Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Quốc
lộ 1 bị ngăn cách bởi sông Hậu, một bên là Vĩnh Long, một bên là thành phố
Cần Thơ, việc giao thông giữa hai bên bờ phụ thuộc vào phà Cần Thơ, ngày
24/4/2010 cầu Cần Thơ đã chính thức đƣợc thông xe.
Về đƣờng thuỷ, một bộ phận của sông MêKông chảy qua 6 quốc gia,
đặc biệt là phần trung và hạ lƣu chảy qua Lào, Thái Lan và Campuchia. Các
tàu có trọng tải lớn (trên 1.000 tấn) có thể đi đến các nƣớc và đến Cần Thơ dễ
dàng. Ngoài ra tuyến Cần Thơ - Xà No - Cái Tƣ là cầu nối quan trọng giữa
thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và Cà Mau.
Ngoài đặc trƣng về địa lý là đầu mối giao thông quan trọng giữa các
tỉnh trong khu vực ĐBSCL. Thành phố Cần Thơ đƣợc ví nhƣ “đô thị miền
sông nƣớc”. Loại hình du lịch sông nƣớc, cùng với chợ nổi Cái Răng - chợ
mua bán trên sông một nét đặc trƣng của văn hoá Nam Bộ.
Về dân tộc, tôn giáo ở thành phố Cần Thơ có nhiều nét đặc sắc, độc đáo
của văn hóa đồng bằng Nam Bộ đƣợc kết hợp hài hòa các sắc thái văn hoá
truyền thống của ngƣời Việt, Khơmer, Hoa… Sự giao thoa giữa các nền văn
hóa của ngƣời Việt (Kinh), Khơmer, Hoa lại chịu ảnh hƣởng của văn hoá
15
phƣơng Tây từ sau khi Pháp chiếm xong Nam Kỳ lục tỉnh càng làm cho tính
Lƣu Hữu Phƣớc, Châu Văn Liêm, Phan Ngọc Hiển…
Những năm đầu thế kỷ XX Pháp đã xây dựng một trƣờng tiểu học tại
Cần Thơ với hai dãy nhà cao 2 tầng. Trƣờng này khánh thành và mở khoá học
đầu tiên vào năm 1917. Trƣờng đã thu hút nhiều học sinh từ Vĩnh Long, An
Giang, Bạc Liêu, Cà Mau…tới học. Trƣờng dạy bằng tiếng Pháp và tiếng
Việt, có ký túc xá cho sinh viên nội trú. Nay là trƣờng Trung học Phổ Thông
Châu Văn Liêm. Từ mái trƣờng này, nhiều thế hệ thầy trò đã có những đóng
góp to lớn cho đất nƣớc đáng kể nhất là Châu Văn Liêm, Ung Văn Khiêm, Hồ
Bá Phúc, Lƣu Hữu Phƣớc, Lƣơng Đình Của, Phạm Văn Bạch, Nguyễn Văn
Khiết…
Trong thời Pháp thuộc, ở Cần Thơ cũng đã có phong trào truyền bá chữ
quốc ngữ. Đến năm 1941 “Hội truyền bá chữ quốc ngữ” ở Cần Thơ đƣợc
thành lập.
Năm 1948, trƣờng Tiểu học Cần Thơ đƣợc thành lập trong vùng kháng
chiến, số học sinh tiểu học do trƣờng đào tạo đã góp phần cung cấp lực lƣợng
có văn hoá cho toàn tỉnh.
Năm 1963, Tiểu ban giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Tỉnh Đảng bộ
Cần Thơ đƣợc thành lập, trực thuộc Tỉnh uỷ.
Cũng năm 1963, trƣờng Sƣ phạm cấp I, trƣờng phổ thông nội trú Tây
Đô, trƣờng Nguyễn Việt Hồng đƣợc xây dựng nhằm đào tạo giáo viên cho
vùng giải phóng. Hệ thống giáo dục của Cần Thơ cũng nằm trong hệ thống
giáo dục của khu 9 (miền Tây Nam Bộ). Đây là những trƣờng học nhƣng
đồng thời cũng là những đơn vị tuyên truyền vũ trang và đã có nhiều đóng
góp trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.Trong điều kiện khó khăn của
“thế cài răng lƣợc”, hệ thống giáo dục cách mạng trong vùng kháng chiến vẫn
phát triển.Trong bom đạn, các lớp học trong cơ quan, đơn vị bộ đội…vẫn
17
đƣợc duy trì với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt. Xoá nạn mù chữ, nâng
- 2000 là giáo dục đào tạo phải nhằm phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội theo hƣớng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và phát
triển nông thôn của tỉnh. Giữ vai trò nòng cốt của các trƣờng công lập, đồng
thời khuyến khích phát triển có chất lƣợng các trƣờng bán công dân lập, bán
trú, tƣ thục mầm non và dạy nghề. Tiếp tục mở rộng và phát triển các hình
thức giáo dục thƣờng xuyên, đẩy mạnh hơn nữa đào tạo công nhân lành nghề.
Nhiệm vụ cao nhất của giáo dục - đào tạo là tiếp tục mở rộng quy mô,
nâng cao chất lƣợng và hiệu quả, tạo điều kiện cho mọi ngƣời có nhu cầu đều
đƣợc học tập.
“Phấn đấu hoàn thành chuẩn quốc gia về xóa mù chữ - phổ cập giáo
dục tiểu học trong toàn tỉnh vào năm 1998. Sau khi hoàn thành xóa mù chữ phổ cập giáo dục tiểu học, thành phố Cần Thơ, các thị trấn, vùng dân cƣ tập
trung tiến hành phổ cập Trung học cơ sở. Mở rộng giáo dục Mầm non theo
hình thức trƣờng lớp đa dạng, nâng tỷ lệ trẻ từ 5 tuổi học chƣơng trình mẫu
giáo từ 46% hiện nay lên 80% năm 2000. Tăng tỷ lệ học sinh tiểu học từ 6 14 tuổi từ 89% hiện nay lên 95,8% vào năm 2000, với 75% ở độ tuổi 14 tốt
nghiệp. Thu hút hầu hết trẻ em vào trƣờng và có trên 80% ở độ tuổi tốt nghiệp
vào những năm tiếp theo. Giảm tỷ lệ lƣu ban, bỏ học ở Tiểu học xuống dƣới
2% (hiện nay 2,8%). Học lực: tăng tỷ lệ giỏi, khá; giảm yếu kém dƣới 8%
(hiện nay 12,3%)” [73, tr. 6].
Mở rộng giáo dục nghề nghiệp (GDNN), giáo dục thƣờng xuyên
(GDTX) với các hình thức tổ chức (tập trung, bán tập trung, tại chức, từ xa,
du học tự túc…) và phƣơng thức dạy học dạng chuyên môn nghiệp vụ, ngoại
ngữ, tin học, tạo điều kiện cho mỗi ngƣời dân đƣợc học suốt đời.
19
Củng cố, mở rộng trƣờng chuyên bậc phổ thông trung học và các
trƣờng năng khiếu về nghệ thuật, thể thao, trƣờng dạy trẻ khuyết tật, trƣờng
dân tộc nội trú, trƣờng cho các con em gia đình chính sách đƣợc học tập tốt.
“Đào tạo trí thức cơ bản cho học sinh, sinh viên phải đạt đúng chuẩn,
Đại học, Cao đẳng.
Lựa chọn những ngƣời ƣu tú, vững vàng bồi dƣỡng và đào tạo để hình
thành đội ngũ kế cận cần thiết cho lãnh đạo, quản lý của tỉnh.
Ngày 16/4/1999 Tỉnh Ủy Cần Thơ Thông qua Kế hoạch số 14-KH/TU
về tăng cƣờng công tác chính trị, tƣ tƣởng; củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể
quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong các trƣờng học để góp phần
thực hiện thành công định hƣớng chiến lƣợc phát triển GD - ĐT trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi đôi với việc lãnh đạo có hiệu quả các nhiệm
vụ công tác trong trƣờng học.
Đại hội lần thứ IX nhiệm kỳ 1996 - 2000 của Đảng bộ tỉnh Cần Thơ
cũng đã xác định nhiệm vụ của GD - ĐT phải nhằm phục vụ nhiệm vụ phát
triển kinh tế xã hội theo hƣớng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Giữ vững vai trò nòng cốt của các trƣờng
công lập, đồng thời khuyến khích phát triển có chất lƣợng các trƣờng bán
công dân lập, bán trú, tƣ thục mầm non và dạy nghề. Tiếp tục mở rộng quy
mô, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả, tạo điều kiện cho mọi ngƣời có nhu cầu
đều đƣợc học tập. Phấn đấu hoàn thành chuẩn quốc gia về xóa mù chữ phổ
cập giáo dục tiểu học, mở rộng GDNN, GDTX với nhiều hình thức học tập,
chú ý bồi dƣỡng nhân tài chăm lo việc học hành của con em gia đình chính
sách, ngƣời nghèo.
Căn cứ vào Chỉ thị số 61 - CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ Chính Trị
về việc thực hiện phổ cập THCS nhằm nâng cao mặt bằng dân trí một cách
toàn diện, làm cho hầu hết công dân đến 18 tuổi đều tốt nghiệp THCS, kết
21
hợp phân luồng sau cấp học này, tạo cơ sở cho việc đổi mới cơ cấu và nâng
cao chất lƣợng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của đất nƣớc trong những
thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, phát huy cao độ tính độc lập, năng động, sáng tạo
và bản lĩnh chính trị của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
- Chỉ đạo thành lập và củng cố các Ban chỉ đạo chống mù chữ - phổ cập
giáo dục tiểu học; phổ cập giáo dục trung học cơ sở từ cấp tỉnh đến các xã,
phƣờng, thị trấn.
- Chỉ đạo ngành Giáo dục đào tạo tiến hành khảo sát thực trạng trình độ
văn hóa của nhân dân để phục vụ công tác phổ cập trung học cơ sở. Có kế
hoạch củng cố và xây dựng cơ sở vật chất, đầu tƣ cung cấp thiết bị trƣờng học
theo hƣớng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Quy hoạch mạng lƣới trƣờng lớp để mở
rộng quy mô và hoàn thiện mạng lƣới trƣờng Trung học cơ sở, Trung tâm
giáo dục thƣờng xuyên; Trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp hƣớng nghiệp.
Những nơi có điều kiện tách cấp 2 ra khỏi cấp 3, thành lập trƣờng trung học
cơ sở. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ thỏa đáng
đối với giáo viên nói chung và giáo viên tham gia công tác phổ cập giáo dục
trung học cơ sở nói riêng.
- Có kế hoạch cụ thể củng cố, nâng cao năng lực và chất lƣợng đào tạo
giáo viên. Chú ý về đổi mới nội dung và phƣơng pháp giảng dạy, nhằm đảm
bảo đủ về số lƣợng và chuẩn hóa về trình độ của đội ngũ giáo viên, cán bộ
quản lý giáo dục để thực hiện tốt nội dung chƣơng trình phổ cập giáo dục
trung học cơ sở.
- Chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan có trách nhiệm phối hợp, tạo
điều kiện thuận lợi để ngành giáo dục đào tạo và các địa phƣơng thực hiện
hiệu quả công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở.
23
4/ Mặt trận và các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội, các phƣơng tiện
thông tin đại chúng có kế hoạch tuyên truyền, phổ biến thƣờng xuyên, liên tục
chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về nhiệm vụ phổ cập giáo dục trung học cơ
sở; vận động học sinh, giáo viên, nhân dân, tích cực tham gia thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ phổ cập giáo dục trung học cơ sở trƣớc thời hạn, cần có kế