BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
----------
----------
TRẦN VƯƠNG THÔNG
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ
VÀ TÁI ĐỊNH CƯ CỦA HAI DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn
gốc.
Vĩnh Phúc, ngày 30 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
Lời cam đoan...................................................................................................... ii
Lời cảm ơn ........................................................................................................ iii
Mục lục ............................................................................................................. iv
Danh mục các chữ viết tắt................................................................................. vii
Danh mục bảng ............................................................................................... viii
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1 Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................... 1
2 Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 2
3 Yêu cầu của đề tài............................................................................................ 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1 Khái quát những vấn đề liên quan tới chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư ......................................................................................................................................3
1.1.1 Thu hồi đất .......................................................................................... 3
1.1.2 Bồi thường .......................................................................................... 3
1.1.3 Hỗ trợ ................................................................................................. 4
1.1.4 Tái định cư .......................................................................................... 5
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư.......... 7
1.2.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai ...................... 7
1.2.2 Yếu tố giá đất và định giá đất .............................................................. 9
1.2.3 Thị trường bất động sản .................................................................... 11
1.3 Chính sách thu hồi, bồi thường, hỗ trợ,tái định cư của một số nước trên
thế giới ...................................................................................................... 11
1.3.1 Trung Quốc....................................................................................... 11
1.3.2 Nhật Bản ........................................................................................... 15
1.3.3 Thái Lan ........................................................................................... 17
1.3.4 Đánh giá chung ................................................................................. 18
1.4 Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Việt Nam ............. 19
1.4.1. Giai đoạn Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực................................... 19
1.4.2. Giai đoạn Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực................................... 23
3.3.2 Đánh giá việc thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng của 2
dự án nghiên cứu tại huyện Tam Dương ........................................... 51
3.3.3 Đánh giả việc thực hiện các chính sách hỗ trợ khác .......................... 62
3.3.4. Đánh giá kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ của hai dự án ............ 71
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.4. Những giải pháp góp phần đẩy nhanh tiến độ bồi thường, giải phóng
mặt bằng .................................................................................................... 74
3.4.1. Hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai ....................................... 74
3.4.2. Kiện toàn nội dung chính sách về công tác bồi thường, hỗ trợ.......... 75
3.4.3. Tăng cường vai trò cộng đồng trong việc tham gia công tác GPMB........ 76
3.4.4. Nâng cao năng lực cán bộ và hiệu quả làm việc của ban bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư............................................................. 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 79
Kết luận ............................................................................................................ 79
Kiến nghị.......................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 82
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
KCN
Khu công nghiệp
LĐĐ
Luật Đất đai
TĐC
Tái định cư
THCS
Trung học cơ sở
UBND
Ủy ban nhân dân
PTTH
Phổ thông trung học
QSD
Quyền sử dụng
SDĐ
3.4
Bảng giá đất nông nghiệp (dự án 1) ....................................................... 58
3.5
Giá đất ở và vườn( dự án 2) ................................................................... 59
3.6
So sánh giá bồi thường của nhà nước và giá thực tế ............................... 60
3.7
Tổng hợp đơn giá bồi thường về cây cối hoa màu và tài sản, vật kiến
trúc trên đất tại 2 dư án .......................................................................... 62
3.8
Ý kiến của người dân về giá bồi thường về đất và tài sản trên đất: ......... 63
3.9
Các khoản hỗ trợ của 2 dự án ................................................................. 66
3.10
Quan điểm của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các
chính sách hỗ trợ.................................................................................... 66
độ nhưng ngược lại có thể trở thành rào cản và luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khiếu
kiện, mất ổn định an ninh vì khi thực hiện công tác này đã làm phát sinh quyền,
nghĩa vụ và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, chủ đầu tư và đặc biệt
là đời sống vật chất, tinh thần của người dân có đất bị thu hồi.
Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, Luật Đất đai được ban hành
và điều chỉnh, sửa đổi; Chính phủ, các Bộ, Ngành đã ban hành nhiều Nghị định,
Thông tư hướng dẫn, qui định về chính sách BTHT và TĐC, về quản lý đất đai.
Đặc biệt từ khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời và có hiệu lực, các Nghị định và
Thông tư qui định và hướng dẫn về chính sách BTHT và TĐC khi nhà nước thu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
hồi đất được ban hành về cơ bản đã quán triệt được được các quan điểm của
Đảng và Nhà nước về quản lý đất đai, phục vụ kịp thời và trực tiếp nhằm cải
thiện môi trường đầu tư, khai thác các nguồn lực từ đất đai cho đầu tư và phát
triển, đẩy mạnh phân cấp cũng như tăng cường trách nhiệm cho các cấp, các
ngành, đồng thời khắc phục cơ bản những bất cập trong chính sách BTHT, TĐC
và đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân.
Nhận thức đầy đủ về vai trò hết sức quan trọng của công tác GPMB trong
phát triển kinh tế xã hội, những năm qua Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND
tỉnh, các Cấp uỷ, chính quyền địa phương; các ngành đã quan tâm chỉ đạo, đôn
đốc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước về BT, HT và TĐC khi
Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội.
Tuy vậy, công tác bồi thường hỗ trợ và tái định cư vẫn là vấn đề nan giải
và tính thời sự. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực hiện bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư của hai dự án trên địa bàn huyện Tam Dương
tỉnh Vĩnh Phúc” là quan trọng và cần thiết góp phần cho công tác quản lý đất
đai và thúc đẩy cho mục tiêu phát triển xã hội.
đất bị thu hồi những thiệt hại về quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, nhà
ở, tài sản khác gắn liền với đất do việc thu hồi đất gây ra (Quốc hội, 2013). Khái
niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất của Luật Đất đai 2013 được mở
rộng hơn, không chỉ là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với
diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất, mà chính là việc Nhà nước trả lại
những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra.
Khi nói đến thiệt hại, người ta thường xét đến các khía cạnh như: Thiệt hại
về vật chất, thiệt hại về tinh thần cũng được quy về dưới dạng vật chất để xác
định bồi thường trong một số trường hợp cụ thể. Khi Nhà nước thu hồi đất, thiệt
hại được xác định đó là giá trị quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản gắn liền với
đất và những thiệt hại khác gắn liền với cộng đồng dân cư mà họ đang sinh sống
như: Những giá trị văn hóa vật thể cũng như văn hóa phi vật thể được gìn giữ,
bảo tồn qua nhiều thế hệ mà họ đang được hưởng thụ, các cơ sở hạ tầng về xã
hội, y tế, giáo dục,… gắn kết với truyền thống, không gian, các quan hệ láng
giềng, dòng tộc mà họ đang sống (Nguyễn Quang Tuyến, 2009). Vấn đề lý luận
xung quanh khái niệm về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Luật học
số 01/2009..
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Theo truyền thống và văn hóa gia đình của nước ta, đại bộ phận nông dân
hiện nay vẫn xem đất đai, trong đó có đất nông nghiệp là tài sản cơ bản của gia
đình họ; Đồng thời việc kế thừa tài sản về đất đai từ cha mẹ cho con cái là việc
không thể thiếu của gia đình nông dân. Bên cạnh đó, kỳ vọng của người sử dụng
đất nông nghiệp chủ yếu là khai thác hoa lợi từ cây trồng trên đất, chứ không
phải đưa đất ra thị trường bất động sản; do vậy nếu xét theo cách giải thích khái
niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhưu Luật Đất đai 2013 thì việc bồi
luật chưa liệt kê đến. Trong thời gian qua, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy
rằng việc Nhà nước giúp đỡ bằng cách đào tạo nghề mới, cấp kinh phí di dời đến
địa điểm mới là điều có thể thực hiện được. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị
trường thì ý chí của Nhà nước trong việc bố trí việc làm mới chưa trở thành hiện
thực hoàn toàn được mà phụ thuộc vào ý chí của nhà đầu tư theo yêu cầu về số
lượng, chất lượng lao động phù hợp với quy mô và công nghệ sản xuất của họ.
Ngay cả trong Điều 55 của Hiến pháp 1992 cũng chỉ quy định có tính nguyên tắc,
Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao
động, do vậy việc quy định về hỗ trợ nêu trên là phù hợp.
1.1.4 Tái định cư
Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác với nơi ở trước đây để sinh
sống và làm ăn. Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi
Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án phát triển (Ngân
hàng thế giới, 2011). Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự
nguyện ở Việt Nam; phương pháp tiếp cận, định giá đất, giải quyết khiếu nại của
công dân.
Pháp luật Việt Nam không giải thích khái niệm tái định cư, tuy nhiên
nhiều văn bản vẫn quy định về tái định cư. Có thể khái quát rằng, tái định cư là
việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác
trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở. Hình thức tái
định cư bao gồm: Bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền.
Khoản 3 Điều 42 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “UBND tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi
đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển
chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa
bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”.
Khoản 2 Điều 85 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Khu tái định cư tập
trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây
dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
thói quen sinh hoạt, lao động sản xuất của người dân địa phương. Từ đó, dẫn đến
nhiều khu tái định cư đã xây dựng xong nhưng lại bỏ hoang vì những người bị
thu hồi đất không chịu vào ở, hay họ phải bán suất tái định cư, nền tái định cư và
tìm nơi ở khác phù hợp. Vì vậy, yêu cầu trong quy hoạch và xây dựng các khu tái
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
định cư phải bảo đảm xem xét đến tập quán, thói quen sinh sống và lao động sản
xuất của người dân.
Như vậy, nên có khái niệm về tái định cư; và nên quy định các điều kiện
tại khu tái định cư tập trung như sau:
“ Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ nhằm cải
thiện chất lượng cuộc sống, sinh hoạt của người dân, phù hợp với tiêu chuẩn, quy
chuẩn xây dựng và tập quán định cư tại địa phương. UBND tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương có trách nhiệm bảo đảm khu tái định cư phải được hoàn thành
trước khi thực hiện dự án, tạo việc làm cho người dân thuộc khu tái định cư, bảo
đảm cuộc sống tại khu tái định cư ổn định, bền vững ”.
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, hỗ trợ, và tái định cư
1.2.1 Một số yếu tố cơ bản trong quản lý nhà nước về đất đai
1.2.1.1 Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển
của nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai
đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định
cao và phù hợp với tình hình thực tế.
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1993, Chính phủ đã hai lần trình
Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai (1998, 2001) và
Nhà nước ban hành Luật đất đai 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước. Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB cũng luôn được Chính
triển xã hội. Quy hoạch sử dụng đất được xem là một giải pháp tổng thể định
hướng cho quá trình phát triển và quyết định tương lai của nền kinh tế. Thông
qua quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước can thiệp vào các quan hệ đất đai, khắc
phục những nhược điểm do lịch sử để lại hay giải quyết những vấn đề mà quá
trình phát triển đang đặt ra .
Thông qua việc lập, xét duyệt và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất để tổ
chức việc bồi thường GPMB thực sự trở thành sự nghiệp của cộng đồng mà Nhà
nước đóng vai trò tổ chức. Bất kỳ một phương án bồi thường GPMB nào đều dựa
trên một quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là
phương án có hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Quy hoạch sử dụng đất không
chỉ là công cụ “tạo cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất
thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh
trong bồi thường GPMB và cũng là công việc mà hoạt động quản lý nhà nước có
ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
đất đai trên hai khía cạnh:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng
nhất để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà
theo quy định của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi
có quyết định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới
giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường.
1.2.1.3 Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định của các nước, đất đai là một trong các tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu, quyền sử dụng. Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai, người
- Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên
quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử
dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để xác định được giá đất chính xác và đúng đắn chúng ta cần phải có
những hiểu biết về định giá đất. Định giá đất đó là những phương pháp kinh tế
nhằm tính toán lượng giá trị của đất bằng hình thái tiền tệ tại một thời điểm khi
chúng tham gia trong một thị trường nhất định. Hay nói cách khác, định giá đất
được hiểu là sự ước tính về giá trị quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho
một mục đích cụ thể đã được xác định tại một thời điểm xác định. Khi định giá
đất người định giá phải căn cứ vào mục đích sử dụng của từng loại đất tại thời
điểm định giá để áp dụng phương pháp định giá đất cho phù hợp với thực tế.
Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống
như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và
phương pháp thu nhập.
Giá đất tính bồi thường thiệt hại về đất là thước đo phản ánh mối quan hệ
kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và nhà đầu tư. Theo quy định của
Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá thị trường
trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do
các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới
nhiều trường hợp ách tắc về bồi thường đất đai và phát sinh khiếu kiện . Kết quả
kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho
thấy trong 17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348
trường hợp là khiếu nại về bồi thường, GPMB (chiếm 70,64%). Trong các trường
hợp khiếu nại về bồi thường GPMB thì có tới 70% là khiếu nại về giá đất nông
nghiệp bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế trên thị trường
hoặc giá đất ở được giao tại nơi tái định cư lại quá cao so với giá đất ở đã được
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia…thì Nhà nước có chính sách bồi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất. Vấn đề bồi thường cho
người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:
Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người
nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường. Phần lớn tiền bồi
thường do người sử dụng đất trả. Tiền bồi thường bao gồm các khoản như lệ phí
sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu
hồi. Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung quốc còn quy định mức nộp lệ phí trợ cấp
đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang
ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000-2.175.000 nhân
dân tệ/ha.
Các khoản phải trả cho người bị thu hồi đất gồm tiền bồi thường đất đai,
tiền trợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất. Cách tính
tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản
lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy
định. Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo
giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất.
Ở Trung Quốc, Nhà nước quan tâm tới nông dân, tạo điều kiện cho họ
được hưởng những thành quả công nghiệp hóa, đô thị hóa khu thu hồi đất. Khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp hoặc là thu hồi đất ở thuộc khu vực nông thôn
để sử dụng vào mục đích khác thì người nông dân được lưu ý, quan tâm về lợi
ích cũng như được bồi thường một cách hợp lý. Một vấn đề rất quan trọng đó là
gắn công tác bồi thường với việc giải quyết các vấn đề xã hội. Thông thường khi
bị thu hồi đất, người nông dân khó tìm được việc làm thích hợp với khả năng của
mình. Để giải quyết vấn đề này, Trung Quốc đã thực hiện chế độ dưỡng lão đối
lượng lao động dư thừa ở nông thôn trong quá trình đô thị hoá. Trong những năm
đầu đã có đến 20% tổng thu nhập của người dân nông thôn là từ các doanh
nghiệp địa phương. Ở những vùng phát triển hơn, tỷ lệ này lên tới 50%. Đây là
dấu hiệu cất cánh của CNH - HĐH nông thôn Trung Quốc mà ưu tiên hàng đầu
là tạo ra cơ hội việc làm cho lao động dư thừa trong quá trình đô thị hoá.
Tốc độ tăng trưởng cao của các doanh nghiệp địa phương đã tạo ra rất
nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động dư thừa khu vực nông thôn. Ở
Trung Quốc đã xuất hiện hai mô hình công nghiệp hoá nông thôn đó là mô hình
doanh nghiệp tập thể ở thành phố Văn Châu. Mô hình doanh nghiệp tư nhân
đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển công nghiệp ở nông thôn, nhưng còn
thiếu sự tích luỹ vốn ban đầu. Mô hình doanh nghiệp tập thể được hình thành
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
trong thời kỳ đầu của công nghiệp hoá.
- Xây dựng các đô thị vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư vào các
thành phố:
Trung Quốc cho rằng, có hai cách chính để chuyển đổi lao động dư thừa
trong nông thôn: cách thứ nhất là chuyển họ sang các ngành công nghiệp và dịch
vụ ở các vùng nông thôn, cách thứ hai là chuyển họ đến các thành phố.
Năm 1995, có khoảng 60 triệu lao động nông thôn tìm kiếm việc làm ở
các đô thị và hầu hết trong số họ gia nhập vào đội ngũ dân số trôi nổi ở thành phố
lớn. Trong những năm 1990, số lượng nông dân rời bỏ sản xuất nông nghiệp và
đi tìm việc ở nơi khác đã lên tới trên 200 triệu người. Điều cần thiết là phải tạo
thêm các đô thị mới để thu hút họ. Trong bối cảnh đô thị hoá nhanh ở Trung
Quốc, nếu hàng triệu nông dân đổ vào các thành phố sẽ làm phát sinh nhiều vấn
đề như: quá tải về hệ thống giao thông và phá vỡ các dịch vụ xã hội, trong khi đó,
thị trường lao động ở các thành phố đã gần như bão hoà. Sự phát triển các đô thị
Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông “đã đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện TĐC” .
1.3.2 Nhật Bản
Về thu hồi đất
Luật Trưng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951 quy định việc
trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng yếu được
pháp luật cho phép, chẳng hạn đường xá, công viên theo luật quy hoạch đô thị, đê
điều, hồ chứa nước theo luật sông ngòi, cảng biển theo luật cảng biển…
Trình tự trưng dụng như sau: 1/ Xin phép trưng dụng; 2/ Đăng ký đất đai
và công trình trong diện trưng dụng; 3/ Bên trưng dụng và bên bị trưng dụng
thương lượng thoả thuận; 4/ Trình Hội đồng trưng dụng thẩm định; 5/ Ra quyết
định trưng dụng; 6/ Hoàn tất trưng dụng.
Nhật chỉ trưng dụng đất khi giao dịch đất đai thông thường bị trở ngại và
được bộ trưởng xây dựng hoặc tri huyện cho phép khi thấy phì hợp lợi ích công
cộng và hội đủ điều kiện cần thiết.
Việc bồi thường thực hiện bằng tiền. Mức bồi thường tính toán tại thời
điểm công bố trưng dụng, có điều chỉnh cho phù hợp với biến động giá trước lúc
ra quyết định trưng dụng.
* Giải quyết lao động, việc làm trong quá trình thu hồi đất
Quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản cũng bắt đầu bằng thời gian dài
tăng trưởng trong nông nghiệp. Việc chú trọng phát triển công nghiệp thu hút
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
nhiều lao động trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá đã cơ bản giải
quyết được vấn để việc làm cho lao động nông nghiệp, mặc dù diện tích đất canh
tác ngày càng giảm. Sau khi công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển,
các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng. Ngoài ra Nhật Bản còn phân
trường lao động ở tầm vĩ mô, nhưng để có thể tham gia được vào thị trường lao
động thì bản thân mỗi người lao động cũng phải tự phát triển năng lực nghề
nghiệp của mình thông qua việc tự đào tạo lại; các công ty, tổ chức cũng phải
ủng hộ điều này một cách tích cực.
1.3.3 Thái Lan
Pháp luật đất đai Thái Lan cho phép tồn tại hình thức sở hữu tư nhân về
đất đai. Do vậy nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất kỳ
một dự án nào, công trình nào đều phải có sự thoả thuận về sử dụng đất giữa chủ
dự án và chủ sở hữu khu đất trên cơ sở một hợp đồng.
Ở Thái Lan chưa có chính sách đền bù TĐC quốc gia, nhưng tại Hiến
Pháp năm 1982 quy định việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựng cơ sở
hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên cho đất nước, phát triển đô thị,
cải tạo đất đai và các mục đích công cộng khác phải theo thời giá thị trường cho
những người hợp pháp về tất cả các thiệt hại do việc trưng dụng gây ra và quy
định việc đền bù phải khách quan cho người chủ mảnh đất và người có quyền
thừa kế tài sản đó. Dựa trên các qui định này, các ngành có qui định chi tiết cho
việc thực hiện trưng dụng đất của ngành mình.
Năm 1987, Thái Lan ban hành luật về trưng dụng bất động sản áp dụng
cho việc trưng dụng đất phục vụ vào các mục đích xây dựng công cộng, an ninh
quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi ích khác cho đất nước, phát
triển đô thị, nông nghiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai vào các mục đích công
cộng. Luật qui định những nguyên tắc về trưng dụng đất, nguyên tắc tính giá trị
đền bù các loại tài sản bị thiệt hại. Căn cứ vào đó, từng ngành đưa ra các qui định
cụ thể về trình tự tiến hành đền bù TĐC, nguyên tắc cụ thể xác định giá trị đền
bù, các bước lập và phê duyệt dự án đền bù, thủ tục thành lập các cơ quan, uỷ
ban tính toán đền bù TĐC, trình tự đàm phán, nhận tiền đền bù, quyền khiếu nại,
quyền khởi kiện đưa ra toà án. Ví dụ:
Trong ngành điện năng thì cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự
án đền bù TĐC lớn nhất nước, họ đã xây dựng chính sách riêng với mục tiêu: