HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HẢI
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI GÂY HẠI CÔNG
TRÌNH KIẾN TRÚC TẠI KHU ĐÔ THỊ ĐIỂN HÌNH Ở HÀ NỘI
BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG VÀ CHỈ THỊ DNA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HẢI
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI GÂY HẠI
CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TẠI KHU ĐÔ THỊ ĐIỂN HÌNH
Ở HÀ NỘI BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRUYỀN THỐNG VÀ
CHỈ THỊ DNA
Chuyên ngành
: Công nghệ sinh học
Mã số
: 60.42.02.01
Người hướng dẫn khoa học:
biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Văn Hạnh và TS. Đồng Huy Giới là những người
Thầy, đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi
trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Sinh Học, Khoa Công nghệ Sinh học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận
tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Viện Sinh thái và
Bảo vệ công trình – Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành
luận văn./.
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Hải
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
1
1.2
Mục đích nghiên cứu
2
1.3
Phạm vi nghiên cứu
2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
2.1
Tình hình nghiên cứu về mối hại công trình kiến trúc trên thế giới và
Việt Nam
2.1.1
3
Nghiên cứu về thành phần loài mối và đặc điểm gây hại của mối đối
với công trình kiến trúc trên thế giới
ở Hà Nội
15
2.3.1
Khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội khu vực nghiên cứu
15
2.3.2
Tình hình nghiên cứu về mối ở khu vực Hà Nội
17
2.4
Một số đặc điểm sinh học của các loài gây hại chính
18
2.4.1
Loài mối Coptotermes gestroi
18
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
3.2.2
Phương pháp điều tra
24
3.2.3
Phương pháp thu thập mẫu mối
24
3.2.4
Phương pháp định loại mẫu vật bằng hình thái
25
3.2.5
Phương pháp định loại mẫu vật bằng chỉ thị phân tử DNA
26
3.2.6
Phương pháp xác định loài gây hại chính
27
Đặc điểm phân bố của mối trong khu vực nghiên cứu
40
4.1.5
Loài gây hại chính đối với các công trình kiến trúc ở các khu đô thị
điển hình
43
4.1.6
Đề xuất hệ thống giải pháp xử lý mối cho các khu đô thị điển hình
45
4.2
Thảo luận
48
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
50
5.1
Trang
Thành phần loài và tỷ lệ (%) mẫu mối thu được trong các khu đô thị
điển hình tại Hà Nội
28
4.2
Nhóm kích thước của mẫu Coptotermes thu được
31
4.3
Đặc điểm đầu mối lính của các nhóm mối Coptotermes trong quá trình
định loại
32
4.4
Bảng số đo hình thái các mẫu mối với hai dạng đầu
33
4.5
Tổng hợp sự sai khác các Nucleotit
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
2.1
Mối thợ và mối lính Coptotermes gestroi
18
2.2
Mối lính Cryptotermes domesticus
21
2.3
Tổ Cryptotermes domesticus ăn hỏng phần gỗ giác của khung của sổ
23
4.1
39
4.6
Trạm nhử dưới mặt đất
47
4.7
Hàng rào trạm quan trắc mối xung quanh công trình
47
4.8
Trạm nhử mối trên mặt đất đặt ở dưới chân cột gỗ
48
4.9
Trạm nhử mối trên mặt đất đặt ở góc tường công trình
48
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
Nội định loại là Coptotermes gestroi chứ không phải Coptotermes formosanus.
Hai loài gây hai chính cho các khu đô thị điển hình ở Hà Nội và cần phòng trừ là
Coptotermes gestroi và Crytotermes domesticus
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
ABSTRACT
Most studies of termites in Vietnam and specifically in Hanoi, have mostly focused
on termite species identification and their different basic biological and ecological features.
However, this identification was relied on key morphology, hence it might lead to an error
in taxonomy for cases of that several termite species may have the same morphological
features whereas one species could change their morphology in different regions with
different living conditions. Hanoi is the center in economy, culture and polity of Vietnam,
with an ancient history and diverse culture that offers Hanoi a diversified and unique
architecture. With a high speed of urbanization, this city is being full of tube-type
structures or high buildings near the Old Quarter and other new downtowns etc. that
created diversity in urban areas. Termites are the most important among other pests
causing damages for structures, therefore there should be synchronization solution in
controlling termites for urban areas.
After collecting samples in 3 urban areas of Hanoi, we identified termite species
this identification was based on several taxonomy references such as: Sheng et al. 2000,
Nguyen et al. 2007, Ahmad 1958 & 1965. From 450 termite samples in 3 urban areas of
Hanoi, the result has shown the identification of 10 termite species belonging to 6 genus, 3
sub-families and 3 families.. Checking the Coptotermes samples collected in project sites,
we determined 3 species which are C.emersoni, C. gestroi and C. formosanus. According
to Scheffrahn & Su (2011), among those samples, excluding C. emersoni species which
được quan tâm nghiên cứu từ khá sớm và phát triển mạnh mẽ từ thập niên 60, 70
của thế kỷ trước. Các nghiên cứu tập trung chủ yếu vào 3 hướng: khu hệ, biện pháp
phòng trừ và đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài quan trọng.
Công tác nghiên cứu về mối, dù đã có những thành công nhất định nhưng vẫn
còn khá nhiều tồn tại. Về mặt hệ thống học, Việt Nam mới chỉ áp dụng các phương
pháp định loại hình thái, do vậy còn có nhiều tranh cãi trong các nhà khoa học khi
bắt gặp các loài đồng hình. Việc định loại không chính xác dẫn đến việc phòng trừ
không hiệu quả. Trong khi đó, các nghiên cứu về phương pháp phòng trừ mối gây
hại mới chỉ tập trung trên một đối tượng công trình cụ thể và được tiến hành bị động
khi chúng đã gây hại nặng nề cho công trình. Mặt khác, mối loài côn trùng xã hội có
sự lây lan và phát tán trong diện rộng, việc xử lý cục bộ cho từng công trình sẽ tốn
chi phí, không mang lại hiệu quả lâu dài đồng thời lượng hóa chất lớn sẽ làm tăng
gánh nặng đối với môi trường. Do vậy áp dụng giải pháp kiểm mối một cách chủ
động và trên một diện rộng sẽ vừa tiết kiệm chi phí, vừa hiệu quả và giảm tối đa
được lượng hóa chất phải dùng.
Hà Nội là trung tâm hành chính của cả nước, ngoài các nét kiến trúc cổ xưa
thì ngày nay với sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa đã tạo cho Hà Nội đa dạng
và phong phú về các loại hình khu đô thị khác nhau như: các khu đô thị cổ, khu đô
thị mới, khu đô thị sinh thái… Ở mỗi một khu đô thị khác nhau thì sự phân bố về
sinh cảnh, những khu hệ động thực vật nói chung và mối nói riêng là rất khác nhau.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu rõ ràng và cụ thể về phân bố của loài mối gây
hại các công trình kiến trúc trong từng khu đô thị điển hình tại Hà Nội. Đặc biệt ở
Việt Nam công tác phòng trừ mối chỉ được thực hiện cục bộ ở những công trình có
mối. Thực tế, nhiều khu đô thị có mật độ công trình bị mối hại tới 70- 80%, như:
trọng (Su, N-Y. and Scheffrahn, 1990b) bao gồm một loài mối bậc cao
Nasutitermes costalis (Holmgren); hai loài mối gỗ khô, Cryptotermes brevis
(Walker) và Incisitermes minor (Hagen); và 6 loài mối ngầm, Coptotermes
formosanus Shiraki, C. gestroi (Wasmann), Reticulitermes flavipes (Kollar), R.
virginicus (Banks), R. hesperus Banks and Heterotermes aureus (Snyder) (Su N.Y
et al, 1995), (Su, N-Y. and Scheffrahn, 1990a), trong đó ít nhất 80% là loài C.
formosanus là loài gây hại chính (Carr, 2006). Tại Bồ Đào Nha, Nunes cũng chỉ ra
mối nguy hại của các loài mối ngầm thuộc giống Reticulitermes và mối gỗ khô
Cryptotermes trong các tòa nhà cổ tại đất nước này (Nunes, 2010). Tại Ấn Độ,
người ta đã xác định 35 loài gây hại mùa màng và công trình kiến trúc. Các loài gây
hại chủ yếu thuộc các giống: Odontotermes, Coptotermes và Microtermes
(Rajagopal, 2002). Trong 200 loài mối bắt gặp ở nước này, có khoảng 20 loài là đối
tượng gây hại công trình kiến trúc và cây trồng (Desyanti et al, 2010), trong đó
những loài mối gỗ khô Cryptotermes spp. và Coptotermes gestroi là những loài gây hại
nghiêm trọng đối với các cấu trúc gỗ trong các thành phố lớn. Tại Malaysia và
Singapore, có 11 loài mối thuộc 7 giống được tìm thấy ở trong và ngoài các công trình
kiến trúc (Coptotermes, Macrotermes, Microtermes, Globitermes, Odontotermes,
Schedorhinotermes và Microcerotermes). Tại Thái Lan, các loài gây hại thuộc 5 giống
mối được tìm thấy trong các khu đô thị là Coptotermes, Microcerotermes,
Macrotermes, Hypotermes và Odontotermes. Trong đó loài phổ biến nhất là
Coptotermes gestroi (Lee, 2007), (Sornnuwat et al, 1996). Tại Úc, có 7 giống mối
được tìm thấy trong các tòa nhà và các công trình kiến trúc. Trong đó, các giống
mối phổ biến là Coptotermes và Schedorhinotermes (Charles D. Stephen Xing P.
Hu and Charles H. Ray, 2012).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
nghiên cứu tổng hợp của mối Coptotermes gestroi về các đặc điểm sinh học và sinh
thái của mối như phạm vi kiếm ăn, quần thể kiếm ăn và hoạt động kiếm ăn của mối
Coptotermes gestroi, cũng như phản ứng của chúng với một số chất hóa học được
sử dụng trong việc phòng trừ mối. Quần thể kiếm ăn của loài mối này cũng trong
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
khoảng từ 1.13 đến 2.75 × 106 cá thể một tổ. Khi nghiên trên đối tượng mối ngầm
Coptotermes formosanus, Bal Krishna Gautam (2011) đã tổng hợp và tìm ra sự tác
động của độ ẩm nền đất, độ ẩm không khí tương đối và nhiệt độ đối với sự tồn tại
và hành vi kiếm ăn của loài này. Những kết quả trên cho thấy sự khác biệt về tập
tính và phạm vi kiếm ăn của các loài khác nhau, từ đó có thể áp dụng nuôi mối
trong phòng thí nghiệm để phục vụ công tác thử nghiệm các biện pháp phòng trừ
cũng như có những nghiên cứu sâu hơn về chúng. Tại các vùng ôn đới như Hoa Kỳ,
Châu Âu hay Nhật Bản, nghiên cứu mối tập trung vào một số giống mối gây hại
thuộc về họ mối Rhinotermitidae (Pearce 1997), bao gồm các giống Reticulitermes,
Coptotermes và Heterotermes. Thông thường hiếm khi có thể tìm thấy một giống mối
khác ngoài các giống mối trên gây hại các công trình kiến trúc tại các khu vực này
(dẫn theo C. Lee, Vongkaluang and Lenz, 2007). Tại Mỹ, có 45 loài được coi là gây
hại và chỉ có 9 loài trong số chúng được coi là loài gây hại quan trọng (N.-Y. Su and
Scheffrahn, 1990b). Trong đó bao gồm một loài mối bậc cao Nasutitermes costalis
(Holmgren); hai loài mối gỗ khô, Cryptotermes brevis (Walker) and Incisitermes
minor (Hagen); và 6 loài mối ngầm, Coptotermes formosanus Shiraki, C. gestroi
(Wasmann), Reticulitermes flavipes (Kollar), R. virginicus (Banks), R. hesperus
Banks and Heterotermes aureus (Snyder) (N.-Y. SU and Scheffrahn, 1990a; N.Y. Su,
Thoms, Ban, and Scheffrahn, 1995).
Ngược lại các nước nằm trong khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới là nơi có
chúng ở nơi có nhiều thức ăn và có độ ẩm thích hợp. Chúng có thể xây đường mui
ngầm bên trong tường hoặc đường mui nổi chạy song song bên ngoài.
Mối gỗ khô là mối đe dọa cho những cấu kiện gỗ mà chúng có mặt, mặc dù
chúng không phát triển nhanh chóng như mối ngầm và có những đặc điểm khác biệt
về đời sống và hành vi. Chúng tiêu thụ gỗ không nhanh nhưng có khả năng làm phá
hoại hoàn toàn các vật liệu bằng gỗ nếu không được để ý đến thường xuyên. Tuy
vậy, chúng được coi là gây hại đối với các công trình kiến trúc ít hơn so với mồi
ngầm.
Cùng với sự phát triển mạnh của công nghệ sinh học, việc ứng dụng công
nghệ di truyền phân tử trong việc nghiên cứu mối, đặc biệt là mối gây hại công trình
đạt được nhiều kết quả đáng chú ý. Công tác định loại chính xác là cơ sở để áp dụng
biện pháp phòng trừ hợp lý, tuy nhiên việc sử dụng khóa định loại hình thái đối với
một số giống vẫn còn khó khăn, dễ gây nhầm lẫn, do vậy nghiên cứu sử dụng
phương pháp ADN nhằm đưa ra hệ thống phân loại, định loại chính xác cho nhiều
nhóm mối, trong đó điển hình là Coptotermes (Vargo and Husseneder, 2009) là
quan trọng và cần thiết. Năm 2003, Kirton and Brown in 2003 dựa trên bằng chứng
về di truyền đã xác định loài Coptotermes havilandi chính là loài Coptotermes
gestroi mà đã được định danh trước đó. Theo quy ước danh pháp, tên khoa học
Coptotermes gestroi được sử dụng (Kirton, 2003). Năm 2004, Su công bố nghiên
cứu về các đặc điểm chi tiết về sự khác biệt giữa Coptotermes formosanus và
Coptotermes gestroi do hai loài này có nhiều đặc điểm khó phân biệt, dễ bị nhầm
lẫn trong quá trình định loại. Do đó, tác giả tiến hành định loại chính xác bằng kỹ
thuật di truyền phân tử và quan sát đặc điểm trong tổ, đặc tính gây hại, đặc điểm
hình thái của hai loài này để tìm ra đặc điểm trưng riêng biệt của từng loài (Su,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
(2007, 2008), Nguyễn Tân Vương (1997, 2005, 2008, 2010), Ngô Trường Sơn
(2006, 2009), Nguyễn Quốc Huy (2011), Nguyễn Thúy Hiền (2008), Nguyễn Thị
My (2007, 2009, 2011), Trần Thu Huyền và cộng sự (2011) ... Trong đó, nổi bật
là công trình nghiên cứu tỉ lệ đằng cấp trong tổ mối của loài M. annandalei và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
quá trình phân công lao động trong các hoạt động kiếm ăn xây tổ của Nguyễn
Văn Quảng (2003). Tác giả đã cho thấy hoạt động của mối bên ngoài tổ chủ yếu
do mối thợ lớn đảm nhận, chúng chiếm tới 79,4% ở vị trí kiếm ăn và 53,3% ở vị
trí xây tổ, trong khi tỉ lệ của đẳng cấp này trong quần thể tổ mối chỉ chiếm
khoảng 11%. Dẫn liệu thu được đã khẳng định vai trò quan trọng của nấm cộng
sinh Termitomyces đối với sự tồn tại và phát triển của các loài thuộc nhóm mối
đất. Một công trình nổi bật về phân loại học mối là cuốn “Động vật chí Việt Nam
tập 15: Mối - Bộ cánh đều” của Nguyễn Đức Khảm và cộng sự (2007).
Bên cạnh những nghiên cứu điều tra thành phần loài, xác định các loài gây hại
thì những năm gần đây, ứng dụng của sinh học phân tử trong phân loại mối đang
được từng bước thực hiện. Năm 1998, Ngô Trường Sơn và Lê Văn Triển đã áp
dụng phương pháp sắc kí khí biểu bì trong công tác định loại loài mối. Trịnh Đình
Đạt và ccs (2003, 2004) đã công bố kết quả nghiên cứu về đa dạng di truyền ở một
số loài mối, sử dụng hệ thống đa hình di truyền isozyme esteraza để so sánh giữa
hai loài M. annandalei và O. yunnanensis, hai loài M. gilvus và M. carbonarius ở
miền Nam Việt Nam. Vào năm 2005, các tác giả Trịnh Đình Đạt, Đinh Nho Thái,
Ngô Thị Hoan, Võ Thương Lan, Đinh Đoàn Long đã tiến hành xác định mức độ đa
hình di truyền của một số loài mối giống Macrotermes bằng kỹ thuật RAPD-PCR.
Ngô Trường Sơn (2009) đã ứng dụng sinh học phân tử để định loại các loại mối
thuộc giống Odontotermes, kết quả xác định được loài mối O. dontotermes và nhóm
dung cuốn sách bao gồm tất cả các kiến thức chung về mối như hình thái giải phẫu,
đặc điểm sinh học, sinh thái học cũng như thành phần loài và các biện pháp phòng
trừ. Năm 1986, trong cuốn sách của mình Edwards và Mill đã đưa ra được các đặc
điểm sinh học, nhận dạng phân bố, vòng đời, cũng như khóa phân loại đến các họ
mối. Ngoài ra còn nêu lên được các tác động về kinh tế của mối đến các công trình
kiến trúc. Các phương pháp xử lý mối, trong đó tập trung vào phương pháp hóa học
(Edwards and Mill, 1986).
Việc sử dụng hóa chất khá được ưa chuộng. Các hóa chất được sử dụng để
diệt mối được chia thành 4 nhóm chính: nhóm gây độc dạ dày, nhóm ức chế sinh
trưởng, nhóm kích thích sinh trưởng sớm và nhóm thuốc trừ sâu tổng hợp. Các biện
pháp sử dụng hóa chất rất đa dạng tùy theo từng nhóm loài mối, điều kiện hiện
trường mà có thể lựa chọn biện pháp phù hợp. Ví dụ: đối với mối gỗ khô, có thể
phun hoặc quét lớp thuốc hóa học lên bề mặt gỗ để phòng mối (Scheffrahn R.H. et
al, 1998) tiêm thuốc trực tiếp vào trong các đường giao thông mà mối xây dựng
trong gỗ (Scheffrahn, R.H., N.-Y.Su and P. Busey, 1997) và xông hơi. Trong các
biện pháp này, biện pháp xông hơi được xem là biện pháp hiệu quả nhất và được
dùng phổ biến ở một số nước như: Mỹ, Úc và Canada ... nhưng chi phí cho biện
pháp này là khá tốn kém. Đối với mối gỗ ẩm và mối đất, biện pháp bả độc được
xem là biện pháp có nhiều ưu điểm. Biện pháp này đã được các nhà nghiên cứu về
mối ở Mỹ và Trung Quốc quan tâm từ những năm 1980-1990. Cho tới nay biện
pháp này vẫn đang tiếp tục nghiên cứu phát triển.
Bên cạnh biện pháp hoá chất, hàng rào vật lý ngăn mối tấn công trên công
trình được phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Trong trường hợp mối có
thể đi vào công trình qua lớp ngăn hoá chất hoặc khi lớp hoá chất bị nứt gẫy thì biện
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
hiệu quả ổn định trong phòng chống mối của nấm kí sinh côn trùng khi ứng dụng
trên hiện trường. Do vì, một số loại mối tránh được sự lây nhiễm, gây bệnh của nấm
kí sinh thông qua hoạt động tự vệ và đặc tính sinh hoạt của chúng. Theo nghiên cứu
của Yanagawa and Shimizu (2007), mối C. formosanus có khả năng gạt bỏ lớp bào
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
tử nấm Metarhizium anisopliae trên cơ thể của chúng khi hoạt động chải chuốt, vệ
sinh giữa các cá thể ở trong cùng quần. Đây có thể là nguyên nhân khiến các sản
phẩm về chế phẩm sinh học từ nấm gây bệnh côn trùng chưa đươc thương mại hoá
rộng rãi. Mặc dầu vậy, một số các tác giả khác vẫn cổ vũ cho giải pháp này, đặc biệt
theo hướng phối- kết hợp với một số biện pháp vật lý cơ giới khác để đạt tính ứng
dụng cao. Minh chứng cho dòng ý kiến này là nghiên cứu kết hợp sử dụng bả
cellulose để tăng cường khả năng xâm nhiễm trên cá thể mối của bào tử
Metarhizium anisopliae và cho hiệu quả diệt mối cao hơn so với chỉ dùng riêng chế
phẩm (Wang and Powell, 2004).
Biện pháp phòng trừ mối bằng bả được coi là giải pháp tiến bộ nhất và được
sử dụng rộng khắp hiện nay trong phòng trừ mối ngầm tại các nước tiên tiến.
Cabrera et al. (2001) cho biết, phương pháp bả độc đã tạo ra sự thay thế cho việc
dùng thuốc nước. Nguyên liệu chính của bả gồm 2 thành phần chính: chất nền và
hoạt chất gây độc chậm. Phương pháp này sử dụng tập tính kiếm ăn và sự truyền
thức ăn trong tổ của mối để làm giảm số lượng quần thể mối hoặc loại trừ hoàn toàn
tổ mối (Su, N.Y et al.,1995). Các hệ thống trạm bả khác nhau với các thiết kế và
hoạt chất khác nhau đã được sử dụng ngày càng phổ biến, ví dụ như Sentricon TM
system (hoạt chất: hexaflumuron; Dow AgroSciences), FirstLine® (hoạt chất:
sulfuramid; FMC Corp.), hydramethylnon bait (hoạt chất: Chất ức chế trao đổi chất;
American Cyanamid Co.), Exterra® (hoạt chất: diflubenzuron; Ensystex) (Su, N.-Y
của acetamiprid đối với mối thợ của 3 loài lần lượt là 4.41×10−5, 13.8×10−5 and
146×10−5 µg/mối. Hơn 90% cá thể mối chết trong 120 giờ sau khi tiếp xúc với đất
có chứa 4.8 ppm acetamiprid.
Mark Janowiecki (2012) trong luận văn thạc sĩ của mình đã nghiên cứu tác
động của các tác nhân sinh trưởng đến quần thế mối Reticulitermes flavipes sử dụng
các hóa chất tác động đến sinh trưởng của mối nhằm ngăn ngừa chúng sinh trưởng
và phát triển. Phát kiến Nan-Yao Su, James Edward King, Paul Allen Neese (2011)
đã nghiên cứu và đưa ra phương thức cho việc sử dụng hóa chất trong bả diệt mối
bằng cách kết hợp các hợp chất đẩy nhanh quá trình lột xác và các chất ức chế tổng
hợp kitin. Sự kết hợp này làm tăng hiệu lực diệt mối hơn hẳn so với từng hợp chất
riêng biệt.
Một vấn đề khi kiểm soát mối trong các khu đô thị tại các vùng nhiệt đới là có
nhiều nhóm mối cùng một lúc xâm hại các công trình ở đây, trong đó có cả nhóm
mối bậc cao (Termitidae). Nghiên cứu của Klangksew Chirasak và cs (2002 )về mối
gây hại trong các khu đô thị cho thấy mặc dù C. gestroi là loài gây hại phổ biến nhất
trong và xung quanh công trình kiến trúc nhưng trong môi trường đô thị thì họ mối
Termitidae vẫn là họ có số lượng loài đa dạng nhất. Nếu chỉ xử lý nhóm mối ngầm
thì sẽ gia tăng sự phát triển của nhóm mối bậc cao. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã
chỉ ra rằng việc loại trừ các tổ mối bậc cao bằng phương pháp sử dụng bả, đặc biệt
là đối với nhóm mối có xây dựng vườn nấm (Macrotermitinae) là khá khó khăn. Lee
Chow Yang chỉ ra rằng việc loại trừ các tổ mối Macrotermes gilvus sẽ khó khăn
hơn khi vùng bị nhiễm trước đó đã được xử lý bả đối với Coptotermes. M. gilvus
được tìm thấy trong nhà chỉ sau khoảng 2 tháng sau khi tổ mối Coptoteremes bị yếu
đi hoặc bị loại trừ. Phương pháp thường được áp dụng để xử lý vấn đề này là sử
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
công nghệ rađa để xác định tổ mối và đã xác định chính xác các khoang tổ mối,
thậm chí cả những khoang có kích thước 20 cm.
Vấn đề an toàn đối với con người và không gây ô nhiễm môi trường luôn đặt
lên hàng đầu. Vì vậy, nghiên cứu về phòng trừ mối bằng biện pháp sinh học là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
hướng nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn cao, đã thu hút được nhiều các nhà khoa học
quan tâm trong những năm gần đây. Biện pháp này vận dụng những quy luật tự
nhiên của hệ sinh thái, trên cơ sở đặc điểm của mối, hướng nghiên cứu này tập trung
vào việc sử dụng vật săn mồi, vật ký sinh và sinh vật gây bệnh. Các nghiên cứu theo
hướng này không chỉ thành công ở trong điều kiện phòng thí nghiệm mà đã có một
số nghiên cứu được ứng dụng vào hiện trường thực tế, trong đó việc sử dụng nấm
Metarhizium anisopliae để diệt mối là một trong những biện pháp sinh học được áp
dụng thực tế nhiều nhất. Tạ Kim Chỉnh và Nguyễn Đức Khảm (1996) đã bước đầu
thử nghiệm độc tính của một số chủng vi nấm diệt mối hại kiến trúc và cây vải
thiều. Tạ Kim Chỉnh và cộng sự (2001) đã công bố các dẫn liệu về đặc điểm sinh
học của hai chủng vi nấm Metarhizium Ma6 và Baeuveria Bb phân lập từ các mẫu
khác nhau cùng với hiệu lực diệt mối (Coptotermes) của chúng. Chế phẩm
Metarhizium để diệt mối Odontotermes hainannensis trên đê đã được Trịnh Văn
Hạnh và cộng sự (2005) nghiên cứu và thử nghiệm khá thành công đã và đang dần
thay thế cho các hóa chất trong quá trình xử lý mối hại đê (Trịnh Văn Hạnh, Đinh
Xuân Tuấn, Nguyễn Thị My, Nguyễn Văn Quảng, 2005) . Kết quả nghiên cứu cho
thấy có thể tiêu diệt tổ mối bằng cách bơm dung dịch chế phẩm qua lỗ bay phân đàn
của mối mà không cần đào bới tổ. Đáng chú ý là công trình “Nghiên cứu đặc điểm
sinh học, sinh thái học của Coptotermes formosanus Shiraki; Odontotermes
hainanensis Light và sử dụng chế phẩm từ Metarhizium anisopliae (Metsch) Sorok
hại. Mỗi loài gây hại thường có những đặc điểm sinh học, sinh thái học riêng và
biện pháp phòng trừ với mỗi nhóm loài thường không giống nhau. Mặt khác, nghiên
cứu phòng trừ mối ở Việt Nam còn chậm hơn so với trên thế giới. Công tác phòng
trừ các nhóm côn trùng này phổ biến hiện nay vẫn là sử dụng thuốc hóa học và mới
chỉ được thực hiện đơn lẻ, cục bộ ở một số công trình đang bị chúng xâm hại. Việc
xử lý như vậy sẽ tốn kém chi phí, không mang lại hiệu quả lâu dài đồng thời lượng
hóa chất lớn sẽ làm tăng ngánh nặng về ô nhiễm môi trường. Như vậy, việc thực
hiện các nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái học của mối và phòng trừ
mối vẫn luôn rất cần thiết đối với các vùng miền ở Việt Nam.
2.3. KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU VỀ MỐI Ở HÀ NỘI
2.3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội khu vực nghiên cứu
Hà Nội nằm chếch về phía Tây Bắc của trung tâm đồng bằng châu thổ Sông
Hồng. Thành phố có diện tích 3.324,92 km2, nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng. Hà
Nội nằm ở 20053’ đến 21023’ độ vĩ Bắc và 105053’ đến 106002’ độ kinh đông, giáp
với 4 tỉnh: Thái Nguyên ở phía Bắc, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía Đông, Hà Nam
ở phía Nam và Vĩnh Phúc ở phía Tây Bắc.
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông
với độ cao trung bình từ 5 đến 20m so với mực nước biển. Nhờ phù sa bồi đắp, ba
phần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông đà, hai
bên sông Hồng và chi lưu các con sông khác. Phần diện tích đồi núi phần lớn thuộc
các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cao như Ba Vì
(1.281 m), Gia Dê (707 m), Chân Chim (462 m), Thanh Lanh (427 m), Thiên Trù
(378 m)... Khu vực nội thành có một số gò đồi thấp, như gò Đống Đa, núi Nùng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15