BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
**********************
ĐỀ TÀI KHOA HỌC
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ
HỘI ĐẶT RA TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC
CHO HỌC SINH THPT CHUYÊN
1
MỤC LỤC
PHẦN
Phần
thứ
nhất
Phần thứ hai
Chương 1:
NỘI DUNG
MỞ ĐẦU
TRANG
3
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Cở sở lí luận và thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu
Các giải pháp, biện pháp thực hiện.
Thực nghiệm sư phạm
32
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ
35
Phần thứ ba:
Phần thứ nhất:
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2
1.1. Nghị luận xã hội là kiểu bài không thể thiếu trong các đề thi chọn học sinh giỏi, đề
thi tốt nghiệp THPT và đề thi đại học nhiều năm gần đây. Trong kiểu bài này, dạng đề
nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là mới mẻ và gây nhiều
khó khăn hơn cả cho học sinh khi làm bài. Dù đã có những đề mẫu về kiểu bài này trong
sách giáo khoa THPT, nhưng chưa có một bài học cụ thể nào về phương pháp giải quyết
kiểu bài này được biên soạn, các tài liệu tham khảo về kiểu bài này cũng còn rất hạn chế.
1.2. Yêu cầu phải nâng cao hiệu quả đào tạo học sinh thi tốt nghiệp THPTQG, thi học
sinh giỏi Quốc gia và đại học của trường THPT chuyên ngày càng cấp thiết. Môn Ngữ
văn có mặt trong cả hai khối thi C, D và liên quan trực tiếp đến tỉ lệ đỗ tốt nghiệp và đại
học của toàn trường. Năm 2014, đề thi tốt nghiệp THPT đã ra kiểu bài này. Trong đề thi
chọn học sinh giỏi của các kì thi khu vực và quốc gia, kiểu bài nghị luận về vấn đề xã
hội đặt ra trong tác phẩm văn học xuất hiện ngày càng nhiều. Bởi vậy, rèn kĩ năng nghị
6. Cơ sở, phạm vi, thời gian nghiên cứu
- Cơ sở nghiên cứu: Lí luận về kiểu bài văn nghị luận nói chung và nghị luận xã hội nói
riêng, đặc biệt thực tiễn dạy học văn tại các lớp chuyên văn và chuyên ngữ ở trường
THPT chuyên Hoàng Văn Thụ.
- Phạm vi nghiên cứu: Phương pháp rèn kĩ năng làm văn nghị luận về vấn đề xã hội đặt
ra trong tác phẩm văn học cho học sinh học môn Ngữ Văn ở trường THPT chuyên
Hoàng Văn Thụ.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu một số tài liệu về nghị luận văn học, về rèn kĩ năng làm văn nghị
luận văn học và nghị luận xã hội.
4
- Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo nhằm
hệ thống những vấn đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học đặt ra
trong chương trình THPT.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp thực nghiệm giáo dục
Thử nghiệm các phương pháp nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận về vấn đề xã
hội đặt ra trong tác phẩm văn học cho học sinh nhằm kiểm nghiệm giả thuyết của đề tài,
tính khả thi của hệ thống đề đã xây dựng.
7.2.2. Phương pháp thống kê giáo dục
Kiểm tra hiệu quả thực tế của các phương pháp đề ra qua kết quả làm bài nghị
luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học của học sinh trong suốt quá trình
học.
7.2.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm công tác ra đề kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ
6
biết về đời sống của học sinh vừa kiểm tra cả kĩ năng đọc hiểu văn bản. Nhiều học sinh
chưa quen với cách ra đề này nên dễ nhầm lẫn với kiểu bài nghị luận văn học thông
thường. Thực tế, sách giáo khoa THPT đã có một số đề nghị luận xã hội về dạng bài
này, chẳng hạn:
Đề 1. Triết lí vê việc đỗ, trượt trong thi cử của thân phụ Đặng Huy Trứ (văn bản Cha tôi
trong Ngữ văn 11 Nâng cao) gợi cho anh chị suy nghĩ gì về việc thi cử của bản thân?
Đề 2. Trong vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ, nhân vật Trương
Ba nói: “Không thể bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi
toàn vẹn”.
Câu nói trên để lại cho anh (chị) những suy nghĩ gì?
Đề 3. Từ bài thơ Tiến sĩ giấy của Nguyễn Khuyến, nghĩ về danh và thực trong xã hội
chúng ta ngày nay.
Đề 4. Bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin và những suy nghĩ của anh (chị) về một tình yêu
tuyệt đẹp.
Song, ngoài một số đề văn tham khảo, phương pháp, kĩ năng làm kiểu bài này
chưa được cụ thể hóa. Bấy lâu nay, việc rèn kĩ năng làm dạng bài này hoàn toàn nhờ vào
kinh nghiệm của bản thân giáo viên giảng dạy. Bởi vậy, để nâng cao năng lực làm văn
nghị luận xã hội cho học sinh rất cần có một chuyên đề nghiên cứu cụ thể để rèn kĩ năng
làm văn nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
2. Cơ sở lý lí luận của vấn đề cần nghiên cứu
2.1. Phương pháp đọc – hiểu văn bản văn học:
Giáo sư Trần Đình Sử trong một bài viết nhiều tâm huyết đã khẳng định “Đọc
hiểu văn bản – một khâu đột phá trong quá trình dạy và học văn hiện nay”. Theo giáo sư
“Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu
bất cứ văn bản nào cùng loại. Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực
tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình
7
8
Thiết nghĩ, kĩ năng đọc – hiểu văn bản không chỉ quan trọng đối với việc nâng cao
kĩ năng làm kiểu bài nghị luận văn học, nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn, mà còn
chính là chiếc chìa khóa để học sinh làm tốt kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra từ tác phẩm
văn học. Có kĩ năng đọc hiểu văn bản tốt, hiểu thấu tác phẩm, người đọc mới có thể suy
ngẫm về những bức thông điệp ẩn chứa nhiều bài học về lẽ sống sâu sắc mà các nhà văn
gửi gắm.
2.2. Các kĩ năng làm kiểu bài nghị luận văn học nói chung và nghị luận xã hội nói
riêng.
Văn nghị luận là dùng ý kiến lí lẽ của mình để bàn bạc, để thuyết phục người khác
về một vấn đề nào đó. Yêu cầu bài văn nghị luận: Phải đúng hướng, phải trật tự, phải
mạch lạc, phải trong sáng, phải sinh động, hấp dẫn, sáng tạo. Những thao tác chính của
văn nghị luận đã được chú trọng rèn luyện trong sách giáo khoa THPT là: giải thích,
chứng minh, phân tích, bình luận, bác bỏ, so sánh,… Trong văn nghị luận có hai dạng:
Dạng nghị luận văn học và nghị luận xã hội. Nghị luận văn học là một dạng nghị luận
mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề về văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn
học,… Còn nghị luận xã hội lại hướng đến những vấn đề của đời sống đang đặt ra cấp
thiết, đòi hỏi phải được giải quyết. Kĩ năng làm kiểu bài nghị luận văn học được xác
định gồm 4 bước:
+ Tìm hiểu đề, tìm ý
+ Lập dàn ý
+ Hoàn thiện bài viết
+ Sửa chữa
Các bước làm bài này ứng với cả hai kiểu bài nghị luận văn học và nghị luận xã
hội.
Riêng đối với văn nghị luận xã hội, mỗi dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lí hay
hiện tượng đời sống đều có những mô hình ý khái quát riêng. Dạng đề về tư tưởng đạo lí
đòi hỏi học sinh cần phải có kĩ năng giải thích, chứng minh, bình luận để làm sáng tỏ
10
Với dung lượng 2/6 bài kiểm tra là nghị luận xã hội trong suốt năm học, trong đó
không phải cả hai bài viết đều là nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học, thực sự
giáo viên và học sinh không có nhiều thời gian rèn năng lực giải quyết kiểu bài này. Bởi
thế, nhiều học sinh khi phải làm kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
đều lúng túng, không biết cách giải quyết và kết quả không cao. Trong kì thi tốt nghiệp
THPT năm 2014, khi dạng đề nghị luận xã hội kết hợp cả kiến thức đọc hiểu văn bản và
kiến thức đời sống được ra số lượng bài viết đạt điểm khá, giỏi của tỉnh Hòa Bình rất hạn
chế. Đa số học sinh đều lúng túng và trong quá trình làm bài dễ thiên về nghị luận văn
học, phần nghị luận xã hội được viết rất ngắn gọn, chung chung. Trong các cuộc thi chọn
học sinh giỏi khối trung học phổ thông của tỉnh Hòa Bình, ngay cả các em học sinh giỏi
của các trường cũng gặp khó khăn khi bắt gặp kiểu đề này. Các em thường trình bày rất
lan man, thiếu trọng tâm, thậm chí thiên về phân tích tác phẩm theo hướng đọc hiểu văn
bản chứ không phải đang làm bài nghị luận xã hội...
Không thể phủ nhận nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là
một dạng đề hay, thú vị, hấp dẫn trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở nhà trường phổ
thông. Tuy nhiên, rõ ràng sự thiếu thốn các tài liệu nghiên cứu tìm tòi về rèn kĩ năng làm
kiểu bài này đang khiến giáo viên và học sinh chưa đạt được hiệu quả dạy và học như
mong muốn. Việc trao đổi phương pháp rèn kĩ năng làm kiểu bài này thực sự là một việc
làm thiết thực giữa các giáo viên dạy ngữ văn nói chung, đặc biệt trong công tác bồi
dưỡng đối tượng học sinh giỏi.
1.3.2 Thực trạng của việc rèn kĩ năng làm kiểu bài kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra
trong tác phẩm văn học cho học sinh THPT chuyên
Do đặc thù của trường THPT chuyên, trường THPPT chuyên Hoàng Văn Thụ có
nhiệm vụ phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu tham dự kì thi học sinh giỏi quốc
gia, đạo tạo nhân tài phục vụ cho sự nghiệp phát triển của tỉnh nhà. Để thực hiện được
nhiệm vụ cao cả ấy, ban giám hiệu nhà trường luôn nêu cao tinh thần đổi mới phương
pháp giảng dạy ở từng bộ môn cụ thể.
mình.
12
- Về điều kiện cơ sở vật chất: Trường có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, hiện đại đáp
ứng được yêu cầu giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Hàng năm luôn được
các cấp các ngành quan tâm, tạo điều kiện để nâng cấp và bổ sung các trang thiết bị hiện
đại như máy chiếu, laptop, phòng học chuyên dụng để học ngoại ngữ, phòng thí
nghiệm…
- Về phía phụ huynh học sinh: do là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, là nơi tập
trung học sinh- là con em các dân tộc của tỉnh nhà nên nhà trường luôn nhận được sự
quan tâm, đồng thuận từ phía phụ huynh học sinh. Thường xuyên có sự phối hợp giáo
dục từ các phía : gia đình- nhà trường- xã hội.
Những điều kiện thuận lợi cơ bản trên đây là những nhân tố hết sức quan trọng để
việc giảng dạy và học tập bộ môn Ngữ văn tại trường THPT chuyên Hoàng Văn Thụ đạt
kết quả cao.
Bên cạnh những thuận lợi kể trên, việc nâng cao kĩ năng làm làm kiểu bài kiểu bài
nghị luận văn học dạng đề trích dẫn nhận định vẫn gặp phải một số khó khăn nhất định:
- Do xu hướng hiện nay về việc lựa chọn ngành nghề: các trường kinh tế, kĩ thuật,
tài chính thường có sức hút mạnh mẽ nên tâm lí chung của một số phụ huynh và học
sinh là coi trọng các môn Tự nhiên như Toán, Lí, Hóa mà coi nhẹ các môn xã hội như
Văn, Sử, Địa.
- Thực tế đội ngũ giáo viên bộ môn Ngữ văn còn ít so với số lượng khối, lớp
trong trường, mỗi giáo viên vẫn phải đảm nhiệm số tiết tương đối lớn bởi vậy thời gian
dành để nghiên cứu khoa học còn hạn hẹp. Hơn nữa giáo viên trẻ chiếm trên ½ số lượng
giáo viên bộ môn, mặc dù có kiến thức và nhiệt huyết cũng như sự nhạy bén với khoa
học, công nghệ nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế.
- Với việc phân chia thành các lớp chuyên để học chuyên sâu vào từng bộ môn
hoặc khối thi nên vẫn còn tình trạng một số học sinh các lớp không chuyên và xa chuyên
với bộ môn Văn ít quan tâm, ít có thời gian đầu tư cho môn học. Và đây là một dạng đề
- Tổ chuyên môn tổ chức trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo viên dạy môn Ngữ
văn để phổ biến, trao đổi kinh nghiệm hay trong việc rèn luyện kĩ năng làm kiểu bài luận
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
-Tổ chuyên môn yêu cầu xây dựng ngân hàng đề và đáp án trong đó có một số
lượng lớn các đề về kiểu bài luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
- Giáo viên nâng cao ý thức về tầm quan trọng của dạng đề nghị luận nghị luận
văn học dạng trích dẫn nhận định trước hết và thiết thực bằng việc khảo sát tần suất xuất
hiện của dạng đề này trong đề thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi khu vực và quốc gia.
- Giáo viên còn nâng cao ý thức cho học sinh bằng việc ra những đề kiểm tra sử
dụng kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học để kiểm tra, đánh giá trình
độ của học sinh.
Khi cả giáo viên và học sinh đều ý thức rõ tầm quan trọng của kiểu bài nghị luận
xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học hoạt động dạy và học văn nghị luận xã hội sẽ ngày
càng hiệu quả hơn.
2.2. Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học qua
việc rèn kĩ năng Đọc- hiểu văn bản văn học.
Như đã trình bày ở trên, nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
thường có hai dạng cơ bản: nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm đã học hoặc
nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm ngoài chương trình. Cả hai dạng này
đều đòi hỏi kĩ năng đọc – hiểu văn bản ở người học. Có kĩ năng đọc hiểu văn bản tốt,
học sinh sẽ đủ năng lực cảm thụ tác phẩm, hiểu thấu bức thông điệp được nhà văn, nhà
thơ gửi gắm, từ đó có đủ năng lực để nghị luận về những vấn đề xã hội đặt ra.
Để rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh, giáo viên cần chú trọng đến rèn
luyện các phương pháp đọc hiểu văn bản. Trong chương trình sách giáo khoa THPT, bài
đọc hiểu văn bản văn học được đưa vào giảng dạy ngay từ lớp 10. Tuy nhiên, do hạn chế
về thời lượng giảng dạy (2 tiết) nên nội dung bài học này thường không được khắc sâu
trong nhận thức người học. Vì không nắm chắc các phương pháp đọc hiểu nên học sinh
15
2.3.1. Rèn kĩ năng chung cho kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
* Trước hết cần nắm được đặc điểm và cấu trúc của dạng đề:
Đặc điểm của dạng đề này đó là yêu cầu từ một tác phẩm văn học rút ra vấn đề xã
hội và nghị luận về vấn đề đó. Tác phẩm văn học chỉ là cái cớ, là tiền đề, là điểm xuất
phát để rút ra vấn đề xã hội cần bàn luận. Không đi sâu phân tích tác phẩm văn học đó
mà nội dung nghị luận chủ yếu của bài làm là vấn đề xã hội được rút ra từ tác phẩm văn
học.
* Cấu trúc của dạng đề này thường được ra dưới hai hình thức sau:
- Dạng 1: Từ một tác phẩm đã học, đề yêu cầu người viết bàn luận một ý nghĩa xã
hội nào đó. Ví dụ: Từ bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu, anh (chị) hãy viết một bài văn
nghị luận bàn về bài học: Sống cần có nghĩa, có tình, thủy chung trọn vẹn.
Ví dụ: Từ bài thơ “Đò Lèn” của Nguyễn Duy, nhớ và nghĩ về những kỉ niệm tuổi
thơ.
- Dạng 2: Từ một tác phẩm văn học chưa được học (có thể là một bài thơ, một
đoạn thơ hay một câu chuyện nhỏ) từ đó yêu cầu người viết bàn luận về ý nghĩa xã hội
đặt ra trong đó.
Ví dụ: Trong bài “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu viết:
Nếu là con chim chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình.
Từ đoạn thơ trên, anh (chị) hãy viết một bài văn nghị luận bàn về cách sống
của con người trong xã hội.
Ví dụ: Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu chuyện sau:
Một cô gái đến tìm một nhà sư, cô hỏi:
- Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.
17
thiết, không phục vụ cho nội dung cần nghị luận.
18
* Mô hình ý khái quát của dạng bài nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn
học.
Vì là một bài nghị luận nên bố cục một bài văn nghị luận xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học cũng có 3 phần: mở bài, thân bài và kết bài. Dàn ý khái quát của kiểu bài
này như sau:
* MỎ BÀI:
-Dẫn dắt vấn đề
- Nêu vấn đề nghị luận
*THÂN BÀI:
1. Giới thiệu và phân tích khái quát tác phẩm
- Giới thiệu tác phẩm khái quát (tác giả, hoàn cảnh ra đời, vị trí, ý nghĩa,…)
- Phân tích khái quát tác phẩm
Rút ra vấn đề xã hội cần nghị luận
2. Nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm : Tùy thuộc vào vấn đề nghị
luận là tư tưởng đạo lí hay hiện tượng xã hội mà triển khai ý.(Nếu là vấn đề tư
tưởng đạo lí nên triển khai ý theo hướng: Giải thích – Phân tích, chứng minh,
bình luận; Nếu là hiện tượng đời sống nên triển khai theo hướng: Thực trạng –
Nguyên nhân- Hậu quả- Giải pháp)
*KẾT BÀI: Chốt lại vấn đề
Lưu ý: Phần thân bài bao giờ cũng phải trải qua hai bước cơ bản nêu trên. Ở phần
giới thiệu và phân tích khái quát tác phẩm cần nhớ tuyệt đối không được kể lể lan man,
phân tích quá sâu nội dung, nghệ thuật của văn bản. Trọng tâm đề bài là nghị luận về
vẫn đề xã hội được rút ra, do đó khi phân tích chỉ nên dừng ở việc khám phá nội dung tư
tưởng của tác phẩm. Nếu phân tích quá sâu, bình quá kĩ về nội dung, nghệ thuật của văn
bản bài viết sẽ bị lạc đề sang nghị luận văn học.
2.3.2. Rèn kĩ năng cho từng dạng đề nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học.
phải thể hiện được sự hiểu biết, tự tin về đối tượng và phải thể hiện được cả cảm xúc
20
chân thành, sâu sắc. Những thông tin thừa được trình bày thiếu xúc cảm sẽ làm giảm sức
thuyết phục của bài viết.
Khi nghị luận về vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm người viết phải thể
hiện được quan điểm cá nhân, có cái nhìn toàn diện về vấn đề nghị luận. Những dẫn
chứng được lựa chọn để chứng minh cần đa dạng, phong phú, nên lấy từ đời sống để
tăng sức thuyết phục, tránh lấy lại tác phẩm đã xuất hiện trong đề.
b. Đề nghị luận về vấn đề xã hội đặt ra từ tác phẩm văn học ngoài chương trình
Tác phẩm ngoài chương trình tức là tác phẩm học sinh chưa được đọc hiểu trước
đó. Dạng đề này trước hết đòi hỏi kĩ năng đọc hiểu văn bản ở học sinh. Nếu không có
khả năng đọc hiểu, học sinh không thể nhận diện đúng, trúng vấn đề xã hội cần nghị
luận từ tác phẩm. Thao tác đọc – hiểu cần thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn
nhưng phải đảm bảo hiểu đúng giá trị tư tưởng của văn bản.
Tùy vào từng thể loại thơ hay truyện ngắn mà người viết có những cách thức đọc
– hiểu riêng. Kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học dựa theo đặc trưng thể loại cần được
giáo viên hướng dẫn đầy đủ, kĩ lưỡng cho học sinh. Nếu là văn bản thơ, người đọc cần
chú ý đến hình ảnh, từ ngữ, biện pháp nghệ thuật nổi bật để từ đó cảm nhận được giá trị
nội dung tư tưởng của tác phẩm – tiếng lòng mà thi sĩ gửi gắm. Chẳng hạn, khi giải
quyết đề bài: Đọc bài thơ sau:
Quán hàng phù thủy
Một phù thuỷ
Mở quán hàng nho nhỏ
“Mời vào đây
Ai muốn mua gì cũng có ! ”
Tôi là khách đầu tiên
dựng. Những giá trị tốt đẹp chỉ được hình thành và bền vững nhờ sự nỗ lực vun đắp của
con người.
Nếu là một văn bản truyện ngắn (Thường rất ngắn ngọn và ý nghĩa), người đọc
cần vận dụng những hiểu biết về thể loại tự sự để đọc – hiểu văn bản hiệu quả. Người
đọc cần quan tâm đến tình huống truyện, đến hệ thống nhân vật, chú ý đến cách kết cấu
tác phẩm, đặc biệt là những chi tiết kết thúc. Chẳng hạn, khi giải quyết đề văn sau: Đọc
câu chuyện sau và viết một bài văn nghị luận về một bài học mà anh (chị) rút ra được :
Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh hỏi:
- Thưa thầy con muốn buông xuôi vài thứ nhưng con do dự quá, con mệt mỏi vô
cùng.
Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng
vừa mới pha xong.
Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang
tay kia cho đến khi nguội đi rồi uống và cảm nhận thấy rất ngon. Lúc này nhà sư từ tốn
nói:
- Cứ đau là buông thì con đã bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó rồi!
Muốn hiểu đúng câu chuyện này, người đọc cần chú ý đến tình huống truyện một
chàng trai đang gặp khó khăn trong cuộc sống đến gặp một nhà sư – người có tri thức
uyên thâm được mọi người kính trọng để xin một lời khuyên bổ ích. Nhà sư không
khuyên giải trực tiếp mà đặt chàng trai vào tình huống thực hiện hành động cầm 1 cái
tách , sau đó nhà sư rót nước trà nóng vào, chàng trai không buông tay khi bị nóng quá
mà chuyền từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội rồi uống và cảm thấy rất ngon.
Tách trà khi nóng là hình ảnh biểu trưng cho khó khăn, mệt mỏi chàng tri gặp phải.
Hành động chuyền tay tách trà nóng và vẫn giữ lấy nó không buông thể hiện sự nỗ lực
tìm ra cách thức vượt qua khó khăn. Tách trà nguội rất ngon là biểu trưng cho thành
công con người nhận được sau khi vượt qua khó khăn. Câu nói của nhà sư đã khép lại
câu chuyện và mở ra một bài học về lẽ sống: Trước khó khăn, trước nỗi đau hãy nghĩ
23
sửa lỗi, cố gắng đoạn văn sau khắc phục được hết lỗi đoạn văn trước, cuối cùng là
hướng tới phấn đấu viết đoạn văn hay, bay bổng.
* Rèn năng lực liên kết ý:
Ngoài rèn kĩ năng viết đoạn, với dạng đề nghị luận xã hội đặt ra trong tác phẩm
văn học, giáo viên còn cần rèn cho học sinh năng lực liên kết các ý trong bài. Những câu
chuyển ý ở từng phần đóng vai trò quan trọng để sâu chuỗi nội dung bài văn, tránh rời
rạc, không tập trung thể hiện yêu cầu đề bài. Chẳng hạn giữa hai phần giới thiệu, phân
tích khái quát về tác phẩm và phần nghị luận về vấn đề xã hội được rút ra cần có những
câu dẫn dắt chuyển ý, liên kết giữa hai phần. Ngay trong phần nghị luận về vấn đề xã
hội rút ra cũng cần chú ý liên kết chặt chẽ các luận điểm được nghị luận.
*Rèn các thao tác lập luận
Một bài văn nghị luận xã hội thành công được tạo nên nhờ sự vận dụng khéo léo,
linh hoạt các thao tác lập luận. Thường xuyên rèn luyện các thao tác giải thích, phân
tích, chứng minh, bình luận, so sánh là việc làm cần thiết đối với học sinh.
2.5. Xây dựng ngân hàng đề và đáp án cho kiểu bài nghị luận xã hội đặt ra trong tác
phẩm văn học
Xây dựng ngân hàng đề và đáp án làm tư liệu tham khảo cho giáo viên và học
sinh cũng là một biện pháp cần thiết để rèn kĩ năng làm văn nghị luận xã hội đặt ra trong
tác phẩm văn học cho học sinh. Trong giới hạn thời gian của đề tài nghiên cứu này
chúng tôi bước đầu mới chỉ thống kê được một số đề thi tiêu biểu thường dành cho thi
tốt nghiệp THPT QG, thi chọn học sinh giỏi khu vực và Quốc gia.
STT
Nội dung đề
1
Từ bài ca dao “Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn tháng
nạn…”, anh (chị) có suy nghĩ gì về sự lạc quan của con ngýời trong cuộc