MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc luôn là chủ đề nóng bỏng trong suốt
4000 năm lịch sử của Việt Nam. Việt Nam – Trung Quốc là hai nước láng
giềng chung nhau về biên giới (trên đường bộ và đường biển), lại có quá trình
gắn bó tương tác về văn hóa, lịch sử cũng như các cuộc chiến tranh qua lại
giữa hai nước. Tất cả những điều trên đã khiến cho mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc trở lên vô cùng phức tạp và nhạy cảm.
Quan hệ Việt – Trung trải qua 2200 năm với những thăng trầm trong
lịch sử, những biến động của tình hình thế giới và những khó khăn, thuận lợi
của mỗi nước. Quan hệ Việt – Trung trong những năm đầu của thế kỷ 21 đã
trở lên thân thiết, mối quan hệ hữu nghị, láng giềng giữa hai nước ngày càng
được phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực (văn hóa, kinh tế, chính trị…).
Truyền thống hữu nghị Việt - Trung là tài sản chung vô cùng quý giá của hai
dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông, cùng các nhà
cách mạng và nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam - Trung Quốc dày công vun
đắp để lại cho các thế hệ hôm nay. Truyền thống hữu nghị giữa hai nước được
thể hiện sinh động bằng quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung
Quốc với phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu
dài, hướng tới tương lai”. Quan hệ giữa hai nước từ phương châm 16 chữ
vàng đã được bổ sung thêm tinh thần “4 tốt” là “láng giềng tốt, bạn bè tốt,
đồng chí tốt, đối tác tốt” và phát triển ngày càng hoàn chỉnh khi hai nước
tuyên bố thực hiện “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”.
Vừa qua, Việt Nam – Trung Quốc vừa kỷ niệm 62 năm thiết lập mối
quan hệ ngoại giao Việt – Trung (18/1/1950 – 18/1/2012). Đây cũng là dịp để
1
hai nước tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, đưa hợp tác đi vào chiều sâu, thúc
Dự đoán triển vọng phát triển mối quan hệ Việt – Trung trong tương lai.
Đối tượng
Quan hệ đối ngoại Việt Nam – Trung Quốc
Phạm vi nghiên cứu
3.4.
Mối quan hệ đối ngoại Việt Nam – Trung Quốc trong gian đoạn hiện nay
và đưa ra những triển vọng phát triển phù hợp giữa hai nước trong tương lai.
4.
4.1.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
2
-
Hệ thống, phương pháp lý luận của chủ nghĩa Mac – Lenin, chủ nghĩa duy vật
-
biện chứng.
Dựa trên những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Việt – Trung của một
-
số tài liệu của những nhà xuất bản nổi tiếng.
Phương pháp nghiên cứu
Khái quát chung về Việt Nam
Những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại Việt Nam – Trung Quốc
Nhân tố thế giới và khu vực
Nhân tố Trung Quốc
Chương II. Tổng quan vê quan hệ đối ngoại Việt Nam – Trung Quốc
trong giai đoạn hiện nay
1.
2.
2.1.
2.2.
3.
4.
5.
6.
Về quan hệ chính trị
Về quan hệ kinh tế thương mại
Về thương mại
Về hợp tác đầu tư
Về quan hệ văn hóa
Về quan hệ ngoại giao
Về biên giới, lãnh thổ
Về an ninh quốc phòng
Chương III: Triển vọng mối quan hệ Việt – Trung trong tương lai
3
1.
Khí hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm
đến khô. Nhiệt độ trung bình toàn quốc tháng 1 là -4,7 oC, tháng 2 là 26oC. Ba
khu vực được coi là nóng nhất là Nam Kinh, Vũ Hán và Trùng Khánh.
Dân tộc: Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc. Dân tộc Hán là
chủ yếu, ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm 6% dân số cả nước và
phân bố trên 50-60% diện tích toàn quốc).
Hành chính: 31 tỉnh, thành phố gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành
phố trực thuộc Trung ương, 4 cấp hành chính gồm: tỉnh, địa khu, huyện, xã.
Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi và
Thiên Chúa Giáo.
5
Ngôn ngữ: Tiếng Hán là tiếng phổ thông, lấy âm Bắc Kinh làm chuẩn.
1.2.
Khái quát chung về Việt Nam
Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nằm ở phía đông bán đảo
Đông Dương, khu vực Đông Nam Á. Việt Nam có chung đường biên giới với
ba quốc gia, phía bắc Việt Nam giáp với Trung Quốc, phía tây giáp Lào và
Campuchia, phía đông là biển Đông, phía Nam giáp vịnh Thái Lan.
Thủ đô: Hà Nội
Diện tích: 331.690 km2
Dân số: 86,93 triệu người (2011)
Ngày quốc khánh: 2/9/2945
Khí hậu: Việt Nam nằm hoàn toàn trong vòng đai nhiệt đới của nửa
cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là phía xích đạo. Vị trí đó đã tạo cho Việt Nam
có một nền nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22ºC đến 27ºC. Hàng
năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn biến phức tạp, có khả
năng sẽ làm thay đổi cục diện thế giới. Điều này có tác động mạnh đến việc
điều chỉnh quan hệ (kinh tế) giữa các nước trên thế giới và khu vực. Và tất
nhiên nó cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau này.
Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính vừa qua có ảnh hưởng lâu dài đến
tình hình thế giới. Trước hết, nó sẽ làm thay đổi cán cân so sánh lực lượng
giữa các nước lớn và các tập đoàn quốc gia. Sự thay đổi đó nhìn chung là có
lợi cho Trung Quốc. Qua cuộc khủng hoảng, vai trò của các nước lớn có nền
kinh tế mới trỗi dậy (nhất là nhóm BRIC – Braxin, Nga, Ấn Đội, Trung Quốc)
được nâng cao, G20 đã tham gia vào việc định đoạt đời sống kinh tế thế giới
mà trước đây chỉ có mình G7 thao túng. Kinh tế Mỹ, nơi phát sinh khủng
hoảng đã bị hậu quả nặng nề và đang tiến hành khôi phục lại một cách khó
khăn và chậm chạp. EU sau khủng hoảng tài chính lại rơi vào khủng hoảng nợ
công trầm trọng. Kinh tế Nhật Bản vốn suy thoái từ nhiều năm nay, đang hồi
7
phục chậm chạp, lại bị tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hậu
quả rất nặng nề. Hiện nay, kinh tế Mỹ, EU không những đang khôi phục chậm
chạp mà còn ẩn chứa nguy cơ tái khủng hoảng nếu không có biện pháp ngăn
chặn.
Tình hình an ninh thế giới cũng có nhiều diễn biến phức tạp. Cuộc
chiến chống khủng bố quốc tế của chính quyeefb G.Bush đã dẫn đến hậu quả
nước Mỹ bị sa lầy trên chiến trường Iraq và Afganistan, khiến vị thế ảnh
hưởng của Mỹ bị sa sút tại khu vực khác, nhất là Châu Á. Chính quyền
Obama lên cầm quyền ở Mỹ từ năm 2009 đang tìm cách cứu vãn tình thế.
Nước Mỹ đang “trở lại Châu Á”, “trở lại Đông Nam Á” với chính sách “ngoại
giao thông minh”. Ở Đông Bắc Á, Mỹ đang tìm cách củng cố liên minh Mỹ Nhật – Hàn. Ở Đông Nam Á, Mỹ đang cải thiện quan hệ với các đồng minh
và các nước khác.
nguyên liệu, năng lượng và thị trường xuất khẩu hàng hóa.
Về quân sự: Lực lượng vũ trang của Trung Quốc thời gian qua đã phát
triển nhanh chóng và hiện nay đã đạt quy mô và trình độ một cường quốc
quân sự thế giới. Trong thập niên tới, Trung Quốc sẽ tập trung vào việc phát
triển Hải quân (đặc biệt là tàu ngầm và tàu sân bay), lực lượng Không quân và
tên lửa, đặc biệt là phát triển công nghệ vũ trụ phục vụ mục đích quân sự (hệ
thống dẫn qua vệ tinh Bắc Đẩu). Tuy vậy, theo đánh giá của các chuyên gia,
trình độ khoa học công nghệ quân sự của Trung Quốc vẫn lạc hậu so với Mỹ
khoảng 15 năm. Tuy nhiên, trong phạm vi lãnh thổ Trung Quốc và vùng phụ
cận, Trung Quốc đã đủ sức để đối chọi với Mỹ (sự kiện Mỹ phải nhượng bộ
chuyển tàu sân bay US.Washington từ vùng biển Hoàng Hải tới vùng biển
Nhật Bản để tham gia tập trận sau vụ tàu Cheonan Hàn Quốc).
Tại Đông Nam Á, Trung Quốc đang tăng cường quan hệ kinh tế thương mại với các quốc gia thành viên ASEAN. Trước mắt là thực hiện cam
kết ACFTA (khu tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN) bắt đầu từ 2010
với ASEAN 6 và năm 2015 với ASEAN 4. Về lâu dài,Trung quốc đang thúc
9
đẩy hợp tác theo ý tưởng “một trục hai cánh”, trọng tâm là “Hợp tác kinh tế
Vịnh Bắc Bộ mở rộng”.
Là nước láng giềng liền kề với Trung Quốc, Việt Nam có vị thế địa
kinh tế, địa chiến lược quan trọng: cầu nối Đông Bắc Á với Đông Nam Á,
nằm ở vị trí tiền tiêu của Biển Đông mà các nước lớn đều muốn chiếm lĩnh,
khống chế hoặc giành giật ảnh hưởng tối đa vì lợi ích của họ. Trung Quốc
luôn muốn Việt Nam phát triển thuận chiều với chiến lược mở rộng ảnh
hưởng xuống phía Nam của họ, mong muốn Việt Nam ủng hộ chiến lược
“một trục hai cánh”, ủng hộ chiến lược Vịnh Bắc Bộ mở rộng, xây dựng vành
đai kinh tế Đại Trung Hoa. Mặc dù Trung Quốc nói mong muốn các nước
láng giềng giàu lên để cùng hợp tác, phát triển, song thực sự họ luôn cảnh
giác với một Việt Nam mạnh và thân phương Tây, nên tìm cách “kiềm chế”
5/2008, hai bên nhất trí phát triển “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn
diện” theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, đồng thời nhất trí thiết lập
đường dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước tạo cở sở cho hai nước phát
triển ổn định, lâu dài trong thời gian tới.
Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì đều đặn các chuyến thăm và gặp gỡ
bên lề hội nghị quốc tế. Trong các chuyến thăm, lãnh đạo cấp cao hai nước
nhấn mạnh tình hữu nghị Việt – Trung là tài sản quý báu của hai nước và nhân
dân hai nước, cần được hết sức giữ gìn và không ngừng vun đắp; khẳng định
sẽ làm hết sức mình để đưa quan hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy hơn,
cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng
11
chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu
vực và trên thế giới.
Hai bên thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam Trung Quốc (11/2006) và đã tiến hành 2 phiên họp (phiên thứ 2 họp tại Bắc
Kinh tháng 1/2008).
Hợp tác giữa hai Đảng được đẩy mạnh. Hai bên duy trì trao đổi đoàn và
thiết lập cơ chế hợp tác, giao lưu giữa các Ban Đảng. Từ cuối năm 2007,
Trung Quốc tiếp tục thực hiện các chương trình bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho
ta. Trong chuyến thăm Việt Nam của Trưởng ban liên lạc đối ngoại Trung
Quốc Vương Gia Thụy, hai bên trao đổi ý kiến về các biện pháp tăng cường
giao lưu giữa các cơ quan hai Đảng trên các lĩnh vực đào tạo cán bộ, công tác
xây dựng Đảng… Ngoài ra, hai Đảng đã tổ chức 4 cuộc hội thảo về lý luận,
kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, về đổi mới, cải cách mở cửa,
hội nhập quốc tế (tháng 10/2008, tổ chức Hội thảo lý luận và thực tiễn về
nông nghiệp, nông thôn, nông dân - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm
Trung Quốc tại Nha Trang). Giao lưu giữa thế hệ trẻ 2 nước tiếp tục được duy
trì (tháng 10/2008, đã diễn ra cuộc “Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam Trung Quốc” lần thứ 8 với chủ đề Giao lưu hữu nghị Việt - Trung).
Quan hệ giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, an ninh, quốc
2001-2008 bình quân trên 25%. Một số mốc quan trọng là: Năm 2004 kim
ngạch mậu dịch hai nước đạt xấp xỉ 7,2 tỉ USD, vượt mục tiêu Chính phủ hai
nước đề ra là 5 tỉ USD vào năm 2005. Năm 2005 đạt 9,12 tỉ USD, tăng 26,6%
so năm 2004, năm 2006 đạt 10,63 tỉ USD, tăng 16,5% so năm 2005, năm
2007 đạt 16,35 tỉ USD, tăng 53,8% so năm 2006, năm 2008, đạt 20,82 tỉ USD
tăng gấp 2,28 lần so với năm 2005 và hoàn thành trước hai năm mục tiêu đề
ra là 20 tỉ USD vào năm 2010. Năm 2009 tuy bị tác động tiêu cực của suy
thoái kinh tế toàn cầu nhưng quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn tiếp tục
13
tăng trưởng. Tổng mức buôn bán hai chiều đạt 21,35 tỉ USD tăng 2,6% so
năm 2008. Ước tính năm 2010 là trên 22 tỉ USD.
Sang năm 2012, quí I/2012, kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai
nước đạt 8,4 tỷ USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó xuất
khẩu sang Trung Quốc 2,7 tỷ USD, tăng 27,61% so với cùng kỳ năm 2011,
tính riêng tháng 3/2012, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đạt 1,1 tỷ
USD, tăng 7,87% so với tháng liền kề trước đó. Các mặt hàng xuất khẩu
chính sang Trung Quốc trong thời gian này là máy vi tính, sản phẩm điện tử
và linh kiện, sắn và các sản phẩm từ sắn, cao su, dầu thô, than đá, xăng dầu ,
gỗ và sản phẩm… trong đó mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh
kiện đạt kim ngạch cao, đạt 205,7 triệu USD trong tháng 3, tăng 52,27% so
với tháng 2/2012, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang Trung Quốc
quí I/2012 lên 403,1 triệu USD, tăng 246,11% so với cùng kỳ năm 2011.
Đứng thứ hai về kim ngạch là mặt hàng sắn và sản phẩm, với 153,6 triệu
USD, tăng 150,49% so với tháng 2/2012, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng
sắn và sản phẩm 3 tháng đầu năm 2012 lên 319,4 triệu USD, nhưng giảm
11,15% so với 3 tháng năm 2011. Đáng chú ý, mặt hàng chất dẻo nguyên liệu
tuy kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc trong quí I/2012 chỉ đạt
tế thương mại, hiện nay hai bên đang tích cực hoàn tất để sớm ký kết “Quy
hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt – Trung” giai đoạn
2009 - 2013, xác định các lĩnh vực và dự án hợp tác trọng điểm, nâng cao hơn
nữa quy mô và mức độ hợp tác kinh tế thương mại, đồng thời đưa ra một số
giải pháp cụ thể, trong đó có các biện pháp hướng tới giải quyết vấn đề nhập
siêu.
2.2.
Về hợp tác đầu tư
15
Quan hệ hợp tác đầu tư có bước phát triển mới, nhiều tập đoàn lớn của
Trung Quốc bày tỏ mong muốn đầu tư vào Việt Nam. Tính đến hết tháng
12/2008, Trung Quốc đã đầu tư vào Việt Nam 628 dự án còn hiệu lực với tổng
vốn đăng ký khoảng 2,197 tỷ USD, đứng thứ 16/84 quốc gia và vùng lãnh thổ
đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
Cơ cấu đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam khá hợp lý, bao gồm các
ngành và lĩnh vực Việt Nam đang cần và Trung Quốc có thế mạnh như: chế
biến thức ăn gia súc, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất linh kiện, lắp
ráp ô tô, xe gắn máy, khai khác mỏ, xây dựng các nhà máy nhiệt điện, xây
dựng, nâng cấp các công trình giao thông; xây dựng kết cấu hạ tầng, dịch vụ
khách sạn, nhà hàng, du lịch nghỉ dưỡng, ngân hàng…
Trong những năm qua, Trung Quốc không ngừng tăng qui mô tín dụng
ưu đãi dành cho Việt Nam. Hiện hai bên đang triển khai một số dự án hợp tác
kinh tế lớn như Dự án xây dựng nhà máy khai thác và luyện đồng tại Sin
Quyền; cải tạo nâng tạo nâng cấp nhà máy gang thép Thái Nguyên; phân đạm
Hà Bắc; Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh Bình I, II; Nhà máy nhiệt điện Hải
Phòng I, II;…
tháng 1 năm 1950. Trung Quốc Việt Nam có tình hữu nghị truyền thống lâu
đời. Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, chính phủ và nhân dân Trung
Quốc đã dốc sức ủng hộ cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của Việt
Nam, dành sự viện trợ to lớn về quân sự và kinh tế cho Việt Nam. Việt Nam
coi Trung Quốc là hậu phương vững mạnh, hai nước hợp tác rộng rãi về các
lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế…
Tháng 11 năm 1991, nhận lời mời của chủ tịch nước Trung Quốc
Giang Trạch Dân và thủ tướng Lý Bằng, tổng Bí thư ban chấp hành Trung
Ương Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ
Văn Kiệt dẫn đoàn đại biểu sang thăm Trung Quốc, hai bên tuyên bố chấm
17
dứt cạnh tranh trong quá khứ, mở ra tương lai tốt đẹp, thực hiện bình thường
hóa quan hệ hai Đảng và hai nước.
Sau đó, quan hệ Đảng và nhà nước Việt Nam – Trung Quốc đã được
khôi phục toàn diện và phát triển vào chiều sâu. Lãnh đạo hai nước duy trì các
cuộc đi thăm và tiếp xúc, giao lưu hữu nghị và hợp tác cùng có lợi trong các
lĩnh vực giữa hai bên không ngừng được tăng cường. Đầu năm 1999, Tổng Bí
thư của hai Đảng đã xác định khuôn khổ phát triển quan hệ hai nước hướng
tới trong thời gian tới là “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu
dài, hướng tới tương lai”. Năm 2000, hai nước đã ra “Tuyên bố chung” về
hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, đưa ra quy định cụ thể cho việc phát triển
quan hệ hợp tác hữu nghị song phương giữa hai nước.
Việt Nam – Trung Quốc đi sâu trao đổi ý kiến và đạt được nhận thức
chung quan trọng về tăng cường quan hệ Đảng và nhà nước trong thế kỷ mới,
đó là: duy trì các cuộc đi thăm cấp cao, mở rộng và tăng cường sự hợp tác
kinh tế và thương mại giữa hai nước, giáo dục nhân dân hai nước bằng tinh
thần Trung Việt hữu nghị mãi mãi, tăng cường giao lưu kinh nghiệm giữa hai
Đảng, hai nước, vì nó liên quan đến chủ quyền quốc gia dân tộc. Hai nước đã
nhất trí giải quyết vấn đề biển Đông bằng thái độ bình tĩnh giải quyết trên tinh
thần nhìn từ tầm cao chiến lược, vì lợi ích của nhân dân hai nước, phù hợp với
luật pháp quốc tế và quan hệ láng giềng, hữu nghị truyền thống Việt Nam Trung Quốc và không để các vấn đề đó ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định
của quan hệ hai nước. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực
nghiên cứu khoa học, môi trường biển, tìm kiếm cứu nạn, khí tượng thủy
văn... Về hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Philipin – Trung Quốc - Việt Nam
ở biển Đông (JOMSRE), qua ba cuộc họp cấp chuyên viên tháng 1, tháng 3 và
tháng 5/2008, các bên đạt được một số nhận thức chung về nguyên tắc, nội
dung khảo sát và một số vấn đề về kỹ thuật liên quan.
19
6. Về vấn đề an ninh quốc phòng
Trong đà phát triển chung của quan hệ hai nước, hợp tác quốc phòng
Việt - Trung cũng có những bước tiến mạnh mẽ. Hai bên thường xuyên trao
đổi đoàn các cấp nhằm tạo sự tin cậy, hiểu biết nhau, xây dựng quan hệ gắn
bó giữa quân đội hai nước. Quan hệ giao lưu, hợp tác, phối hợp giữa Hải
quân, Biên phòng và quân khu giáp biên hai nước được đẩy mạnh. Các cuộc
tuần tra liên hợp trên biển và trên bộ đạt được kết quả tốt. Việc trao đổi học
viên quân sự tăng cả số lượng và chuyên ngành… Trên nền tảng tốt đẹp đó, tại
Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung, hai bên thống nhất tiếp
tục đẩy mạnh hợp tác trong nhiều lĩnh vực như tăng cường trao đổi đoàn, sớm
hoàn thành đường dây nóng giữa hai Bộ Quốc phòng, mở rộng trao đổi đào
tạo học viên quân sự dài hạn và ngắn hạn. Hai nước cũng thống nhất tiếp tục
đẩy mạnh giao lưu, tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
quan sự, đào tạo, hợp tác hải quân, biên phòng, thiết lập đường dây nóng giữa
hai Bộ Quốc phòng, góp phần cụ thể hóa các thỏa thuận mà lãnh đạo Đảng,
Nhà nước và quân đội hai nước đã xác định. Trung Quốc nhất trí chia sẻ kinh
Khó khăn
1.2.
Việt Nam và Trung Quốc có cùng tư tưởng chính trị, nhưng không
thống nhất với nhau về quan điểm chính trị. Do vậy dẫn đến mục đích phát
triển của mỗi nước không giống nhau. Ðây là mâu thuẫn lớn nhất và quan
trọng nhất, dẫn đến sự khác biệt trong việc đề ra chính sách đối ngoại của mỗi
nước.
Quan hệ đối ngoại Việt Nam – Trung Quốc hiện nay đang nóng lên bởi
vấn đề biển Đông. Việc phân chia quyền lợi và hành động thế nào cho hợp lý
và đúng với quy tắc ứng xử đã được ký kết là một trong những khó khăn
trong vấn đề biển Đông giữa hai nước. Đây cũng là một vấn đề ảnh hưởng
trực tiếp đến quan hệ đối ngoại hai nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Triển vọng phát triển quan hệ đối ngoại Việt – Trung trong tương lai.
21
Quan hệ Trung Quốc – Việt Nam trong thời gian tới là một vấn đề rất
quan trọng đối với Việt Nam, Trung Quốc, đối với hòa bình, ổn định và hợp
tác phát triển trong khu vực. Trên phạm vi quốc tế, quan hệ giữa hai nước xã
hội chủ nghĩa – Việt Nam và Trung Quốc sẽ có tác động cực kỳ quan trọng tới
sự ổn định, xu thế phát triển của một số quốc gia xã hội chủ nghĩa còn lại trên
thế giới.
Trung Quốc và Việt nam cùng chung ý thức hệ và chế độ chính trị xã
hội chủ nghĩa, về phương diện này không có mâu thuẫn đối kháng, mà ngược
lại, cần thắt chặt quan hệ đoàn kết hợp tác. Về kinh tế thương mại, quan hệ
Trung – Việt vừa có mặt hợp tác, vừa có mặt cạnh tranh. Quan hệ trung – Việt
trong thời gian tới chủ yếu phụ thuộc vào vấn đề tranh chấp Biển Đông. Quan
Do những trở ngại về chính trị và quân sự, Trung Quốc sẽ không sử
dụng vũ lực để đánh chiếm toàn bộ các đảo Việt Nam đang đóng giữ ở quần
đảo Trường Sa. Nhưng trong mười năm này, Trung Quốc sẽ không “án binh
bất động” như hiện nay, khả năng lớn nhất là Trung Quốc sẽ xây dựng một tập
đoàn căn cứ quân sự mạnh trên các đảo và bãi đá ngầm ở Trường Sa mà
Trung Quốc hiện đang chiếm đóng. Không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ
lấn chiếm một vài đảo hoặc bãi đá ngầm Việt Nam đang đóng giữ để phục vụ
cho việc xây dựng tập đoàn căn cứ quân sự đó.
Quan hệ đối ngoại Việt Nam – Trung Quốc đoàn kết cùng hợp tác phát
triển không chỉ mang lại sự ổn định, lợi ích về mọi lĩnh vực cho hai quốc gia
nói riêng mà còn góp phần mang lại sự ổn định, hòa bình, thịnh vượng trong
khu vực và quốc tế.
23
24
KẾT LUẬN
Mối quan hệ đối ngoại Trung Quốc – Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay nhìn chung là đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, tạo lên nhiều bước
ngoặt trong mối quan hệ giữa hai nước.
Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam – Trung Quốc vẫn duy trì quan hệ
đối ngoại hòa bình, phát triển mạnh mẽ đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả,
phù hợp với lợi ích chung của nhân dân hai nước, có lợi cho việc ổn định hòa
bình, hợp tác, phát triển của khu vực cũng như thế giới.
Trong thời gian tới, Việt Nam – Trung Quốc cần tiếp tục duy trì các
chuyến thăm và tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, tiếp tục tăng cường