ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA VÕ QUẢNG
(QUA QUÊ NỘI VÀ TẢNG SÁNG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ TÂM
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN THIẾU NHI CỦA VÕ QUẢNG
(QUA QUÊ NỘI VÀ TẢNG SÁNG)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
Người hướng dẫn khoa học: TS. Diêu Thị Lan Phương
1
2.1.2. Diễn biến cốt truyện trong Quê nội và Tảng sáng ................................ 37
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................................................. 41
2.2.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngoại hình, hành động .................. 43
2.2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại........................ 54
2.2.3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua tính cách ....................................... 58
Chương 3 NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
TRONG QUÊ NỘI VÀ TẢNG SÁNG .......................................................... 62
3.1. Người kể chuyện trong Quê nội và Tảng sáng ........................................ 62
3.1.1 Ngôi kể.................................................................................................... 64
3.1.2 Điểm nhìn trần thuật .............................................................................. 66
3.1.3 Giọng điệu trần thuật ............................................................................. 68
3.1.3.1. Giọng hài hước hóm hỉnh................................................................... 70
3.1.3.2. Giọng trữ tình ấm áp .......................................................................... 74
3.1.3.3. Giọng trong sáng tươi vui .................................................................. 80
3.2. Ngôn ngữ trần thuật ................................................................................. 83
3.2.1. Ngôn ngữ giàu tính tạo hình ................................................................. 84
3.2.2. Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, phương ngữ .......................................... 87
3.2.3. Ngôn ngữ giàu chất thơ......................................................................... 90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 98
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tình hình nghiên cứu văn học thời gian qua có những đổi mới tích cực.
- Thứ hai: Sáng tác của Võ Quảng luôn hướng các em thiếu nhi đến
những mối quan hệ tốt đẹp trong cuộc sống. Mỗi tác phẩm của ông là một
món ăn tinh thần bổ ích, bồi dưỡng tâm hồn thiếu nhi vươn tới cái đẹp của lí
tưởng, của tình yêu con người và tình yêu thiên nhiên.
- Thứ ba: Truyện của Võ Quảng có cách tự sự hấp dẫn, độc đáo, mang
phong cách và dấu ấn riêng của nhà văn. Quê nội và Tảng sáng là hai tác
phẩm ưu tú trong hành trình sáng tác văn học của Võ Quảng. Nhà văn đã tạo
ra được một giọng nói chân thật, hồn nhiên, có hơi thở và có sự sống làm cho
cả thiếu nhi và người lớn thích thú khi đọc.
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài Nghệ thuật tự
sự trong truyện thiếu nhi của Võ Quảng (qua Quê nội và Tảng sáng) với
mong muốn góp một phần nhỏ bé vào công việc nghiên cứu văn học thiếu nhi
nói chung, truyện Võ Quảng nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Các sáng tác văn, thơ của Võ Quảng từ lâu đã trở thành món ăn tinh
thần không thể thiếu đối với các em thiếu nhi. Qua những vần thơ trong sáng
và những trang tiểu thuyết dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ đã làm nên tên tuổi một
nhà văn của riêng thiếu nhi Việt Nam. Theo tìm hiểu của chúng tôi, kể từ
những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ XX cho đến nay, đã có khá nhiều bài
viết đề cập đến sáng tác của Võ Quảng nói chung và hai tác phẩm Quê nội và
Tảng sáng nói riêng. Vì thế, ở luận văn của mình, chúng tôi chỉ điểm qua
những công trình tiêu biểu, có liên quan mật thiết đến đề tài để thuận tiện cho
quá trình nghiên cứu.
4
2.1. Những nhận xét về sự nghiệp, tài năng của Võ Quảng
Trong cuốn Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới, Vân Thanh đã
dành hẳn một phần trong chương 3 của cuốn sách để biểu dương Võ Quảng
nhận định “Võ Quảng là một trong những nhà thơ, nhà văn được thiếu nhi
Việt Nam yêu thích nhất” [54, tr. 513].
Có thể thấy rằng, khi nhận xét về sự nghiệp văn học của Võ Quảng, các
nhà nghiên cứu, phê bình văn học luôn dành cho ông những lời khen ngợi.
Đồng thời, họ cũng đánh giá rất cao tài năng của ông qua những sáng tác dành
cho nhiếu nhi trong nền văn học Việt Nam đương đại.
2.2. Những nhận xét về hai tác phẩm Quê nội và Tảng sáng
Trong cuốn Tuyển tập Võ Quảng (NXB Hội nhà văn, 2008) nhà văn Võ
Gia Trị đã dành hẳn phần cuối của cuốn sách để tập hợp một số phát biểu của
các nhà văn, nhà phê bình nghiên cứu xung quanh hai sáng tác này của Võ
Quảng. Đó là:
- Trần Thanh Địch trong bài viết Võ Quảng đánh giá: “Quê nội cũng
như Tảng sáng âm thầm như một mùi hương gây mê, có sức hấp dẫn và
quyến rũ lạ lùng… bạn đọc người lớn cũng như trẻ em. Có là cục đá thì mới
không xúc động xao xuyến với những trang tả cảnh đồng bào ta gọi nhau đi
học buổi tối, những trang bà Hiến học đánh vần, những trang chấm phá hình
dáng về cây sung qua buổi chiều vàng… và bao nhiêu chi tiết ngắn dài qua
từng chương sách” [54, tr. 489-493].
- Vũ Tú Nam trong bài Tài năng miêu tả của Võ Quảng nhận định: “Võ
Quảng nặng tình nghĩa với “Quê nội” đã giúp nhà văn mô tả thiên nhiên và
con người không phải chỉ bằng chữ nghĩa mà bằng cả trái tim, bằng kỉ niệm
bồi hồi và nỗi nhớ. Nhịp điệu và âm sắc trong thơ văn Võ Quảng là tiếng vang
trong trẻo của tâm hồn vừa đầm ấm vừa đôn hậu, vừa ngộ nghĩnh vui tươi, rất
6
gần với bạn đọc thiếu nhi” [54, tr. 459]. Đi sâu hơn vào thế giới nghệ thuật,
nhà văn còn nhận xét văn miêu tả của Võ Quảng gọn, động, rất gần với thơ.
- Vương Trí Nhàn trong bài Chất hài hước trong sáng tác văn xuôi của
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Sáng tác của Võ Quảng khá phong phú với nhiều thể loại (truyện ngắn,
tiểu thuyết, thơ, truyện đồng thoại…). Với mục đích và khuôn khổ của đề tài,
luận văn tập trung chủ yếu vào khảo sát hai tác phẩm Quê nội và Tảng sáng in
trong “Tuyển tập Võ Quảng” (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2008).
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp tự sự học
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - xã hội
Kết hợp với đó là các thao tác so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp
để đạt được kết quả nghiên cứu tốt nhất.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn chia
thành 3 chương:
- Chương 1: Khái quát về nghệ thuật tự sự và sáng tác của Võ Quảng
trong bức tranh văn học thiếu nhi Việt Nam
- Chương 2: Nghệ thuật tổ chức cốt truyện và xây dựng nhân vật trong
“Quê nội” và “Tảng sáng”
- Chương 3: Người kể chuyện và ngôn ngữ trần thuật trong “Quê nội”
và “Tảng sáng”
8
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CỦA VÕ
QUẢNG TRONG BỨC TRANH VĂN HỌC THIẾU NHI VIỆT NAM
sự làm hai loại là: tự sự lịch sử và tự sự nghệ thuật. Đến thế kỉ V người ta
phân biệt: tự sự mô phỏng (không có sự can dự của người kể, như kịch), tự sự
giải thích (có kèm phân tích, bình luận) và tự sự hỗn hợp (như sử thi).
Tự sự học hiện đại manh nha từ cuối thế kỉ trước. Cho đến nay tự sự
học có thể chia thành ba thời kì:
+ Tự sự học trước cấu trúc chủ nghĩa: nghiên cứu các thành phần, chức
năng của tự sự. Các học giả tập trung vào nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của
tự sự như cốt truyện, nhân vật, ngôn từ trần thuật, điểm nhìn… chia truyện
thành hai lớp là chất liệu và hình thức, mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật,
ngôn ngữ trần thuật và tính đối thoại của nó. Có thể kể đến các công trình của
Percy Lubbock và K.Friedemann nghiên cứu các vấn đề điểm nhìn, dòng ý
thức (1921). B.Tomasepxki nghiên cứu các yếu tố và đơn vị của tự sự (1925),
V.Propp nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự của truyện cổ tích (1928).
+ Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa: đi tìm mô hình cho hình thức tự sự, mở
đầu với công trình Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự của R.Barthes năm
1968. Todorov có Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”, tiếp theo là nghiên
cứu cấu trúc thần thoại của Claude Levi-Strauss và mô hình hành vi ngôn ngữ
của Roman Jakobson. Đặc điểm của lí thuyết tự sự cấu trúc chủ nghĩa là
nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự, lấy ngôn ngữ học
làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, còn trữ tình là
sự mở rộng của ẩn dụ. Các học giả đã góp phần làm sáng tỏ bản chất biểu đạt
và giao tiếp của tự sự. Todorov xem nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ.
A.J.Greimas vận dụng sự đối lập trục liên kết và trục lựa chọn để nghiên cứu
10
cấu trúc tự sự. G.Genette tuyên bố “mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một
câu - chủ yếu là vị ngữ động từ” [44, tr.14] và được R.Barthes tán thành quan
điểm đó.
+ Tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa: gắn liền với kí hiệu học, nghiên
cũng như các phương pháp nghiên cứu tự sự. Giai đoạn đầu tập trung nghiên
cứu cấu trúc của truyện, mối quan hệ của các sự kiện tạo nên truyện. Giai
đoạn thứ hai chủ yếu nghiên cứu diễn ngôn tự sự. Và giai đoạn thứ ba, mô
hình tự sự học lại hướng đến nghiên cứu liên ngành với các lĩnh vực khác có
liên quan.
1.1.3. Những đóng góp của tự sự học trong nghiên cứu văn học
+ Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức
tạp của cấu trúc tự sự. Tác giả là người ghi lại lời kể chứ không phải một
người kể. Người trần thuật là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể. Hành vi trần
thuật tạo ra sản phẩm là văn bản tự sự. Ngôi kể là yếu tố tạo thành tiếng nói,
giọng điệu.
+ Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên làm cho người trần thuật vô
hình được chú ý phân tích.
+ Lí thuyết tự sự học cũng chỉ ra kết cấu của các tầng bậc trần thuật.
Người trần thuật càng cao thì càng xuất hiện sau và nhiệm vụ của nó là giới
thiệu người trần thuật bậc thấp. Phân biệt trần thuật chính, trần thuật phụ, siêu
tự sự để gia tăng khả năng hư cấu cho tiểu thuyết. Tự sự càng phát triển thì
siêu tự sự cũng càng phát triển theo, xuất hiện các kiểu người trần thuật khác
nhau.
+ Lí thuyết tự sự cho thấy rõ sự biến dạng thời gian bằng các biện pháp
rút gọn, tỉnh lược, cảnh, kéo dài, dừng lại, lặp lại và các hình thức đổi thay
tính liên tục của sự kiện giúp chỉ ra cơ chế nghệ thuật của tự sự.
12
+ Lí thuyết tự sự đã nêu ra vấn đề góc nhìn với điểm nhìn, tiêu cự trần
thuật với mô hình trần thuật.
+ Lí thuyết tự sự học hiện đại đã nghiên cứu sâu về hành vi ngôn ngữ
tự sự và các hình thức của nó làm cho tự học gắn chặt với phong cách học tiểu
nghĩ cách cảm và cách hành động của chính các em, hơn thế, các em còn tìm
được ở trong đó một lời nhắc nhở, một sự răn dạy, với những nguồn động
viên khích lệ, những sự dẫn dắt ý nhị, bổ ích trong quá trình hoàn thiện tính
cách của mình. [50; tr. 23]
Như vậy, văn học thiếu nhi là những tác phẩm văn học mà nhân vật
trung tâm hoặc là thiếu nhi, hoặc là người lớn, hoặc là con người, hoặc là thế
giới tự nhiên… nhưng được nhìn bằng đôi mắt trẻ thơ, có nội dung gần gũi,
quen thuộc với vốn trải nghiệm của trẻ, được các em thích thú, say mê và có
tác dụng hoàn thiện đạo đức, tâm hồn cho trẻ.
1.2.2. Các giai đoạn phát triển của văn học thiếu nhi Việt Nam
1.2.2.1. Trước cách mạng tháng Tám
“Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, ở Việt Nam đã có sách viết
cho thiếu nhi nhưng hiện tượng đó chưa đủ để khẳng định có một nền văn học
cho thiếu nhi” (Vân Thanh). Dưới chế độ phong kiến, những sáng tác văn học
cho trẻ em chưa xuất hiện. Sang những năm đầu của thế kỉ XX, văn học cho
thiếu nhi chủ yếu có được từ 3 nguồn: truyện dịch của các nhà văn Pháp như
La Fontaine, Perault…; các sáng tác lãng mạn của nhóm Tự lực văn đoàn và
sáng tác của các nhà văn hiện thực phê phán. Trong đó, các loại sách như Hoa
hồng, Hoa mai, Hoa xuân… của nhóm Tự lực văn đoàn chỉ quan tâm phản
ánh sinh hoạt của trẻ em thành thị. Các tác phẩm như Từ ngày mẹ chết, Bài
học quét nhà, Một đám cưới, Bảy bông lúa lép của Nam Cao, Bữa no đòn của
Nguyễn Công Hoan, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng… lại hướng đến
nỗi bất hạnh của trẻ em nghèo. Chú ý khai thác số phận trẻ thơ với những bi
14
kịch nhân sinh sâu sắc, các nhà văn hiện thực đã để lại trên trang viết những
cuộc đời thiếu thốn vật chất, trống vắng tinh thần và rất nặng gánh về tâm
hồn. Trong thời kì này đã xuất hiện một số truyện đồng thoại của Tô Hoài.
Trong các tác phẩm như: Đám cưới chuột, Võ sĩ Bọ Ngựa, Dế Mèn phiêu lưu
đảo hơn, phong phú hơn. Bên cạnh đề tài kháng chiến, đề tài lịch sử (Lá cờ
thêu sáu chữ vàng – Nguyễn Huy Tưởng, Sóng gió Bạch Đằng – An Cương,
Quận He khởi nghĩa – Hà Ân,…) các tác giả còn khai thác đề tài sinh hoạt,
lao động, học tập (Ngày công đầu tiên của cu Tí – Bùi Hiển, Những mẩu
chuyện về bé Ly – Bùi Minh Quốc, Đàn chim gáy – Tô Hoài…). Trong thời kì
này, đội ngũ nhà thơ viết cho các em rất hùng hậu, đặc biệt là Võ Quảng và
Phạm Hổ. Nhìn chung, thời kì này, văn học thiếu nhi Việt Nam đã phát triển
khá toàn diện và phong phú. Vào năm 1961, tuyển tập thơ văn cho thiếu nhi
lần đầu xuất bản. Đó là tín hiệu mừng, báo hiệu sự khởi sắc của văn học thiếu
nhi nước nhà.
1.2.2.4. Giai đoạn thời kì kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975)
Văn học thiếu nhi Việt Nam giai đoạn này phát triển mạnh với nhiều
cây bút tài năng và nhiều tác phẩm giá trị. Đề tài kháng chiến chống Pháp tiếp
tục được khai thác với Đội du kích thiếu niên Đình Bảng của Xuân Sách, Quê
nội của Võ Quảng, Kim Đồng của Tô Hoài. Đề tài kháng chiến chống Mỹ
được quan tâm phản ánh trong nhiều tác phẩm như: Những đứa con trong gia
đình (Nguyễn Thi), Chú bé Cả Xên (Minh Khoa), Em bé sông Yên (Vũ
Cận)… Những nhà văn như Hà Ân, Lê Vân, Nguyễn Hiền tiếp tục theo đuổi
đề tài lịch sử. Một số nhân vật và sự kiện lịch sử đã xuất hiện trong Bên bờ
Thiên Mạc, Trăng nước Chương Dương, Sát thát… Trở thành cảm hứng cho
rất nhiều sáng tác chính là cuộc sống sinh hoạt của trẻ em trên miền Bắc xã
hội chủ nghĩa. Chú bé sợ toán của Hải Hồ, Mái trường thân yêu của Lê Khắc
Hoan, Những tia nắng đầu tiên của Lê Phương Liên, Tập đoàn san hô của
16
Phan Thị Thanh Tú… là những tác phẩm đáng chú ý về mảng đề tài này.
Ngoài ra, còn có những tác phẩm tiêu biểu về mảng đề tài về nông thôn như:
Cơn bão số bốn (Nguyễn Quỳnh), Những cô tiên áo nâu (Hoàng Anh
Đường), Kể chuyện nông thôn (Nguyễn Kiên)… Nhận định về thành tựu của
phố (Nguyễn Hoàng Sơn), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Một thiên nằm
mộng, Giăng giăng tơ nhện (Nguyễn Ngọc Thuần), Con chuồn chuồn đẹp
nhất (Cao Xuân Sơn)… Thời kì này, thể loại tự truyện rất phát triển với
những tác phẩm giá trị như: Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Tuổi thơ dữ dội
(Phùng Quán), Dòng sông thơ ấu (Nguyễn Quang Sáng), Miền xanh thẳm
(Trần Hoài Dương)… Chính sách “cởi trói” của đại hội Đảng tạo điều kiện
cho các tác giả mở rộng hệ thống đề tài. Các sáng tác thời này không chỉ quan
tâm đến những đề tài truyền thống mà còn hướng đến đề tài miền núi (Chú bé
thổi kèn – Quách Liêu, Đường về với Mẹ Chữ - Vi Hồng, Đồi sói hú –
Nguyễn Quỳnh…), đề tài về sinh hoạt, tâm lí thường nhật của trẻ (Kính vạn
hoa – Nguyễn Nhật Ánh). Văn học thiếu nhi sau 75 cũng có nhiều đổi mới về
cách khám phá hiện thực cũng như quan niệm nghệ thuật về con người. Các
tác giả tiếp cận cuộc sống với cái nhìn đa chiều và nhìn nhận con người với tư
cách là một chỉnh thể phức tạp về tâm lí và tính cách. Đây là một đặc điểm
mới của văn học thiếu nhi sau đổi mới.
1.2.3. Đặc điểm của văn học thiếu nhi Việt Nam
Văn học thiếu nhi Việt Nam có sự đóng góp tâm lực của rất nhiều thế
hệ nhà văn, trong đó có cả những cây bút nhí. Từ sự đa dạng của chủ thể sáng
tác, văn học thiếu nhi Việt Nam phát triển với sự phong phú về đề tài, thể loại
và phong cách nghệ thuật. Sự đa dạng và phong phú đó đồng hành cùng văn
học thiếu nhi từ văn học dân gian đến văn học viết. Nói đến văn học dân gian
là nói đến sự phong phú của hệ thống thể loại tự sự và hệ thống thể loại trữ
tình với những câu chuyện cổ tích, ngụ ngôn, truyền thuyết, thần thoại, truyện
18
cười; với những bài đồng dao, những câu hát ru, những bài vè, câu đố… Văn
học viết chứng kiến sự góp mặt của thơ trữ tình, truyện thơ, truyện ngắn,
truyện dài, tiểu thuyết, tự truyện... Trong số đó, truyện thơ với tư cách là
những tác phẩm tự sự bằng thơ trở thành thể loại mang tính trung gian, lưỡng
Gió đừng làm đứt dây tơ
Cho em sống trọn tuổi thơ - cánh diều”.
Đứng trước hệ thống đề tài trên, các tác giả bằng tài năng của mình đã
tạo ra sự mới mẻ cho tác phẩm. Phong cách nghệ thuật của người sáng tác góp
phần làm nên sự phong phú về sắc thái biểu đạt. Chúng ta dễ dàng nhận diện
ra đâu là thơ của Võ Quảng, Phạm Hổ, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hoàng Sơn,
Cao Xuân Sơn; đâu là truyện của Tô Hoài, Nguyễn Nhật Ánh, Nguyễn Ngọc
Thuần, Quế Hương… Vì vậy, dù văn học thiếu nhi có khai thác những vùng
thẩm mĩ quen thuộc thì mỗi một tác phẩm vẫn có sức hút, có khả năng “mời
gọi” riêng của mình.
Dù vận động với tính chất phong phú, đa sắc màu như vậy nhưng văn
học thiếu nhi Việt Nam cũng rất thống nhất về tư tưởng, phương pháp sáng
tác. Chức năng giáo dục của văn học thiếu nhi luôn được các tác giả đặt lên
hàng đầu. Tô Hoài khẳng định: “Nội dung một tác phẩm văn học viết cho
thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng đức tính con người. Nói thì
thừa, cần nhắc lại và thật giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với
tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn
đọc ấy”. Tuy nhiên, các nhà văn không muốn mình là người thuyết giáo, đưa
ra những bài học giáo huấn khô khan, cứng nhắc cho các em. Nghệ thuật giáo
dục là điều được các tác giả quan tâm thực hiện thường xuyên. Các tác giả, dù
là trẻ em hay nhà văn lớn tuổi, họ đều "nhìn con người, nhìn cuộc đời bụi bặm
của chúng ta bằng con mắt trong veo và ngơ ngác của con trẻ...". Vì thế, các
tác phẩm của họ đã trở thành những thế giới nghệ thuật non trẻ, tinh khôi, ngộ
20
nghĩnh, đáng yêu. Điều đó đúng với tinh thần mà tác giả Quang Huy đã phát
biểu: “Thơ cho thiếu nhi bao giờ cũng phải vui tươi, ngộ nghĩnh. Đằng sau
những câu phải giấu những nụ cười. Các em không phải là những ông cụ non,
không chấp nhận những bài thơ khô khan, nghiêm nghị quá mức. Mỗi bài thơ
lên trong trang viết của Võ Quảng với những hình ảnh mang nét đặc trưng
riêng không lẫn với bất cứ vùng quê nào khác. Nó như được viết lên bằng tất
cả niềm xúc động của nhà văn.
Những trang viết về cảnh vật và con người Quảng Nam của Võ Quảng
giúp bạn đọc khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp chung quanh mình, cái đẹp của
thiên nhiên, cái đẹp của cuộc sống phong phú. Quê hương dưới ngòi bút của
ông như bừng sáng rực rỡ hơn, từ cỏ cây hoa lá đến chim muông. Tất cả đều
trở nên sống động, có tâm hồn, tình cảm, có ước mơ, có suy tư và đôi khi có
cả một triết lý về cuộc sống. Qua những trang văn, ta cảm nhận được hình
bóng của một miền quê và tình yêu quê hương rất sâu sắc trong con người Võ
Quảng.
1.3.1.2. Cuộc đời
Võ Quảng sinh năm 1920 trong một gia đình nhà Nho trung lưu ở xã
Đại Hòa, huyện Đại Lộc, bên dòng sông Thu Bồn, Quảng Nam - Đà Nẵng.
Năm 15 tuổi, Võ Quảng được theo học trường Quốc học Huế. Tại đây,
ông đã được tiếp xúc với sách báo tiến bộ và chính những quyển sách ấy đã
thắp lên ngọn lửa cách mạng ở một số học sinh trường Quốc học. Ở tuổi 16,
Võ Quảng gia nhập tổ chức Thanh niên Dân Chủ. Đến năm 17 tuổi Võ Quảng
tham gia cách mạng và bị bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ. Từ nơi đây đã ghi dấu
bao kỉ niệm một thời học sinh sôi nổi, khao khát đổi thay của ông. Sau khi trải
qua các nhà lao ở Huế, Hội An, Vĩnh Điện với điều kiện giam cầm tàn khốc,
Võ Quảng bị đưa về quản thúc vô thời hạn tại Hội An, sau đó ở quê nhà, cấm
mọi liên hệ với người ngoài. Thời gian này Võ Quảng đọc rất nhiều sách từ
22
văn học, triết học đến lịch sử. Tất cả vốn đọc và sự từng trải ở tuổi 20 của ông
kết tinh vào văn thơ như một phản quang cuộc đời với bản lề là Cách mạng
Tháng Tám năm 1945.
Sau Cách mạng, Võ Quảng được cử làm ủy viên Tư pháp thành phố Đà