lUẬN văn THẠC sĩ các yếu tố ẢNH HƯỞNG đến QUYẾT ĐỊNH đầu tư TRỰC TIẾP nước NGOÀI vào TỈNH VĨNH LONG - Pdf 35

n


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG

LÊ THỊ XUYÉN

CÁC YÉU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN QUYÉT ĐỊNH
ĐẦU TƯ TRỰC TIÉP NƯỚC NGOÀI VÀO
TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ NGÀNH: 60 34 01 02

Vĩnh Long, 2016


Ì1

[f

m
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU LONG

LÊ THỊ XUYÉN

CÁC YÉU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÉN QUYÉT ĐỊNH
ĐẦU TƯ TRỰC TIÉP NƯỚC NGOÀI

3. WTO: tổ chức Thương mại thế giới
4. IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế
5. USD: đô la Mỹ
6. GDP: tổng thu nhập quốc nội
7. GRDP: tổng thu nhập của một địa phương
8. PCI: chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh
9. ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
10. DN: doanh nghiệp
11. Tp. HCM: thành phố Hồ Chí Minh
12. OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
13. UNCTAD: Tổ chức hội nghị Liên hiệp quốc về Thương mại và Phát triển
14. BCC: hợp tác kinh doanh
15. BOT: xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
16. BTO: xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
17. BT: xây dựng - chuyển giao
18. PPP: đối tác công tư
19. UNICEF: Quỹ Nhi Đồng Liên Hiệp Quốc
20. THCS: trung học cơ sở
21. THPT: trung học phổ thông
22. ĐTNN: đầu tư nước ngoài
23. GCNĐT: giấy chứng nhận đầu tư
24. TNHH: trách nhiệm hữu hạn
25. HĐBT: Hội đồng bộ trưởng
26. UBND: Ủy ban nhân dân
27. CBCC: Cán bộ công chức


PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được
rất nhiều thành tựu về kinh tế quan trọng, ngày càng được bạn bè quốc tế đánh giá


Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của các nhà đầu tư nước
ngoài khi đầu tư vào tỉnh Vĩnh Long, từ đó đưa ra giải pháp để tăng cường FDI của
tỉnh Vĩnh Long.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng FDI tại tỉnh Vĩnh Long.
Mục tiêu 2: Phân tích đánh giá của nhà đầu tư đối với các nhân tố thu hút FDI
vào Vĩnh Long.
Mục tiêu 3: Đề xuất giải pháp cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Vĩnh Long trong thời gian tới.
2.3 Câu hỏi nghiên cứu
1/ Thực trạng FDI của tỉnh Vĩnh Long như thế nào?
2/ Những yếu tố nào tác động đến quyết định đầu tư FDI tại tỉnh Vĩnh Long? 3/
Những giải pháp nào để cải thiện những yếu tố tác động đến thu hút đầu tư FDI vào tỉnh
Vĩnh Long?
3

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc phân tích đánh giá của nhà đầu tư đối với các nhân tố
thu hút FDI vào Vĩnh Long
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Từ năm 1993 đến tháng 12 năm 2015 (từ khi có DN FDI đầu tiên
đầu tư vào tỉnh Vĩnh Long đến nay).
Về không gian: 27 DN nước ngoài đang đầu tư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
4

trực tiếp với bảng câu hỏi, sau đó việc phân tích dữ liệu sẽ được thực hiện. Kết quả
phân tích sẽ là cơ sở để đề xuất giải pháp.
4.3 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp: Được thu thập từ các báo cáo liên quan đến FDI từ Sở Kế
hoạch đầu tư tỉnh Vĩnh Long, Cục Thuế tỉnh Vĩnh Long, Ban Quản lý các khu công
nghiệp tỉnh Vĩnh Long, Sở Khoa học Công nghệ, trên website của Tổng cục Thống
kê, Cục quản lý Đầu tư nước ngoài, VCCImekong hay các bài viết được đăng trên
tạp chí và các công trình nghiên cứu khoa học.
Số liệu sơ cấp: Thông tin thu thập từ phiếu điều tra thông qua việc phỏng
vấn chuyên gia là các nhà đầu tư nước ngoài vào tỉnh Vĩnh Long.
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua quy trình sau:
Bước 1: Xây dựng bảng câu hỏi.
Xây dựng bảng câu hỏi thô dựa trên nền tảng các thông tin cần thu thập trong
mô hình lý thuyết.
Phỏng vấn các chuyên gia là các nhà quản lý và hiệu chỉnh các câu hỏi dựa
trên ý kiến đóng góp.
Bước 2: Phỏng vấn các DN FDI.
Bước 3: Nhập số liệu.
Bước 4: Xử lý số liệu.
4.4 Phương pháp phân tích
Dùng thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel để phân tích số liệu.
Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu những vấnđề
kinh tế - xã hội cần phân tích trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính của các
hiện tượng và quá trình. Một số đại lượng cần tính trong phương pháp này là:
+ Giá trị trung bình: Bằng tổng tất cả các giá trị biến quan sát chia cho số
quan sát.

Trang
10


-

Nguyen Thi Phuong Hoa (2004), kết luận FDI có tác động dương tới tăng trưởng
kinh tế của các địa phương thông qua hình thành, tích lũy tài sản vốn và có sự
tương tác cùng chiều giữa FDI với nguồn nhân lực.

-

Le Thanh Thuy (2007), nhận định FDI đã bổ sung cho đầu tư trong nước giúp
cho việc mở rộng sản xuất, giảm thâm hụt ngân sách, đóng góp vào kim ngạch
xuất khẩu, giải quyết việc làm.

-

Anh và Thang (2007), nghiên cứu các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở các
tỉnh thành Việt Nam cho thấy quy mô thị trường, lao động và cơ sở hạ tầng có tác
động ý nghĩa lên FDI, trong khi chính sách của chính phủ thông qua chỉ số cạnh
tranh cấp tỉnh không có ý nghĩa.

-

Le Viet Anh (2009), nghiên cứu về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế
ở Việt Nam cho thấy đóng góp của FDI đối với tăng trưởng được ước tính 7%
trong 37% tổng số vốn đóng góp cho sự tăng trưởng trong giai đoạn 1988 - 2002.
Phân tích hồi qui cho thấy rằng FDI có mối quan hệ dương với đầu tư trong nước
và tăng trưởng kinh tế, cũng như FDI tạo ra những tác động dương đáng kể trong

Trang
11


những đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân, tác giả đã nêu giải pháp để thu
hút FDI vào Việt Nam phục vụ CNH, HĐH đất nước.

-

Nguyễn Tiến Long (2010), kiểm định FDI chuyển dịch kinh tế ở Thái Nguyên,
với phương pháp phân tích định tính và định lượng từ số liệu giai đoạn 1993 2009 cho thấy: (i) FDI góp phần quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của tỉnh Thái Nguyên theo hướng CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; (ii) FDI tác
động tích cực đến cân đối tài chính Thái Nguyên, tăng nhanh kim ngạch xuất
khẩu , mở rộng thị trường, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và (iii)
FDI góp phần đẩy nhanh tốc độ độ thị hóa , phát triển kinh tế đồng đều tại các
vùng kinh tế của Thái Nguyên.

-

Nguyễn Tấn Vinh (2011), nghiên cứu FDI đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thu hút và sử
dụng FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. Hồ Chí Minh theo hướng hiệu quả và
bền vững.

Trang
12




FDI và thương mại

-


vốn FDI ở một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho TP. Hồ Chí Minh.
Tác giả đề xuất mạng tính định hướng về cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường
thu hút FDI tại TP. Hồ Chí Minh cũng như cả nước nói chung.

-

Le Quoc Thinh (2011) trong nghiên cứu đã kết luận rằng nhóm yếu tố thị trường,
nguồn lao động, cơ sở hạ tầng và chính sách đầu tư là những yếu tố tác động đến
sự hài lòng của doanh nghiệp FDI về môi trường đầu tư của tỉnh Long An.

-

Chunlai Chen (2011): Tác giả trình bày một phân tích thuyết phục và giải thích

Trang
13


lý thuyết của FDI bằng các thực nghiệm để đánh giác yếu tố quyết định vị trí đầu
tư của các nhà đầu tư FDI, và có sự khác biệt trong hành vi đầu tư giữa các nhà
đầu tư lớn hoặc nhỏ.
• FDI và thể chế chính sách

-

Nguyễn Mạnh Toàn (2010) trong mô hình nghiên của mình, bằng phương pháp
thống kê, mô tả, đã kết luận rằng cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát triển là yếu tố quan
trọng bậc nhất, kế đến là những chế độ đãi ngộ hỗ trợ đầu tư của chính quyền địa
phương, thị trường tiềm năng và cuối cùng là vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng xã hội.


Chương 2: Thực trạng và kết quả nghiên cứu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2015.
Chương 3: Giải pháp cải thiện các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Vĩnh Long.

Trang
14


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN


1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ FDI VÀ THU HÚT FDI
1.1.1

-

Khái niệm về đầu tư, đầu tư trực tiếp

Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam thì Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn
bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các
hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật
có liên quan.

-

Đầu tư là việc bỏ tiền vốn để mua các công cụ tài chính hoặc tài sản khác để có
được lợi nhuận. Đầu tư có liên quan đến tiết kiệm hay trì hoãn tiêu dùng.

-

nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là
những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh

Trang
15


nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một
chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp
đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới,cấp tín dụng dài hạn (trên 5 năm), và
quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên.
-

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO, 1996) đưa ra định nghĩa như sau về FDI:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước
chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các
công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà
người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp
đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là
"công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Ở Điều 3 của Luật đầu tư Việt Nam được Quốc Hội thông qua 11/2005 đã
nêu rõ: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham
gia quản lý hoạt động đầu tư”.

1.1.3

Thu hút FDI

Nếu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, thì thu hút FDI là hoạt động vận

-

Các hình thức thu hút thụ động khác nhau từ một thực thể chủ động thành chờ
đợi thụ động các đối tác, sau đó giới thiệu và đề nghị các nhà đầu tư về những
thuận lợi và điểm đến để giúp họ quyết định nơi để đầu tư vào.

1.1.3

Các hình thức FDI

FDI có thể được phân loại dựa trên quan điểm của nhà đầu tư (hoặc nước đi
đầu tư) hoặc của nước sở tại. Từ góc nhìn của các nhà đầu tư, Caves (1971) FDI
được chia thành 3 loại:
-

Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” sản xuất các sản phẩm cùng loại hoặc
tương tự ở các quốc gia khác nhau.

-

Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” có các cơ sở sản xuất ở một số nước nào
đó, sản xuất ra sản phẩm là đầu vào cho sản xuất của nó ở một số nước khác.

-

Công ty đa quốc gia “đa chiều” có các cơ sở sản xuất ở các nước khác nhau mà
chúng hợp tác theo cả chiều ngang và chiều dọc.

-


Doanh nghiệp liên doanh (A Joint Venture Enterpise)
Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hợp
đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT, PPP.
Góp vốn, mua cổ phần và sáp nhập, mua lại công ty.
1.1.4

1.1.4.1

Tác động của FDI đối với nước tiếp nhận đầu tư

Tác động tích cực
Là nguồn vốn hỗ trợ cho phát triển

FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn
ngoại tệ của các nước nhận đầu tư, đặc biệt là đối với các nước kém phát triển.
Hầu hết các nước kém phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn”đó là: Thu
nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp và rồi hậu quả lại là thu nhập
thấp. FDI là một cú hích phá vỡ một mắt xích trong cái “vòng luẩn quẩn” này. Vốn
đầu tư là cơ sở tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật,
tăng năng suất lao động... Từ đó tạo tiền đề tăng thu nhập, tăng tích lũy cho sự phát
triển của xã hội.
Đặc biệt là FDI, nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng thiếu vốn mà
không gây nợ cho các nước nhận đầu tư. Theo mô hình lý thuyết “hai lỗ hổng” của
Cherery và Stront có hai cản trở chính cho sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

Trang
18


đó là: Tiết kiệm không đủ đáp ứng cho nhu cầu đầu tư được gọi là “lỗ hổng tiết

Trang
19


tiếp nhận chuyển giao công nghệ này.
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển muốn
thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh ta kinh tế. Đây cũng là điểm
nút để các nước chậm phát triển và đang phát triển thoát ra khỏi các vòng luẩn quẩn
của sự đói nghèo. Thực tiễn và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, các quốc gia
nào thực hiện chiến lược kinh tế mở của với bên ngoài, biết tranh thủ và phát huy
tác dụng của các nhân tố bên ngoài biến nó thành những nhân tố bên trong thì quốc
gia đó tạo được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Mức tăng trưởng ở các nước đang phát triển thường do nhân tố tăng đầu tư,
nhờ đó các nhân tố khác như tổng số lao động được sử dụng, năng suất lao động
cũng tăng lên theo. Vì vậy có thể thông qua FDIđể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Rõ ràng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy
kinh tế ở các nước đang phát triển. Nó là tiền đề, là chỗ dựa để khai thác những
tiềm năng to lớn trong nước nhằm phát triển nền kinh tế.
Thúc đẩy quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế

Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ đòi hỏi của bản thân sự phát triển
nội tại nền kinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hứng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang
diễn ra mạnh mẽ hiện nay.
FDI là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh tế đối ngoại. Thông qua
qua hoạt động đầu tư này các quốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Để hội nhập vào nền kinh tế giữa các nước trên thế
giới, đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với
sự phân công này.

thác và sử dụng được. Thì FDIđược coi là chìa khóa quan trọng để giải quyết vấn đề
trên đây. Vì FDItạo ra được các điều kiện về vốn và kỹ thuật, cho phép khai thác và
sử dụng các tiềm năng về lao động.
Tuy nhiên sự đóng góp của FDI đối với việc làm trong nước nhận đầu tư phụ
thuộc rất nhiều vào chính sách và khả năng kỹ thuật của nước đó.
1.1.4.2

Tác động tiêu cực
Chuyển giao công nghệ

Các công ty nước ngoài có thể sẽ chuyển giao những công nghệ kỹ thuật lạc
hậu và máy móc thiết bị cũ. Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật cho nên máy móc công nghệ nhanh chóng trở thành lạc hậu. Vì vậy họ thường

Trang
21


chuyển giao những máy móc đã lạc hậu cho các nước nhận đầu tư để đổi mới công
nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm của chính nước họ, sử dụng
lao động ít hơn nhằm làm giảm giá thành sản phẩm.
Ngoài ra, rất khó tính được giá trị thực của những máy móc chuyển giao có
công nghệ cũ. Do đó nước đầu tư thường bị thiệt hại trong việc tính tỷ lệ góp trong
các doanh nghiệp liên doanh và hậu quả là bị thiệt hại trong việc chia lợi nhuận.
Gây tổn hại môi trường sinh thái

Do các công ty nước ngoài bị cưỡng chế phải bảo vệ môi trường theo các
quy định rất chặt chẽ ở các nước công nghiệp phát triển, thông qua đầu tư trực tiếp
nước ngoài họ muốn đầu tư sang các nước mà biện pháp cưỡng chế, luật bảo vệ môi
trường không hữu hiệu.

dần thị trường, dễ lâm vào tình trạng phá sản.
Phụ thuộc về kinh tế đối với các nước nhận đầu tư

FDI đóng góp vốn bổ sung quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và
thực hiện chuyển giao công nghệ cho các nước nhận đầu tư. Đồng thời cũng thông
qua các công ty xuyên quốc gia là những bên đối tác nươc ngoài để chúng ta có thể
tiêu thụ hàng hóa vì các công ty này nắm hầu hết các kênh tiêu thụ hàng hóa từ
nước này sang nước khác. Vậy nếu càng dựa nhiều vào FDI, thì sự phụ thuộc của
nền kinh tế vào các nước công nghiệp phát triển càng lớn. Và nếu nền kinh tế dựa
nhiều vào FDI thì sự phát triển của nó chỉ là một phồn vinh giả tạo. Sự phồn vinh
có được bằng cái của người khác.
Vấn đề chuyển giá và hạch toán lỗ của một số doanh nghiệp FDI

Đối với một số doanh nghiệp FDI theo hình thức liên doanh, phía đối tác
nước ngoài dùng nhiều thủ đoạn nâng cao giá thành sản phẩm thông qua các hoạt
động như quảng cáo, mua nguyên vật liệu từ nước ngoài, dẫn đến tình trạng thua lỗ
giả và làm giảm tỷ lệ phần vốn góp của phía Việt Nam trong liên doanh (thường chỉ
là 30% bằng quyền sử dụng đất). Do đó, hoặc là phía Việt Nam phải tăng vốn góp
hoặc là phải chuyển nhượng phần góp vốn của mình cho phía đối tác nước ngoài, từ
đó chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, gây nên thất thoát trong quản
lý kinh tế. Vấn đề này còn gọi là chuyển giá (transfering price).
Chuyển giá là những giao dịch về giá ẩn bên trong giao dịch giữa các công ty
mẹ và các chi nhánh, công ty con. Những giao dịch về giá này được thực hiện dựa
trên những tính toán bên trong của các công ty xuyên quốc gia và giá của những
giao dịch này không phản ánh đúng giá trị thị trường. Các công ty xuyên quốc gia

Trang
23




Trang
24


ra cho nước chủ nhà nhiều hay ít lại phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình
độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư.
1.1.5

Vai trò của FDI đối với địa phương

Vai trò của FDI trong đầu tư, phát triển kinh tế và phát triển nguồn nhân lực:
Thực tế cho thấy rằng FDI làm tăng nguồn vốn của địa phương, việc thành lập các
doanh nghiệp FDI tạo việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp và làm chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
Với việc đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp nhẹ, cần lượng nhân công
lớn như dệt may, sản xuất giày dép... các doanh nghiệp FDI đóng góp tích cực vào
công tác giải quyết việc làm cho người lao động địa phương. Đặc biệt, lao động
được doanh nghiệp FDI tuyển dụng thường có yêu cầu cao hơn và phải trải qua quá
trình đào tạo mới có thể làm việc được. Điều đó góp phần nâng cao trình độ tay
nghề chung của nguồn nhân lực trong tỉnh.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp nước ngoài đến với Vĩnh Long đa số đầu tư
vào ngành công nghiệp sẽ góp phần làm gia tăng tiềm lực công nghiệp của tỉnh, đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại
hóa bằng cách tăng tỉ trọng ngành công nghiệp trong cơ cấu GDP. Không những
thế, thông qua việc hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp
của địa phương sẽ có cơ hội tiếp nhận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên
tiến và từng bước tiếp cận thị trường quốc tế;... nâng cao năng suất lao động, giảm
chi phí sản xuất, và nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm.
Có thể khẳng định, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là giải pháp giúp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status