Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------

HỒ THỊ SONG QUỲNH

KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CẤP CƠ SỞ

Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62 31 04 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn: PGS.TS. Lê Thị Thanh Hương

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Hệ thống số liệu
và kết quả nghiên cứu trong toàn bộ luận án là trung thực, khách quan và chưa có
bất kỳ một công trình nào công bố.

Tác giả luận án

Hồ Thị Song Quỳnh



CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CẤP CƠ
SỞ ................................................................................................................................. 8
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề…................8
1.2.Một số vấn đề lý luận nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán
bộ quản lý hành chính cấp cơ sở ................................................................................. 26
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản
lý hành chính cấp cơ sở............................................................................................... 53
Tiểu tiết chương 1 ....................................................................................................... 57
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 59
2.1. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................. 59
2.2. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể.................................................................... 60
2.3. Xử lý dữ liệu và cách đánh giá ............................................................................ 70
Tiểu kết chương 2 ....................................................................................................... 74
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
CẤP CƠ SỞ ............................................................................................................... 75
3.1. Đánh giá khái quát thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ
quản lý hành chính cấp cơ sở ...................................................................................... 75
3.2. Thực trạng các kỹ năng thành phần của kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của
cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở .......................................................................... 79
3.3.Các yếu tố tác động đến kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ QLHC
cấp cơ sở ................................................................................................................... 122
3.4.Kết quả thực nghiệm tác động ............................................................................ 137
Tiểu kết chương 3 ..................................................................................................... 145
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 151
PHỤ LỤC................................................................................................................. 159




STT

Số thứ tự

Tr

Trang

TCĐĐ

Tranh chấp đất đai

TP HCM

Thành phố Hồ Chí Minh

UBND

Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 2.1

Một số đặc điểm của mẫu khảo sát chính thức là cán bộ QLHC
cấp cơ sở tham gia trả lời bảng hỏi

Bảng 2.2



Biểu hiện và mức độ kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức
tranh chấp đất đai

Bảng 3.5

Điểm trung bình các tiểu thang đo thể hiện tính đúng đắn, tính
thuần thục và tính hiệu quả của KN1

Bảng 3.6

Kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức tranh chấp đất đai của
cán bộ qua giải quyết tình huống

Bảng 3.7

So sánh mức độ kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức tranh
chấp đất đai theo các nhóm khách thể khác nhau

Bảng 3.8

Mức độ kỹ năng thu thập thông tin và phân tích mâu thuẫn,
nguyên nhân của vấn đề tranh chấp

Bảng 3.9

Điểm trung bình của các thang đo thể hiện tính đúng đắn, tính
thuần thục và tính hiệu quả KN2

Bảng 3.10

thể

Bảng 3.16

Mức độ kỹ năng trình bày vấn đề tranh chấp và thuyết phục các
bên tranh chấp trong quá trình hòa giải

Bảng 3.17

Điểm trung bình thang đo thể hiện tính đúng đắn, tính thuần
thục và tính hiệu quả của KN4

Bảng 3.18

So sánh mức độ kỹ năng trình bày vấn đề tranh chấp và thuyết
phục các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải theo các nhóm
khách thể

Bảng 3.19

Hệ số tương quan và hồi quy bậc nhất giữa các nhóm kỹ năng và
các yếu tố tác động

Bảng 3.20

Kết quả đánh giá của cán bộ cơ sở về thực trạng đánh giá cán bộ
nơi họ làm việc

Bảng 3.21



Bảng 3.27

Sự thay đổi của kỹ năng đề ra các phương án và lựa chọn
phương án để giải quyết tranh chấp đất đai

Bảng 3.28

Sự thay đổi của kỹ năng lựa chọn phương án để giải quyết tranh
chấp đất đai qua giải quyết tình huống

Sơ đồ 3.1

Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục
và tính hiệu quả của KN1

Sơ đồ 3.2

Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục
và tính hiệu quả của KN2

Sơ đồ 3.3

Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục
và tính hiệu quả của KN3

Sơ đồ 3.4

Hệ số tương quan peason r giữa tính đúng đắn, tính thuần thục
và tính hiệu quả của KN4

lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi.
Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ
sở là một trong những kỹ năng có vai trò quan trọng hiện nay. Vai trò của kỹ năng
này không chỉ ở chỗ giải quyết được nhu cầu, bức xúc của người dân về đất đai để
tránh được tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị - xã hội, mà còn tạo niềm tin
của dân với nền hành chính Nhà nước - khi mà giải quyết tranh chấp đất đai hiện
nay được xem là vấn đề nổi cộm, việc giải quyết còn nhiều bất cập, yếu kém,
thường kéo dài, phí tổn nhiều, hiệu quả ít, gây không ít phiền toái, bức xúc cho
người dân. Theo những báo cáo gần đây của chính phủ và của các địa phương, có
đến khoảng 70% các vụ khiếu kiện là liên quan đến lĩnh vực đất đai, có những vụ
khiếu kiện tranh chấp đất đai kéo dài gây nhiều phiền hà cho người dân, ảnh
hưởng đến sự ổn định của xã hội

1


Hơn nữa, do tính chất công việc đặc thù ở cấp cơ sở là phải thường xuyên
tiếp xúc và giải quyết trực tiếp vấn đề đất đai của người dân để vừa đáp ứng được
nhu cầu, nguyện vọng của người dân nhưng cũng vừa đảm bảo đúng với chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, kỹ
năng giải quyết tranh chấp đất đai là yêu cầu quan trọng không thể thiếu của cán
bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên mà việc nghiên cứu đề tài “Kỹ năng
giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở” là rất cần
thiết nhằm phát hiện thực trạng và có cơ sở đề xuất một số biện pháp góp phần
nâng cao kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai cho người cán bộ quản lý hành
chính cấp cơ sở để đáp ứng yêu cầu công việc.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận và thực trạng về kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai
của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở ở Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó đề xuất

cơ sở đạt được ở mức trung bình, trong đó tính đúng đắn của kỹ năng được thể hiện
tốt nhất; tính thuần thục thể hiện kém nhất. Thâm niên công tác, thâm niên giải quyết
tranh chấp đất đai và địa bàn sinh sống là những tiêu chí tạo ra sự khác biệt trong kỹ
năng của họ.
5.2. Trong những yếu tố tác động được nghiên cứu thì yếu tố đánh giá cán bộ;
cơ chế, thủ tục hành chính có tác động mạnh hơn đến kỹ năng giải quyết tranh chấp
đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.
5.3. Kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính
cấp cơ sở có thể được nâng cao thông qua bồi dưỡng kiến thức về nội dung, mục
đích, cách thức tiến hành kỹ năng, giải quyết các bài tập tình huống và thực hành
rèn luyện các kỹ năng để giải quyết vấn đề tranh chấp đất đai đặt ra.
6. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
6.1. Giới hạn về nội dung và khách thể nghiên cứu
- Trong điều kiện nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ xem xét kỹ năng
giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở thông qua
giải quyết tranh chấp phát sinh dân sự giữa những người sử dụng đất với nhau
trong quá trình sử dụng đất, bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, không
nghiên cứu tranh chấp giữa người dân với cơ quan Nhà nước.
- Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai,
luận án chỉ nghiên cứu ba đặc điểm: tính đúng đắn, tính thuần thục và tính hiệu
quả của kỹ năng.

3


- Trong các yếu tố tác động, luận án chỉ tập trung nghiên cứu một số các yếu tố
có tác động đến kỹ năng GQTCĐĐ của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, bao
gồm các yếu tố khách quan ( Cơ chế, thủ tục hành chính; thói quen ứng xử của người
dân và công tác đánh giá cán bộ) và các yếu tố chủ quan ( Động cơ và thái độ làm
việc của CBQLHC cấp cơ sở).

7.3. Nhóm phương pháp điều tra thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp phỏng vấn sâu.
- Phương pháp giải quyết các bài tập tình huống.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thực nghiệm tác động.
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
8.1. Đóng góp về mặt lí luận
- Là một trong những nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng giải quyết tranh chấp
đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở, luận án đã góp phần làm sáng tỏ
những cơ sở lý luận định hướng cho việc nghiên cứu kỹ năng giải quyết tranh
chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở; làm rõ nội hàm khái niệm
kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở; chỉ
rõ các kỹ năng thành phần và xác định các yếu tố có tác động đến kỹ năng này.
- Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm lý luận tâm lý học về kỹ năng
giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở - một loại
kỹ năng còn ít được nghiên cứu ở Việt nam với tư cách là một loại kỹ năng đặc
thù của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở.
8.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án chỉ ra thực trạng kỹ năng giải quyết tranh chấp đất đai của cán bộ
quản lý hành chính cấp cơ sở hiện nay; đánh giá biểu hiện và mức độ kỹ năng giải
quyết tranh chấp đất đai của cán bộ quản lý hành chính cấp cơ sở qua các kỹ năng cơ
bản: Kỹ năng nhận dạng và xác định hình thức tranh chấp đất đai; kỹ năng thu thập
thông tin và phân tích mâu thuẫn, nguyên nhân của vấn đề tranh chấp; kỹ năng đề ra
các phương án và lựa chọn phương án giải quyết vấn đề tranh chấp; kỹ năng trình bày
vấn đề tranh chấp và thuyết phục bên tranh chấp trong quá trình hòa giải, Đồng thời
chỉ ra được trong năm yếu tố tác động thì hai yếu tố đánh giá cán bộ và thủ tục, hành
chính là những yếu tố có có tác động mạnh hơn đến kỹ năng giải quyết tranh chấp đất

CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CẤP CƠ SỞ
1.1.

Tổng quan tình hình nghiên cứu kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề

1.1.1. Nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng giải quyết vấn đề ở nước ngoài
1.1.1.1.

Nghiên cứu về kỹ năng

Kỹ năng là một vấn đề luôn được các nhà Tâm lý học quan tâm bởi giá trị vận
dụng thực tiễn của kỹ năng trong cuộc sống. Gần đây, vấn đề nghiên cứu kỹ năng
càng trở nên phong phú, đa dạng và đem lại nhiều kết quả.
Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về kỹ năng thành một số hướng
nghiên cứu chính sau đây:
*Hướng nghiên cứu lý luận chung về kỹ năng, kỹ xảo
Người đầu tiên được kể đến khi nghiên cứu về kỹ năng là nhà bác học lỗi lạc
Hy Lạp cổ đại Arixtot ( 384- 322 TCN). Trong cuốn sách đầu tiên bàn về tâm lý của
loài người “ Bàn về tâm hồn”, khi bàn đến phẩm hạnh của con người, ông đã xác
định nội dung của phẩm hạnh là “biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi”. Có
nghĩa là, con người có phẩm hạnh là con người có kỹ năng định hướng làm việc.
[ theo 48, tr.1] Nhà triết học Trung Hoa cổ đại Tuân Tử ( 289- 239 TCN) cũng thừa
nhận vai trò của hoàn cảnh có tác động làm cho con người trở thành những người
khác nhau về kỹ năng nghề nghiệp và tính cách [theo 48].
Các nhà giáo dục học nổi tiếng ở thế kỷ XIX như K.Đ Usinxki (Nga), G.G
Rutxo (Pháp), J.A Cômenxki (Tiệp Khắc) trong các công trình nghiên cứu cũng đã đề
cập đến kỹ năng trí tuệ và quá trình hình thành những kỹ năng này.
Đến đầu thế kỷ XX, Tâm lý học hành vi ra đời, đại diện là E.L Toorđai, J.B
Watson, E.Ch Tolman, B.F Skinner, K. Hulơ. Tuy xuất phát từ quan niệm máy móc

kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi [8].
A.V Pêtrovxki xem xét kỹ năng của những hành động phức tạp và điều kiện
hành động không ổn định. Ông nhấn mạnh cơ sở của việc hình thành kỹ năng là các
tri thức, kỹ năng đã có do thực hiện các hành động tương tự trước đó mang lại [42].
V.V Tsêbưsêva cho rằng, kỹ năng với tư cách là năng lực thực hiện một hành
động nào đó dựa trên những tri thức, kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt
động [51].
* Hướng nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực hoạt động
Bao gồm kỹ năng trong lĩnh vực sư phạm, học tập, lao động, giao tiếp, kinh
doanh, lãnh đạo quản lý. Cụ thể:
- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực sư phạm và giao tiếp.
Trong lĩnh vực sư phạm, người đầu tiên phải kể đến là V.V Tsêbưsêva. Theo
Bà, kỹ năng thường có liên quan với khả năng vận dụng kinh nghiệm cũ trong việc
thực hiện những hành động trong điều kiện mới. Trong các nghiên cứu của mình,
9


V.V Tsêbưsêva đã nêu những phương pháp và điều kiện rèn luyên kỹ năng, kỹ xảo
cho học sinh. Bà cho rằng, tùy theo đặc điểm của các kỹ năng, kỹ xảo mà định ra
những hình thức tổ chức và biện pháp, phương pháp giảng dạy thích hợp [51].
Kỹ năng hoạt động sư phạm được sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học, Giáo
dục học. G.X. Catschuc, V.A. Menchinxkaia đi sâu nghiên cứu các kỹ năng học tập,
đặc biệt là kỹ năng học tập độc lập và vận dụng sáng tạo kiến thức vào thực tiễn.
Các nhà tâm lý học sư phạm đều coi kỹ năng là biểu hiện của năng lực, làm rõ
khái niệm kỹ năng, kỹ xảo và mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo. Theo A.V.
Petrôvxki (1982), V.A.Crutetxki (1981), N.D. lêvitov (1970) thì kỹ năng có 2 loại:
kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao. Các tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng bậc cao
của những hành động phức tạp, trong những điểu kiện hành động không ổn định.
Theo họ, kỹ xảo đã có là thành phần của kỹ năng. Nếu không xác định rõ mối quan
hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo thì khó có thể xác định được việc dạy học và kết thúc ra

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi hoạt động của con người đều cần phải đạt
đến kỹ xảo. Trên thực tế, nhiều hoạt động đòi hỏi người lao động phải linh hoạt, mềm
dẻo để thích ứng với hoàn cảnh mới, điều kiện mới, nhất là lao động phức tạp, trong
những điều kiện biến động, con người không chỉ thành thạo các thao tác nghề nghiệp,
mà còn cần có sự linh hoạt, sáng tạo.
- Nghiên cứu kỹ năng trong lĩnh vực quản lý.
Khi nghiên cứu về năng lực tổ chức, V.I. Mikheev, L.Umanxki, A.I. Kitôv
(1985) coi kỹ năng tổ chức là một yếu tố, một dấu hiệu đầu tiên của năng lực tổ chức
hoạt động. Theo các tác giả, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức là học tập và rèn
luyện thường xuyên của người học [27].
Harold Koontz, Cysil Odonnell và Heinz Weihrich (1998) đã phân loại các kỹ
năng quản lý cơ bản như: kỹ năng kỹ thuật, kỹ năng quan hệ, kỹ năng nhận thức, kỹ
năng thiết kế. Tầm quan trọng của các kỹ năng trên thay đổi tùy theo các cấp quản lý
khác nhau[23].
Warren Blank đã phân tích 3 nhóm kỹ năng cơ bản của nhà lãnh đạo gồm: kỹ
năng nền tảng (mở rộng nhận thức về bản thân, xây dựng các mối quan hệ, xác định
rõ những kỳ vọng), kỹ năng định hướng (lập sơ đồ phạm vi hoạt động và xác định sự
cần thiết của định hướng lãnh đạo, xác lập đường lối lãnh đạo, phát triển người khác
thành lãnh đạo), kỹ năng gây ảnh hưởng (xây dựng cơ sở để đạt được cam kết, gây
ảnh hưởng để giành được sự ủng hộ tự nguyện của người khác, xây dựng môi trường
mang tính khích lệ) [ theo 15, tr. 9].
1.1.1.2. Nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề
*Những nghiên cứu chung về tình huống có vấn đề và kỹ năng giải quyết vấn đề
Khi bàn đến những nghiên cứu về việc giải quyết tình huống có vấn đề phải
kể đến các nhà Tâm lý học Xô Viết. Một trong những người tiên phong trong việc
nghiên cứu tình huống có vấn đề trong tư duy là Rubinxtein (1958), Ông cho rằng :
11


“Tư duy thường bắt đầu từ một vấn đề hay một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên, sự thắc

máy tính [80].

12


Gần đây, việc nghiên cứu giải quyết vấn đề trở nên phong phú hơn. Cùng quan
điểm xem giải quyết vấn đề như là hoạt động của tư duy có các tác giả: Goldstein và
Lewin (1987) xác định ý nghĩa của giải quyết vấn đề như là một phương pháp luận
của quá trình tư duy để giải quyết vấn đề. Và đây là một quá trình nhận thức bậc cao
đòi hỏi phải có sự điều tiết và kiểm soát thường xuyên. Quá trình này là một qui trình
rõ ràng gồm có các kỹ năng cơ bản [68]. Burroughs và Mick (2004) thì khẳng định,
tư duy sáng tạo là nguồn tài nguyên hữu ích có thể được sử dụng trực tiếp để giải
quyết nhiều quá trình khác nhau của vấn đề. Trong nghiên cứu của họ, sáng tạo giải
quyết vấn đề có tác dụng làm cho ý tưởng của nhà quản lý sâu sắc hơn để hiểu được
vấn đề [60]…
Một số nhà nghiên cứu lại quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết
vấn đề, Chrysikou (2006) lập luận thành công trong việc giải quyết vấn đề phụ thuộc
vào khả năng của người giải quyết vấn đề bằng cách xác định các loại nhóm vấn đề
có nguồn gốc từ mục tiêu. Ông giải thích, các loại nhóm vấn đề sẽ được xác lập để
phục vụ cho các mục tiêu trong thời gian thực hiện vấn đề và sự sáng tạo có thể giúp
con người giải quyết nhiều vấn đề phổ biến [63]. Todd I. Lubart và Christophe
Mouchiroud (2005) (Đại học René Descartes, Pari) đề cập đến sự sáng tạo - một khả
năng ảnh hưởng tốt đến việc giải quyết vấn đề nhưng cũng có thể là nguồn gốc của sự
khó khăn trong việc giải quyết vấn đề [75]. Theo lý thuyết của Pieget (2000) thì khả
năng giải quyết vấn đề có liên quan đến quá trình trưởng thành. Pieget giải thích
những người trẻ tuổi chỉ có thể giải quyết những vấn đề dễ dàng, không phức tạp và
khả năng giải quyết vấn đề sẽ tăng lên khi chúng lớn lên [41].
Một số tác giả khác đi sâu phân tích các khả năng và kỹ năng của con người
liên quan đến quá trình giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, Jacqueline P. Leighton (2003)
(Đại học Alberta- Canada) và Robert J. Sternberg (2003) (Đại học Yale) đề cập đến

Bransford và B.S Stein (1993) [62], J.E. Pretz và A.J. Naples [81] (Đại học Yale) cho
rằng con người cần tiến hành giải quyết vấn đề theo qui trình gồm 7 bước như sau:
nhận biết vấn đề, định nghĩa và biểu đạt vấn đề trong óc, đề ra các chiến lược giải
quyết, sắp xếp các kiến thức của mình về vấn đề, huy động các nguồn lực trí tuệ và
thể chất để giải quyết vấn đề, giám sát các kết quả đạt được hướng tới mục tiêu và
cuối cùng - đánh giá tính đúng đắn của phương án giải quyết. Đây là quá trình trí tuệ
diễn ra trong đầu. Người giải quyết vấn đề thành công là tiến hành linh hoạt các bước
tùy từng tình huống cụ thể.
Đặc biệt, tác giả Sharon L. Marcelle Crain (2002) (Đại học quốc tế AlliantSan Diego) khi đề cập đến tầm quan trọng của việc huấn luyện các kỹ năng xã hội và
kỹ năng giải quyết vấn đề cho trẻ em đã nhấn mạnh một số kỹ năng (thuộc về kỹ
năng giải quyết vấn đề) cần huấn luyện như: nhận dạng tình huống có vấn đề, phát
hiện tình huống có vấn đề, xác định bản chất của vấn đề, tập trung các ý tưởng để giải

14


quyết vấn đề, đánh giá các ý tưởng và chọn ra ý tưởng tối ưu, lập kế hoạch và thực
hiện ý tưởng đó bằng hành vi cụ thể [theo 73].
Bên cạnh đó, khi bàn về kỹ năng giải quyết vấn đề và tình huống có vấn đề,
một số nhà tâm lý học chú trọng đến các chiến lược giải quyết vấn đề mà con người
cần nắm được để giải quyết thành công những vấn đề mà họ đối mặt trong cuộc sống.
Chẳng hạn, John Malouff (Viện nghiên cứu tâm lý thuộc Đại học New England, Úc)
(2002) đưa ra 50 chiến lược giải quyết vấn đề, chia thành 9 loại với những ví dụ cụ
thể. Đó là những chiến lược giúp con người hiểu được vấn đề, đơn giản hóa các
nhiệm vụ, xác định nguyên nhân của vấn đề, sử dụng các sự giúp đỡ từ bên ngoài để
tìm ra các cách giải quyết có thể, sử dụng các kiểu suy luận để tìm cách cách giải
quyết có thể có, xác định cách giải quyết nào là tốt nhất…[72].
Tóm lại, việc nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống nói
chung đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý học, đặc biệt ở Phương Tây. Các
nghiên cứu chủ yếu hướng vào các qui trình kỹ thuật với các bước để giải quyết vấn

những vấn đề về tâm lý như: kỹ năng giải quyết vấn đề cho những người bị bệnh, những
người có vấn đề về khả năng nhận thức như bị tâm thần phân liệt, trí tuệ bị khuyết tật, trẻ
bị chấn thương não, trẻ bị rối loạn hành vi và cảm xúc, trẻ chậm phát triển.
Nghiên cứu vấn đề này, đại diện có tác giả Arthur M. Nezu (2004) với công trình
nghiên cứu về kỹ năng giải quyết vấn đề và hành vi trị liệu. Tác giả cho rằng, giải quyết
vấn đề là quá trình nhận thức, hành vi mà con người phải nỗ lực để xác định hoặc khám
phá các giải pháp hiệu quả nhằm thích ứng với những vấn đề căng thẳng gặp phải trong
cuộc sống hàng ngày. Ông cũng cho rằng, kết quả của việc giải quyết vấn đề đã được xác
định bởi 2 yếu tố liên quan với nhau nhưng lại độc lập nhau là khả năng định hướng vấn
đề và phong cách giải quyết vấn đề. Khả năng định hướng vấn đề là tập hợp các lược đồ
nhận thức, tình cảm tương đối ổn định, nó bao hàm niềm tin, thái độ, phản ứng và khả
năng thành công của một người trong việc đối phó với các vấn đề trong cuộc sống. Định
hướng vấn đề của một người có thể là tích cực hay tiêu cực. Một định hướng vấn đề tích
cực là xem vấn đề như một thách thức, lạc quan, tin tưởng rằng các vấn đề sẽ được giải
quyết, nhận thức được khả năng của mình có thể giải quyết được vấn đề và tin rằng sẽ
thành công trong việc giải quyết vấn đề. Ngược lại, định hướng vấn đề tiêu cực là xem
vấn đề như các mối đe dọa, mong đợi các vấn đề nan giải, nghi ngờ khả năng thành công
của bản thân và thất vọng, buồn bã khi phải đối mặt với vấn đề.
Vấn đề phong cách giải quyết vấn đề được gọi là giải quyết vấn đề thích hợp,
đề cập đến mô hình nhận thức - hành vi cốt lõi. Mô hình này mô tả 3 phong cách khác
nhau và gồm 4 kỹ năng giải quyết vấn đề cụ thể hợp lý là nhận thức và xây dựng vấn
đề, lựa chọn các phương pháp, ra quyết định và thực hiện các giải pháp [57].
Anja Vaskinn A.B, Kjetil Sundet C, Christina. M (2009) và một số tác giả
khác ở Viện tâm thần học, Đại học Oslo, Nauy, trong công trình nghiên cứu về “kỹ
năng giải quyết vấn đề trong hoạt động tâm thần phân liệt cao” của người bị tâm
16


thần phân liệt cao dựa trên mô hình xử lý thông tin đã cho rằng việc giải quyết những
vấn đề xã hội xảy ra theo một tuần tự giai đoạn, đầu tiên là vấn đề được phát hiện

về “Kỹ năng suy luận, khả năng giải quyết vấn đề và khả năng học tập: tác động đối
17


với chương trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp trong bối cảnh giáo dục đại học ở
Thái Lan” đã rút ra kết luận: Kỹ năng được xác định để giải quyết vấn đề là kỹ năng
suy luận, kinh nghiệm, ý thức và mối quan hệ của con người. Giải quyết vấn đề là
một quá trình quan trọng được diễn ra theo 3 bước: Tìm ra nguyên nhân của vấn đề,
tìm kiếm cách tốt nhất để giải quyết vấn đề và giải quyết bằng cách sử dụng kỹ năng
lý luận, ý thức kinh nghiệm, hoặc bất kỳ kỹ năng nào có thể liên quan đến giải quyết
vấn đề. Có nhiều thành phần liên quan đến giải quyết vấn đề như nhận thức, năng
khiếu, chỉ số IQ, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, khả năng học tập, tính cách, động
lực, kinh nghiệm [70].
Công trình nghiên cứu của Đại học Amasya - Thổ Nhĩ Kỳ (2011) với đề tài
“Kỹ năng giải quyết vấn đề của các thí sinh giáo viên”, nhóm tác giả đã đưa ra quan
điểm về vấn đề và giải quyết vấn đề. Cụ thể: Vấn đề được định nghĩa là khó hiểu đối
với nhận thức của cá nhân, là một thách thức ngăn cản đến việc đạt mục tiêu của cá
nhân. Ba tính năng chính của vấn đề là mục đích, các rào cản trong cách đạt mục đích
và cá nhân cảm thấy căng thẳng để đạt mục đích. Giải quyết vấn đề là ý thức để
nghiên cứu kế hoạch thực hiện một chủ đề có ý thức nhằm đạt được một mục đích mà
không thể đạt được một cách dễ dàng. Giải quyết vấn đề như là chỉ đạo các hoạt động
nhận thức thành mục tiêu. Nhóm tác giả này cũng đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến
thành công của giải quyết vấn đề đó là nhận thức, tình cảm và kinh nghiệm. [71].
Công trình nghiên cứu thí điểm mô hình giải quyết vấn đề của nhóm do nhóm
tác giả J.Stephen Newton, Robert H. Horner, Anne W. Todd của Đại học Oregon và
Robert F. Algozzine và Kate M. Algozzine của Đại học Bắc Carolina tại Charlotte
(2012) đã đưa ra qui trình giải quyết vấn đề cho nhóm nhằm đưa ra quyết định bằng
mô hình TIPS gồm 6 bước: Thiết lập các cơ sở giải quyết vấn đề, xác định vấn đề,
phát triển và sàng lọc giả thuyết, thảo luận và lựa chọn giải pháp, xây dựng và thực
hiện kế hoạch hành động giải quyết vấn đề, đánh giá và sửa đổi kế hoạch hành động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status