BÀI THAM LUẬN
CỦA PCT UBND THÀNH PHỐ HÀ NỘI NGUYỄN VĂN SỬU
Chủ đề “Cơ chế phối hợp trong công tác quản lý nhà nước về FDI”
(Tại Hội nghị tổng kết 25 năm thu hút ĐTNN tại Việt Nam)
Được sự đồng ý của Ban Tổ chức, thay mặt cho UBND thành phố Hà Nội,
Tôi xin phép được trình bày bài tham luận với chủ đề “Cơ chế phối hợp trong
công tác QLNN về FDI”.
Hiện tại Hà Nội có 3 cơ quan đầu mối thực hiện công tác QLNN về FDI
trên địa bàn, gồm: 1) Sở KH&ĐT tham mưu cho UBND Thành phố cấp và quản
lý các dự án FDI ngoài KCN, KCNC; 2) BQL các KCN&CX Hà Nội cấp và
quản lý các dự án trong các KCN tập trung; 3) BQL Khu công nghệ cao Hoà
Lạc cấp và quản lý các dự án trong khu. Sở KH&ĐT là cơ quan đầu mối tổng
hợp báo cáo và tham mưu cơ chế chính sách chung về hoạt động FDI trên địa
bàn, định kỳ báo cáo UBND Thành phố và Bộ KH&ĐT theo quy định.
Theo thống kê cho đến hết năm 2011, Hà Nội là địa phương đứng thứ 3
trên toàn quốc về thu hút vốn FDI. Cùng với các thành phần kinh tế khác, khu
vực FDI đã ngày càng khẳng định vai trò quan trọng, là một bộ phận hữu cơ của
nền kinh tế Thủ đô. Kể từ khi Luật ĐTNN được ban hành năm 1987 và dự án
FDI đầu tiên được cấp phép trên địa bàn Thành phố năm 1989; cho đến nay, sau
25 năm thực hiện, đã có trên 41 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đầu tư trên
địa bàn với 2.304 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 22,38 tỷ USD, tổng vốn
thực hiện đạt khoảng 9,2 tỷ USD; trong đó, Hàn Quốc dẫn đầu về số dự án đầu
tư đăng ký với 665 dự án, có tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 3,83 tỷ USD; còn Nhật
Bản dẫn đầu về vốn đầu tư đăng ký với 4,22 tỷ USD và 471 dự án.
Khu vực kinh tế có vốn FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng
trong phát triển KT-XH của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Tuy
nhiên, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động
FDI trên địa bàn thành phố Hà Nội trong thời gian qua; ngoài những tồn tại hạn
chế nói chung, UBND thành phố Hà Nội xin báo cáo về một số vướng mắc tồn
tại trong công tác QLNN về FDI cụ thể như sau:
trung bình đạt đạt 9,7 triệu USD/1 dự án, tuy nhiên số lượng các dự án dịch vụ
có quy mô nhỏ dưới 1 triệu USD ngày càng gia tăng, chiếm tỷ lệ cao khoảng
35,1% trên tổng số dự án đăng ký); các dự án quy mô lớn trong lĩnh vực công
nghệ cao, công nghệ nguồn, có giá trị gia tăng cao còn hạn chế; và việc thiếu chế
tài ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc thực hiện dự án cũng như cơ
chế xử lý vi phạm là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng một số dự án đã
được cấp GCNĐT nhưng không được triển khai theo đúng tiến độ, gây lãng phí
nguồn lực đất đai, tài nguyên, ảnh hưởng môi trường đầu tư và suy giảm lòng tin
của xã hội về tính hiệu quả trong hoạt động thu hút ĐTNN. Bên cạnh đó, cơ chế
phối hợp giữa các cơ quan QLNN trong công tác kiểm tra, giám sát đối với các
dự án đã được cấp chưa được hoàn thiện kịp thời trong bối cảnh thực hiện chế
103
độ phân cấp toàn diện cho các địa phương cũng gây nhiều khó khăn trong hoạt
động quản lý đầu tư.
- Ý thức chấp hành nghĩa vụ báo cáo định kỳ của các doanh nghiệp FDI
vẫn chưa cao, tỷ lệ thực hiện đạt thấp (khoảng 25-30%). Do vậy, việc nắm bắt
thông tin giám sát quản lý sau đầu tư của cơ quan QLNN rất khó khăn trong điều
kiện các quy định, và chế tài xử lý vi phạm của doanh nghiệp còn thấp, chưa
mang tính chất răn đe; Chưa có quy định pháp luật cụ thể về quy trình, điều
kiện, thủ tục xử lý thu hồi GCNĐT đối với những DN có vi phạm pháp luật
(không có ở trụ sở đăng ký, bỏ trốn mất tích, không thực hiện nghĩa vụ báo cáo
thống kê, không thực hiện đúng nội dung đầu tư…) dẫn đến khó khăn trong việc
phối hợp quản lý và xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp này.
Từ những vướng mắc tồn tại nêu trên, thành phố Hà Nội xin đề xuất kiến
nghị một số giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp trong công tác
QLNN về FDI cụ thể như sau:
1. Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật về FDI:
trong từng thời kỳ, tổng hợp thành chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia hàng
năm; các bộ ngành, địa phương có trách nhiệm phối hợp với Bộ KH&ĐT xây
dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư cho cả giai đoạn 5 năm và từng năm. Ngoài
chương trình xúc tiến đầu tư của Trung ương, các địa phương cũng chủ động
xúc tiến theo chương trình, danh mục được Trương ương phê duyệt và bổ sung
những đặc thù riêng của địa phương nhằm đẩy mạnh yếu tố liên kết vùng để
phát huy tiềm năng thế mạnh và hiệu quả của từng địa phương trong hoạt động
xúc tiến đầu tư.
- Để đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả và tính chuyên nghiệp, cần
có sự phối kết hợp thực hiện công tác xúc tiến một cách đồng bộ các lĩnh vực
cần thu hút đầu tư nói chung (cả đầu tư-thương mại-du lịch); tổ chức bộ máy tùy
thuộc vào đặc thù của từng địa phương, nhưng đối với các Thành phố trực thuộc
Trung ương cần thống nhất cơ quan đầu mối thực hiện chức năng xúc tiến có
thể trực thuộc UBND Thành phố như mô hình đã triển khai của một số địa
phương (TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) đảm bảo rõ chức năng, nhiệm vụ và đủ
kinh phí thực hiện với Quy chế phối hợp triển khai nhiệm vụ cụ thể rõ ràng giữa
các cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp; Định hướng tập trung xúc tiến đến một
số thị trường, đối tác trọng điểm phù hợp với điều kiện KT-XH đặc thù và lĩnh
vực cần thu hút đầu tư của địa phương. Chủ động tiếp cận, đồng hành cùng các
nhà đầu tư đang có nhu cầu tìm hiểu đầu tư tại Thành phố; đồng thời quyết liệt
chỉ đạo các Sở, Ban, ngành của Thành phố theo lĩnh vực QLNN được giao tập
trung xử lý tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai thực hiện đầu tư
có hiệu quả và tiếp tục mở rộng đầu tư được thuận lợi nhất để qua chính các nhà
đầu tư này là hình ảnh tốt, là cầu nối hữu hiệu với các nhà đầu tư mới có nhu cầu
đầu tư.
105
3. Phối hợp công tác thẩm tra cấp mới/điều chỉnh/thu hồi GCNĐT:
doanh nghiệp dự án FDI sau khi cấp GCNĐT; có quy chế phối hợp cụ thể rõ
ràng giữa các cơ QLNN từ Trung ương đến địa phương trong thực thi nhiệm vụ
nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác QLNN, phù hợp với các quy định
pháp luật và không gây chồng chéo, khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp và cơ
quan nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện như:
106
- Hướng dẫn, hỗ trợ giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình
hoạt động của dự án đầu tư; xây dựng quy trình, điều kiện xử lý thu hồi GCNĐT
đối với những trường hợp có vi phạm pháp luật (không có ở trụ sở đăng ký, bỏ
trốn mất tích, không thực hiện nghĩa vụ báo cáo thống kê và các quy định tại
GCNĐT…);
- Thống nhất mã số thuế và mã số GCNĐT áp dụng đối với doanh nghiệp
FDI như đối với doanh nghiệp trong nước (cấp đồng thời để tránh tình trạng DN
FDI cấp GCNĐT xong không thực hiện thủ tục cấp mã số thuế). Bên cạnh đó,
xúc tiến đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống phần mềm quản lý dự án FDI... đảm
bảo nắm bắt kịp thời tình hình hoạt động, sai phạm (nếu có) để kịp thời trong
công tác phối hợp liên ngành giải quyết, tháo gỡ cho doanh nghiệp hoặc xử lý vi
phạm làm trong sạch môi trường đầu tư, kinh doanh.
- Về mẫu báo cáo thống kê đề nghị nghiên cứu, thống nhất 1 mẫu báo cáo
áp dụng chung cho nhiều ngành cùng khai thác, doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm
gửi cho 1 đầu mối quản lý nhà nước (kiến nghị gửi Cục Thống kê để cập nhật tại
phần mềm quản lý dự án FDI dùng chung). Định kỳ, Cục Thống kê công bố,
phân loại tình trạng hoạt động của các doanh nghiệp để các Sở, ngành thuận lợi
cho việc xử lý công tác chuyên môn...
Trong bối cảnh thực tiễn triển khai Luật Đầu tư, pháp luật liên quan và
công tác QLNN đối với lĩnh vực FDI tại địa phương còn có những nội dung khó
khăn vướng mắc, chưa được thống nhất… thì việc xây dựng ban hành “Quy chế
phối hợp trong công tác QLNN về FDI” là rất cần thiết nhằm tạo khung pháp lý