ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ VIỆT ANH
PH¸P LUËT LAO §éNG GIóP VIÖC GIA §×NH Vµ
THùC TIÔN THI HµNH T¹I THµNH PHè Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ VIỆT ANH
PH¸P LUËT LAO §éNG GIóP VIÖC GIA §×NH Vµ
THùC TIÔN THI HµNH T¹I THµNH PHè Hµ NéI
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ HOÀI THU
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2.
Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình ...................................... 13
1.1.3.
Phân loại lao động giúp việc gia đình ............................................. 19
1.2.
Sự điều chỉnh của pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình ... 23
1.2.1.
Khái niệm và vai trò của pháp luật về lao động giúp việc gia đình ...... 23
1.2.2.
Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình ... 26
1.2.3.
Nội dung pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình ................. 32
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC
GIA ĐÌNH VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI ................................................................................. 43
2.1.
2.2.2.
Một số nhận xét về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về
lao động giúp việc gia đình.............................................................. 60
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG
GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................................. 70
3.1.
Một số giải pháp về tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật về lao động giúp việc gia đình ............... 71
3.2.
Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về lao động giúp việc gia đình ............................................... 76
3.2.1.
Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật .................................. 76
3.2.2.
Về tổ chức thực hiện ........................................................................ 78
3.2.3.
Từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội ................................................... 80
LĐGVGĐ: Lao động Giúp việc gia đình
NGV:
Người giúp việc
NLĐ:
Người lao động
NSDLĐ:
Người sử dụng lao động
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau gần ba thập kỉ đổi mới, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị
trường, trật tự xã hội được thiết lập ổn định, chất lượng cuộc sống cả về vật
chất và tinh thần của người dân Việt Nam đều đã được nâng lên rõ rệt. Số
lượng các gia đình có mức thu nhập ổn định và khá giả ngày càng gia tăng.
Đặc biệt ở khu vực thủ đô Hà Nội - trung tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội của đất nước, với tốc độ phát triển nhanh chóng cùng với quan niệm về sự
bình quyền trong các mối quan hệ, phụ nữ cũng như nam giới cũng phải đảm
nhận nhiều các công việc xã hội dẫn đến quỹ thời gian dành cho gia đình bị
thu hẹp, và người phụ nữ trong gia đình thường xuyên không có nhiều thời
gian dành cho việc chăm sóc con cái, phụng dưỡng người lớn tuổi như trước
đây và đặc biệt là việc dọn dẹp nhà cửa. Điều nay đã hình thành nên một thị
trường lao động không còn mới nhưng ngày càng phát triển trong xã hội ngày
nay; chủ yếu dành cho đối tượng lao động là phụ nữ từ nông thôn. Đó chính là
LĐGVGĐ mang đậm nét đặc trưng về giới với 98,7% lực lượng lao
động là phụ nữ, xuất thân chủ yếu từ nông thôn, gia cảnh khó khăn, nghề
nghiệp không ổn định, một số lớn tuổi không có chồng, bị góa hoặc ly hôn.,
thuộc những đối tượng có trình độ thấp, ít hiểu biết xã hội và hầu như chưa
qua đào tạo nghề. Bên cạnh đó, môi trường làm việc của người GVGĐ
thường khép kín trong không gian nhà của người sử dụng lao động (gia chủ)
và quan niệm xã hội ít nhiều còn thiếu sự tôn trọng đối với NGV. Chính vì
những đặc thù này, LĐGVGĐ dễ phải đối mặt các nguy cơ như bị mắng chửi,
đánh đập, đe dọa, bị lạm dụng sức lao động, lạm dụng tình dục... nguy cơ
không được gia chủ thực hiện đúng thỏa thuận ban đầu về công việc, thời
gian, tiền lương... hoặc các quyền lợi của họ không được đảm bảo, ví dụ như
quyền được chi trả một phần bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm xã hội
2
(BHXH).Thực tế tại thành phố Hà nội đã chỉ ra loại hình lao động này đang
nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã
hội cũng như lợi ích của các bên liên quan trong mối quan hệ này. Tình trạng
NSDLĐ GVGĐ và NLĐ không ký hợp đồng lao động, chủ yếu thỏa thuận
miệng, không đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm về thời gian làm việc, thời gian
nghỉ ngơi về an toàn vệ sinh lao động, sự vi phạm về việc đăng ký tạm trú cho
NGV, nhiều trường hợp NGV bị đối xử thậm tệ hay nhiều gia đình bị NGV
lấy trộm tài sản, tự ý bỏ việc làm đảo lộn cuộc sống của gia đình NSDLĐ xảy
ra rất phổ biến. Những vấn đề này ngày càng gây bức xúc dư luận và chính sự
lỏng lẻo trong mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ trong loại hình lao động
này là nguyên nhân khiến cho thị trường LĐGVGĐ thiếu tính chuyên nghiệp,
mặc dù đã có những quy định hướng dẫn chi tiết khi thi hành. Chính vì những
lý do trên nên em lựa chọn: “Pháp luật lao động giúp việc gia đình và thực
tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Luận
văn đi vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng thực hiện các quy
- “Thực trạng lao động là người LĐGVGĐ ở Việt Nam và một số kiến
nghị” của tác giả Nguyễn Thị Lam;
- “Một số vấn đề xã hội của lao động GVGĐ ở đô thi hiện nay” của tác
giả Trần Thị Hồng trên tạp chí nghiên cứu gia đình và giới- Viện gia đình và
giới số 02/2011.
- “Trẻ em là thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội” của nhóm tác giả do
Nguyễn Thị Vân Anh và Lê Khanh (chủ biên), NXB Chính trị Quốc Gia, Hà
Nội, 2000: Các tác giả tập trung nghiên cứu, làm rõ một số vấn đề chung liên
quan đến trẻ em, trong đó quyền trẻ em được coi là cơ sở, nền tảng pháp lý
cho việc nghiên cứu về lao động trẻ em, đồng thời trình bày phương pháp tiếp
cận nghiên cứu lao động trẻ em làm thuê giúp việc tại các gia đình ở Hà Nội.
Nhóm nghiên cứu đã mô tả các đặc điểm về gia đình, lứa tuổi trình độ học
vấn và chỉ ra một số đặc điểm về phẩm chất tâm lý của trẻ em giúp việc. Từ
đó, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra được những khía cạnh về chăm sóc và bảo vệ
4
sức khỏe, quyền học tập của trẻ em giúp việc làm căn cứ đưa ra một số giải
pháp kiến nghị đối với việc nâng cao nhận thúc về quyền trẻ em;
- “Điều kiện sống và làm việc của trẻ em gái từ nông thôn ra Hà Nội
làm nghề giúp việc gia đình” của tác giả Đặng Bích Thủy trên tạp chí Khoa
học về phụ nữ số 6/2001: Trên cơ sơ phân tích điều kiện sống, điều kiện làm
việc, chế độ nghỉ ngơi của trẻ em giúp việc gia đình thấy rằng trẻ em làm giúp
việc gia đình sống trong môi trường khép kín, không được giao tiếp với thế
giới bên ngoài. Từ đó tác giả đề xuất một số ý kiến kiến nghị nhằm nâng cao
nhận thức về quyền trẻ em qua hệ thống truyền thông đại chúng và tuyên
truyền sâu rộng pháp luật liên quan đến việc bảo vệ trẻ em và nhấn mạnh đến
việc hỗ trợ, quan tâm từ Nhà nước đối với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
- “Một số loại hình giúp việc gia đình ở Hà Nội hiện nay và các giải
pháp quản lý” do TS Ngô Thị Ngọc Anh chủ biên, NXB lao động (Hà Nội),
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát lý luận về pháp luật lao động GVGĐ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về lao động GVGĐ
tại thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động giúp
việc gia đình và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt Nam về lao
động GVGĐ theo Bộ luật lao động năm 2012 và thực trạng thi hành pháp luật
trên thực tiễn tại thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Lao động là người giúp việc gia đình có thể được nghiên cứu ở nhiều
góc độ khác nhau. Song, trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu vấn
đề mang tính pháp lý về lao động GVGĐ và thực tiễn thực hiện các quy định
của pháp luật tại thành phố Hà Nội.
6
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê
nin, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Quan điểm của
Đảng, nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Đồng thời trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương
pháp so sánh, phương pháp thống kê, điều tra xã hội học, tổng hợp, đánh giá…
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần làm rõ hơn các quy định của pháp
luật Việt Nam về lao động giúp việc gia đình;
Về mặt thực tiễn của đề tài: từ việc đánh giá thực tiễn việc thực hiện
chỉ rất nhiều loại công việc khác nhau.
Định nghĩa đầu tiên về người lao động giúp việc gia đình trên thế giới
được đưa ra tại cuộc họp các chuyên gia do ILO tổ chức năm 1951. Theo đó,
người giúp việc gia đình được định nghĩa là “người làm công việc tại nhà
riêng, theo các hình thức và thời gian thanh toán tiền công khác nhau. Người
này có thể do một hoặc nhiều người thuê và người chủ không được tìm kiếm
lợi nhuận từ công việc này” [29, tr.11].
Với cách định nghĩa như vậy thì lao động GVGĐ được nhận biết bởi
hai tiêu chí cơ bản: một là công việc của lao động GVGĐ được thực hiện
trong “hộ gia đình”, hai là NSDLĐ không được tìm kiếm lợi nhuận từ công
việc của người lao động.
Đến năm 2011, theo Điều 1 của Công ước số 189 về “Việc làm bền vững
cho lao động GVGĐ” thì “công việc giúp việc gia đình” được quy định là công
việc được thực hiện trong một hoặc nhiều hộ gia đình; còn “người lao động giúp
việc gia đình” là người thực hiện công việc gia đình trong mối quan hệ lao động
việc làm. “Người thỉnh thoảng hoặc không thường xuyên thực hiện công việc gia
8
đình và không làm việc đó như một nghề nghiệp thì không phải là người lao
động GVGĐ” [29, tr. 11].
Như vậy theo Công ước 189, bổ sung thêm một tiêu chí đó là tính chất
công việc của lao động GVGĐ phải thường xuyên tức là đều đặn, không bị
gián đoạn; còn tính chất nghề nghiệp thì có thể hiểu là tính cố định, công việc
đấy là nghề để mưu sinh. Để được gọi là một người GVGĐ thì bản thân người
lao động đó phải thực hiện và coi GVGĐ là công việc ổn định, lâu dài, là
công việc mang lại nguồn thu nhập chính cho bản thân.
Theo luật Việc làm của Singapore (2008) “người GVGĐ là người được thuê
để làm việc nhà, làm vườn hoặc lái xe phục vụ mục đích cá nhân và không được coi
các tổ chức tư nhân hay nhà nước.
Tại Việt Nam, nghề giúp việc tại các gia đình
xuất hiện từ thời kỳ
phong kiến. Trước đây, vào khoảng năm 1401, trong cải cách chế độ của Hồ
Quý Ly có một quy định đó là hạn chế số lượng gia nô trong nhà quan. Gia nô
là kẻ làm các công việc từ đồng áng đến việc nhà và gần như không có quyền
tự do. Khi thực dân Pháp chiếm Hà Nội, đô thị này xuất hiện nghề giúp việc
cho các gia đình người Pháp và cả những gia đình người Việt ở tầng lớp trung
lưu, từ đó xuất hiện những cái tên "anh xe", "con sen", "u già"...Thương mại
phát triển, nhiều người Việt trở nên giàu có và họ cũng có nhu cầu thuê người
giúp việc, thế nên đầu thế kỷ XX, số người giúp việc tăng lên đáng kể, nhiều
gia đình mua xe tay và nuôi anh xe khỏe mạnh trong nhà để đưa ông chủ, bà
chủ đi chơi, công việc, đưa con cái họ đi học... Cũng như con sen, chị khâu, u
già... họ ở dãy nhà ngang của gia chủ và được trả lương theo tháng. Đến thời
kỳ đổi mới thì quan niệm về người giúp việc không còn nặng nề như thời bao
cấp. Các gia đình có điều kiện nhưng neo người đã thuê người ở nông thôn
giúp việc cho gia đình. Như vậy cho thấy LĐGVGĐ đã thực sự tồn tại trong
xã hội Việt Nam từ rất lâu nhưng phải đến Bộ luật Lao động năm 1994 mới
đề cập chính thức tới thuật ngữ giúp việc gia đình, tại Điều 2 quy định: “Bộ
10
luật này cũng được áp dụng đối với người học nghề, người giúp việc gia đình
và một số loại lao động khác được quy định tại Bộ Luật này và có những tính
chất đặc thù của loại hình lao động này tại các điều 28, điều 139 BLLĐ” [24].
Mặc dù có đề cập đến lao động giúp việc nhưng còn rất chung chung,
không có hướng dẫn cụ thể và chế tài đi kèm, do đó Bộ luật Lao động năm
định nghĩa lao động GVGĐ có thể giống hoặc không giống nhau nhưng tựu
chung lại, định nghĩa đều đề cập đến 04 dấu hiệu đặc trưng liên quan đến lao
động GVGĐ:
Thứ nhất, phạm vi làm việc, đây là một tiêu chí cơ bản của công việc
LĐGVGĐ. Hầu hết các nước quy định phạm vi làm việc được thực hiện
trong: “Hộ gia đình”. Tuy nhiên có một số quốc gia thì quy định không chỉ
trong hộ gia đình. Ví dụ: Brunei; Tây Ban Nha.
Thứ hai, đó là LĐGVGĐ là loại hoạt động không liên quan đến hoạt
động thương mại. Ở Argentina (Nghị định No. 7.979/56) và Malaysia, pháp
luật liên quan loại trừ các hình thức lao động gắn với kinh doanh thương mại
hoặc chuyên môn được một người sử dụng lao động thực hiện tại nhà của
mình ra khỏi phạm vi của LĐGVGĐ. Brazin loại trừ công việc được thực
hiện vì mục đích phi lợi nhuận (Điều 1 của Đạo luật No. 5859 ngày 11 tháng
12 năm 1972). Ở điều 161 Bộ luật lao động của Guatemala đã loại những
công việc đem lại lợi nhuận hoặc vì mục đích kinh doanh của người sử dụng
lao động ra khỏi định nghĩa LĐGVGĐ [30].
Tuy nhiên ở Uruguay (Đạo luật số 18.065) liên quan đến những tiêu
chuẩn về lao động GVGĐ lại tập trung vào các nhiệm vụ dẫn đến “lợi ích
kinh tế trực tiếp” của người lao động GVGĐ. Như vậy cho thấy việc đòi hỏi
những kỹ năng của người lao động GVGĐ phải được đào tạo và có thể đem
lại lợi ích vật chất cho gia đình và cho cả nền kinh tế ở phạm vi rộng hơn.
Pháp, Thụy sĩ cũng có cách tiếp cận như vậy.
Thứ ba, về công việc của người lao động GVGĐ. Chủ yếu các quốc gia
12
quy định công việc của lao động GVGĐ liên quan đến hai lĩnh vực quan trọng
là chăm sóc gia đình và công việc gia đình. Một số nước có quy định thêm cả
bảo vệ, lái xe, người làm vườn là lao động GVGĐ (Tây Ban Nha, Nam phi…).
- Về độ tuổi:
Nhận thấy rằng, lao động GVGĐ có ở tất cả các nhóm tuổi từ 15 đến 60
tuổi, tuy nhiên tập trung yếu ở độ tuổi trung niên (36-55 tuổi), đặc biệt từ 40
tuổi trở đi Theo kết quả điều tra của IFGS 2011, có 61,5% người lao động
GVGĐ ở độ tuổi 36-55, 23,8% người lao động ở độ tuổi 35 trở xuống. Bởi lẽ
ở độ tuổi này phần lớn họ đã có con cái lớn và đến tuổi lao động, do đó họ có
điều kiện thoát ly gia đình để đi làm xa, hơn nữa, nhiều gia đình cũng thích
thuê những lao động ở độ tuổi này vì họ có thể ở lại với gia đình lâu hơn và
có kinh nghiệm làm việc gia đình cũng như chăm sóc các thành viên trong gia
đình tốt hơn. Bên cạnh đó, có một bộ phận là những người ở ngoài độ tuổi lao
động (trên 55 tuổi) tham gia vào thị trường lao động này, theo nghiên cứu có
khoảng 14,8% người lao động ở độ tuổi 56 trở lên nhưng NLĐ ở độ tuổi này
thường không được “ưa chuộng” vì nhóm phụ nữ này thường yếu, nắm bắt
công việc chậm không làm được công việc nặng nên nhiều hộ gia đình có tâm
lý ngại thuê người già vì hay đau ốm và bất tiện khi để người già chăm sóc,
phục vụ gia đình.
Chỉ có khoảng 3% ở độ tuổi 16-18, sở dĩ số lao động này còn khiêm tốn
bởi ở độ tuổi này ở nông thôn đa phần các em gái thường không còn đi học,
nên khi gia đình khó khăn thì để có thêm thu nhập thì các em tranh thủ ra thủ
đô làm thêm nghề GVGĐ, đối tượng này có có hội tham gia loại hình lao
động bởi dễ bảo, học việc nhanh và có thể chơi và trông em nhỏ, tuy nhiên
nhóm này thường trở lại quê nhà lập gia đình hoặc có mong muốn tìm kiếm
một công việc khác khi đến 19-20 tuổi nên tâm lý nhiều gia chủ không muốn
thuê đối tượng này vì tính ổn định thấp và dễ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp
vì chưa đến tuổi trưởng thành như trộm cắp, dễ bị kẻ xấu lợi dụng xúi giục,
quan hệ bất chính với chủ nhà…
14
Như vậy, nhóm lao động phụ nữ ở độ tuổi 40-55 là nguồn tiềm năng
thị trường lao động giúp việc gia đình, phần lớn người lao động làm nông
nghiệp hoặc các nghề nghiệp tự do (như phụ xây, buôn bán,…) ở địa phương.
Theo nhận định của người lao động, so với các gia đình xung quanh ở địa
phương, 47,3% người nhận định mức sống của gia đình mình thuộc mức
nghèo; 50,4% tự nhận mức sống gia đình ở mức trung bình.
Những phụ nữ này có gia cảnh khó khăn, đông con, cha mẹ già yếu, bệnh
tật, nghề nghiệp không ổn định, trình độ học vấn thấp; một số phụ nữ lớn tuổi
không có chồng, góa, ly thân, ly hôn (chiếm tới 20,7%). Có 65,7% người lao
động đi làm giúp việc gia đình vì lý do muốn có thêm thu nhập cho cuộc sống
bản thân và gia đình. Một số lý do khác được đưa ra là thấy bản thân phù hợp
với nghề giúp việc gia đình (9%), không tìm được việc làm khác (5,7%), không
biết làm nghề nào khác (5,7%), muốn thoát ly nghề nông (5,7%).
Đối với trẻ em đi làm GVGĐ cho các gia đình ở Hà Nội đều xuất thân
trong các gia đình nghèo, nhiều em có hoàn cảnh éo le (bố hoặc mẹ mất sớm,
bố mẹ ly thân hoặc bệnh tật…) [2, 7]. Trẻ em LĐGVGĐ chủ yếu xuất thân từ
nông thôn và trong một nghiên cứu cụ thể thì có tới 80% các em làm công
việc này có cha mẹ làm nghề nông; còn lại là làm công nhân, nội trợ hoặc
buôn bán nhỏ [26, 27, 32].
Tóm lại, đa phần là NLĐGVGĐ ở các quốc gia đều có những đặc điểm
chung về độ tuổi, đặc trưng về giới, có trình độ văn hóa không cao, có hoàn
cảnh xuất thân đặc biệt. Chính những đặc thù này đã tạo nên nét đặc trưng
trong đối tượng lao động cần được bảo vệ này.
Thứ hai, đa phần LĐGVGĐ chưa qua đào tạo kĩ năng nghề nghiệp,
chưa có kiến thức kỹ năng chuyên nghiệp.
Phần lớn lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam chưa qua đào tạo
nghề. Theo nghiên cứu” Việc làm bền vững đối với LĐGVGĐ ở Việt Nam”
năm 2011 của ILO cho thấy chỉ có 16/600 (2,8%) được đào tạo về GVGĐ
16
- Kênh tìm việc làm của đa số LĐGVGĐ chủ yếu thông qua họ
hàng/người quen, tỷ lệ người lao động tìm việc làm qua cơ sở giới thiệu việc
làm là rất thấp. Kết quả khảo sát ý kiến người giúp việc tại Hà Nội, TP. Hồ
Chí Minh 2012 của GFCD cho thấy, tỷ lệ số người tìm được công việc này
qua các trung tâm giới thiệu việc làm là 6,2%; qua bà con, họ hàng, bạn bè,
người quen là 68,9 % và tự tìm được là 10,3 % [19].
- Cũng giống như người lao động, kênh tìm người giúp việc của các gia
đình hiện nay phổ biến là thông qua bà con, họ hàng hay bạn bè, người quen
biết. Tỷ lệ ý kiến cho biết họ đã từng tìm NGV qua các trung tâm giới thiệu
việc làm chỉ chiếm 15,3 %. Tâm lý chung của các gia chủ là muốn có được
nguồn giới thiệu người giúp việc tin cậy, muốn biết những thông tin chính xác
về gia cảnh, địa chỉ sinh sống của người giúp việc. Thông qua người quen, họ
hàng giúp gia chủ có thể yên tâm về điều này trong khi các trung tâm giới
thiệu việc làm lại chưa đáp ứng được nhu cầu đó của các gia chủ.
Như vậy, GVGĐ là công việc đã có từ lâu ở Việt Nam. Cho đến nay
công việc này vẫn được đảm nhiệm bởi một bộ phận phụ nữ có trình độ học
vấn thấp hơn và mức sống nghèo hơn trong xã hội, hay có gia cảnh khó khăn.
LĐGVGĐ đang phải đối mặt với những trở ngại về tâm lý, kiến thức pháp
luật và kỹ năng làm việc. Trải qua thời gian, thái độ xã hội đã bớt đi sự kỳ thị,
coi thường đối với công việc GVGĐ và những người lao động thực hiện công
việc này. Song tình trạng thiếu tôn trọng LĐGVGĐ cũng như công việc của
họ vẫn còn tồn tại khiến cho không ít NGV phải giấu diếm nghề nghiệp của
mình. Bên cạnh đó, hiểu biết của người lao động về các quy định pháp luật
liên quan đến LĐGVGĐ còn hạn chế. Một bộ phận đáng kể NGV chưa nắm
được quyền và nghĩa vụ của mình cũng như của gia chủ. Đại đa số NGV
không qua đào tạo nghề. Những kiến thức, kỹ năng mà họ chuẩn bị cho công
việc chỉ dựa trên những kinh nghiệm cá nhân trong cuộc sống hàng ngày.
19