BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ NGUYỆT LỆ
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ NGUYỆT LỆ
THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi
Nguyên Khánh đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện
cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, toàn
thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp
luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn Thạc sĩ.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè,
đồng nghiệp đã dành sự ủng hộ, quan tâm, động viên tôi trong quá trình học
tập và thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2016
Học viên
Trần Thị Nguyệt Lệ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐKDN
Đăng ký doanh nghiệp
ĐKKD
Đăng ký kinh doanh
Bảng 2.3:
Các kênh nắm bắt thông tin về thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Bảng 2.4:
Thời gian hoàn thiện hồ sơ, thủ tục ĐKDN của tổ chức, cá nhân
Bảng 2.5:
Phương thức nộp hồ sơ của tổ chức, cá nhân
Bảng 2.6:
Thời gian nhận giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Bảng 2.7:
Tình hình thực hiện đăng bố cáo nội dung đăng ký doanh nghiệp
Bảng 2.8:
So sánh số lượng doanh nghiệp được thành lập mới trên địa bàn
Hà Nội trong 02 năm 2015 và 2016
Bảng 2.9:
So sánh vốn đăng ký doanh nghiệp trong 02 năm 2015 và 2016
Số lượng hồ sơ đăng ký qua mạng tại 05 địa phương cao nhất cả
nước (2013 – 2016)
3. Danh mục các sơ đồ
Sơ đồ 2.1:
Quy trình các bước tiến hánh đăng ký doanh nghiệp
Sơ đồ 3.1:
Đề xuất mô hình hoạt động của Phòng đăng ký kinh doanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
PHẦN NỘI DUNG
8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ 8
DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THỦ TỤC ĐĂNG
KÝ DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về thủ tục đăng ký doanh nghiệp
8
20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
23
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH 24
NGHIỆP NĂM 2014 VỀ THỦ TỤC ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP VÀ
THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Thực trạng các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về thủ 24
tục đăng ký doanh nghiệp
2.1.1. Cơ quan có thẩm quyền đăng ký doanh nghiệp
24
2.1.2. Điều kiện về đăng ký doanh nghiệp
26
2.1.3. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp
34
2.1.4. Trình tự các bước tiến hành đăng ký doanh nghiệp
38
2.1.5. Đánh giá về thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo Luật doanh 42
3.1.3. Nhóm giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan đăng ký 82
kinh doanh và tổ chức, cá nhân khi tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp
3.1.4. Nhóm giải pháp tăng cường sư phối hợp giữa các sở, ban, ngành 82
trên địa bàn Hà Nội trong việc thực thi các vấn đề về thủ tục đăng ký doanh nghiệp
3.1.5. Nhóm giải pháp về tăng cường vai trò của các tổ chức nghề 83
nghiệp đóng trên địa bàn Hà Nội nhằm hỗ trợ tổ chức, cá nhân đăng ký
doanh nghiệp
3.2. Một số kiến nghị nhằm tăng cường việc thực thi các quy định pháp 83
luật về thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014
3.2.1. Kiến nghị đối với Chính phủ
83
3.2.2. Kiến nghị với Bộ Kế hoạch và Đầu tư
84
3.2.3. Kiến nghị với Bộ Tài chính
85
3.2.4. Kiến nghị với Các Bộ, Ban ngành khác
86
3.2.5. Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
86
kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, nâng cao quyền tự chủ, linh hoạt cho các
doanh nghiệp tận dụng tối đa năng lực, tiềm lực và cơ hội kinh doanh để phát
triển. Để thực hiện được mục tiêu này, một trong những vấn đề đang thu hút
được sự quan tâm lớn của người dân, doanh nghiệp là thủ tục đăng ký doanh
nghiệp. Bởi lẽ, thủ tục đăng ký doanh nghiệp là một thủ tục bắt buộc đầu tiên
nhằm công khai hóa hoạt động của doanh nghiệp. Pháp luật Việt Nam đang
từng bước thay đổi, cải thiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện
cho các doanh nghiệp được thành lập một cách nhanh chóng, thuận tiện và mau
chóng đi vào hoạt động. Thủ tục đăng ký doanh nghiệp cũng là một nội dung
quan trọng của pháp luật doanh nghiệp.
Đăng ký doanh nghiệp là cơ sở pháp lý đầu tiên ghi nhận sự ra đời của
doanh nghiệp trên thực tế. Nó có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp bởi
lẽ, kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh
nghiệp được pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đồng thời phải thực
hiện những nghĩa vụ với Nhà nước. Thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng
ký doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nắm được số lượng, loại
2
hình doanh nghiệp và các ngành nghề doanh nghiệp kinh doanh từ đó thực hiện
chức năng quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Luật doanh nghiệp năm 2014 ra đời và có hiệu lực vào ngày 01 tháng 07
năm 2015 được xem là cuộc đột phá thể chế, thúc đẩy sự phát triển của doanh
nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam hiện nay, đặc
biệt với thủ tục đăng ký doanh nghiệp có nhiều nội dung thay đổi quan trọng so
với Luật doanh nghiệp năm 2005. Với những quy định cụ thể và tương đối phù
hợp này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước thành lập, phát huy
nội lực, khai thác tiềm năng sẵn có và bước đầu tạo môi trường pháp lý thuận
lợi để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên trong quá trình thực thi Luật doanh
Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Thùy Dung (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2015).
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về đăng ký thành lập doanh
nghiệp và pháp luật về đăng ký thành lập doanh nghiệp, sau đó phân tích các
nội dung về đăng ký thành lập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2014
trong đó tác giả cũng đề cập tới trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp là một
nội dung quan trọng trong các nội dung về đăng ký thành lập doanh nghiệp. Từ
đó, tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm thực thi hiệu quả Luật doanh
nghiệp năm 2014.
“Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh trên địa
bàn thành phố Hà Nội” – Luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Thu Hường (Khoa
Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2006). Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý
luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính. Trên cơ sở đó, đánh
giá thực trạng cải cách thủ tục hành chính trong việc ĐKKD trên địa bàn thành
phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp cụ thể.
“Pháp luật về đăng ký kinh doanh ở Việt Nam – Thực trạng và phương
hướng hoàn thiện” – Luận văn Thạc sĩ của Trần Thị Tố Uyên (Khoa Luật Đại
học Quốc Gia Hà Nội, 2005). Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận về ĐKKD và
pháp luật về ĐKKD đồng thời phân tích những quy định của Luật doanh
nghiệp năm 2005 về ĐKKD. Qua đó đưa ra những phương hướng và giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam.
“Quy chế pháp lý về đăng ký doanh nghiệp và thực tiễn áp dụng ở Nghệ
An” – Luận văn Thạc sĩ của Lê Văn Đức (Đại học Luật Hà Nội, 2013). Luận
văn chú trọng nghiên cứu các vấn đề lý luận về đăng ký doanh nghiệp đặc biệt
là đối với đăng ký thành lập doanh nghiệp. Từ đó phân tích thực trạng, đưa ra
đánh giá việc thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ
An và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật. Luận văn được thực hiện và đánh
giá thực trạng trên cơ sở Luật doanh nghiệp năm 2005 nên chưa đề cập tới
những thay đổi tích cực của Luật doanh nghiệp năm 2014 về vấn đề này.
Nội, một thành phố với sự đô thị hóa, phát triển kinh tế mạnh mẽ, có nhiều các
cải cách quan trọng về thủ tục đăng ký doanh nghiệp; trên cơ sở đó tác giả đề
xuất một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả Luật doanh nghiệp năm 2014 về
thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của Luật doanh nghiệp năm
2014 về thủ tục đăng ký doanh nghiệp được áp dụng trên địa bàn thành phố Hà
Nội; từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu tình hình thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp
trên địa bàn thành phố Hà Nội
Phạm vi về thời gian: kể từ khi Luật doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực
thi hành (ngày 1/7/2015) cho đến tháng 7 năm 2016.
4. Mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về thủ tục đăng ký
doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp năm 2014 và thực tiễn áp dụng trên địa
bàn thành phố Hà Nội. Trên cơ sở đó, đề xuất các phương hướng, giải pháp và kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi Luật doanh nghiệp năm
2014.
4.2. Mục tiêu cụ thể
Với mục tiêu trên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giải
quyết các mục tiêu cụ thể chủ yếu sau đây:
- Làm rõ vấn đề lý luận về đăng ký doanh nghiệp, thủ tục đăng ký doanh
giá quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 về thủ tục đăng ký doanh nghiệp
và phân tích, tổng hợp các nguồn tư liệu, số liệu về thực trạng tình hình đăng
ký doanh nghiệp ở thành phố Hà Nội.
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa các quy
định của Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật doanh nghiệp năm 2014 và giữa
quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước trên thế giới.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra bằng bảng hỏi, thu thập số
liệu có liên quan. Để hoàn thành luận án này, tác giả dự kiến sẽ tiến hành
nghiên cứu định lượng 50 phiếu điều tra dành cho các đối tượng là các tổ chức,
cá nhân đã tham gia thủ tục đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà
Nội
Đồng thời tác giả sử dụng phương pháp thống kê các kết quả nghiên cứu
từ các khảo sát, các dữ liệu của Tổng cục thống kê, Sở Kế hoạch và Đầu tư.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa khoa học
Luận văn thể hiện sự phân tích sâu sắc, có hệ thống các quy định của
Pháp luật hiện hành về thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Luận văn cũng chỉ ra
7
những điểm mới, điểm tiến bộ cũng như những bất cập, hạn chế của Luật
doanh nghiệp năm 2014 về thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện các quy định của
pháp luật về thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, thông qua việc nghiên
cứu và tìm hiểu về thực tiễn thi hành các quy định của Luật doanh nghiệp năm
2014, chỉ ra những thuận lợi và khó khăn về thủ tục đăng ký doanh nghiệp trên
địa bàn thành phố Hà Nội mà từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thực thi có hiệu
quả Luật doanh nghiệp năm 2014 về thủ tục đăng ký doanh nghiệp để phù hợp
Còn theo quan điểm phát triển, “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản
xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành
công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản
xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.” [36]
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm “doanh nghiệp” ở Việt Nam đã được đề
cập lần đầu tiên trong Luật Công ty năm 1990 như sau: “Doanh nghiệp là một
đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt
động kinh doanh”. Khái niệm này có nội dung bao quát khá rộng vì theo đó,
các đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh thì sẽ được xem là doanh
nghiệp. Đến khi sự ra đời của Luật doanh nghiệp (LDN) năm 1999 và LDN
năm 2005 và hiện hành là LDN năm 2014 được ban hành thì khái niệm “doanh
nghiệp” đã được đưa ra một cách cụ thể và đầy đủ hơn. Khoản 7 Điều 4 LDN
năm 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích kinh doanh”. Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa về doanh nghiệp ở các
góc độ khác nhau nhưng có thể thấy hình thức thể hiện phổ biến nhất của
doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế và mục đích chủ yếu nhất của nó là kinh
doanh [11; tr4]. Các loại hình doanh nghiệp theo LDN năm 2014 bao gồm:
9
Doanh nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) bao gồm Công
ty TNHH một thành viên và Công ty TNHH hai thành viên trở lên; Công ty
hợp danh; Công ty cổ phần (CTCP).
1.1.1.2. Khái niệm đăng ký doanh nghiệp
Trong giai đoạn phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường hiện
nay, đầu tư thành lập doanh nghiệp đang là xu hướng chung của các tổ chức, cá
nhân kinh doanh. Doanh nghiệp được coi là một công cụ kinh doanh an toàn,
hấp dẫn, tiềm năng cho các nhà đầu tư. Hơn nữa, Đảng và Nhà nước không
mối quan hệ pháp lý nhất định; Hai là, “đăng ký” là bằng chứng công nhận bắt
đầu sự tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện hoặc hiện tượng pháp luật [3, tr7].
Như vậy, xét về bản chất của ĐKDN là: doanh nghiệp kinh doanh cái gì, ở đâu,
vốn là bao nhiêu thì chỉ cần đăng ký và nếu mọi điều kiện đúng pháp luật thì
đương nhiên sẽ được chấp thuận, doanh nghiệp không phải “xin” ai và cũng
không ai có quyền “cho phép” thành lập doanh nghiệp. Hay nói cách khác,
đăng ký thành lập doanh nghiệp là sự công khai hóa các nội dung về kinh
doanh của chủ thể có nhu cầu thành lập doanh nghiệp và được thừa nhận bởi
Nhà nước. Việc ĐKDN chỉ nhằm xác định tư cách pháp lý của doanh nghiệp
trước khi doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp thực hiện quyền tự do kinh doanh.
Đồng thời ĐKDN cũng được phân biệt với đăng ký kinh doanh (ĐKKD).
LDN năm 2005 vẫn sử dụng cụm từ ĐKKD, tuy nhiên kể từ khi Nghị định số
43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký doanh
nghiệp ra đời đã chính thức thay thế cụm từ ĐKKD bằng cụm từ ĐKDN.
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP quy định: “ĐKDN quy định tại
Nghị định này bao gồm nội dung về ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại
hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của LDN. ĐKDN bao gồm đăng ký
thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN”. Theo đó,
khái niệm ĐKDN rộng hơn khái niệm ĐKKD, ĐKDN bao gồm hai nội dung là
ĐKKD và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo LDN
năm 2005. Trước đây, để thành lập doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân cần làm
thủ tục ĐKKD tại Cơ quan ĐKKD để được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD, sau
đó sang cơ quan thuế để đăng ký mã số thuế, cơ quan Thuế cấp Giấy chứng
nhận đăng ký thuế. Từ khi Nghị định số 43/2010/NĐ-CP được ban hành và cho
đến nay là quy định của LDN năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì
các tổ chức, cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp không cần phải tiến hành
thủ tục tại hai cơ quan như trên nữa mà chỉ cần làm một thủ tục tại cơ quan đầu
mối là Phòng ĐKKD thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư. Cơ quan này có trách
nhiệm phối hợp với các cơ quan Thuế bằng biện pháp nghiệp vụ thực hiện qua
Hệ thống thông tin ĐKDN quốc gia, để cấp Giấy chứng nhận ĐKDN, trong đó
thể phát sinh những thay đổi liên quan đến hồ sơ ĐKDN đã đăng ký. Việc thay
đổi này cũng cần phải đăng ký thay đổi hoặc thông báo với cơ quan ĐKKD.
1.1.1.3. Khái niệm thủ tục đăng ký doanh nghiệp
Tại rất nhiều quốc gia, doanh nghiệp muốn được thừa nhận là một pháp
nhân, tham gia hoạt động kinh doanh và chịu trách nhiệm bằng tài sản của
mình thì đều phải đăng ký một cách hợp pháp. Ở Việt Nam, doanh nghiệp phải
được thành lập theo những thủ tục do pháp luật quy định mới được Nhà nước
thừa nhận tư cách pháp lý và bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của doanh
12
nghiệp. Như vậy, một doanh nghiệp được coi là thành lập hợp pháp khi thực
hiện đúng các thủ tục về ĐKDN theo quy định của pháp luật.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thủ tục là “cách thức tiến hành một công việc
với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của Nhà nước”. [33]
Mặt khác, ĐKDN là việc nhà nước ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của
doanh nghiệp. Kể từ thời điểm ĐKDN, các chủ thể kinh doanh có đầy đủ năng
lực pháp luật để tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Thủ tục ĐKDN được xem như là một thủ tục hành chính theo đó việc đăng ký
thực hiện thông qua thủ tục “hai chiều”, tức là chủ thể kinh doanh khi muốn
thành lập doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về ĐKDN. Sau đó, nếu như đáp ứng đầy đủ các điều kiện thành lập theo
quy định của pháp luật thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó sẽ cấp Giấy
chứng nhận ĐKDN, Trong suốt quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh. Giấy
chứng nhận ĐKDN đó được coi là một bằng chứng pháp lý ghi nhận tư cách
chủ thể, tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh và khẳng định sự bảo hộ của
Nhà nước với chủ thể kinh doanh. Ngoài ra, khi thay đổi bất kỳ một nội dung
nào được ghi nhận trong Giấy chứng nhận ĐKDN thì chủ thể kinh doanh cần
phải làm hồ sơ thông báo lên Cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh.
cấp hoặc từ chối cấp giấy chứng nhận ĐKDN. Như vậy, có thể thấy rằng thủ
tục ĐKDN là bắt buộc khi chủ thể có ý định thành lập doanh nghiệp hoặc các
doanh nghiệp muốn thay đổi các nội dung trong hồ sơ ĐKDN. Việc thực hiện
các thủ tục này cần phải tuân theo các quy định của pháp luật chứ không phải
do bất kì chủ thể nào khác đặt ra.
Mục đích chủ yếu của việc quy định các thủ tục ĐKDN là để đảm bảo các
lợi ích của chủ thể kinh doanh, đồng thời vì lợi ích của Nhà nước và lợi ích
chung của toàn xã hội; đảm bảo cho các chủ thể kinh doanh tránh khỏi sự lừa
đảo, gian dối trong hoạt động kinh doanh, bình đẳng với nhau trong kinh doanh
và đảm bảo cho Nhà nước quản lý được hoạt động sản xuất kinh doanh trong
xã hội.[31]
Thứ hai, thủ tục ĐKDN mang đặc điểm của thủ tục hành chính
Thủ tục ĐKDN có đặc điểm là một thủ tục hành chính bắt buộc trong đó
chủ thể kinh doanh đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và công khai
hóa về sự ra đời cũng như hoạt động kinh doanh của mình. Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền ĐKDN có nghĩa vụ xem xét các điều kiện và cấp Giấy chứng
nhận ĐKDN cho chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trong suốt
quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì Giấy chứng
nhận ĐKDN được coi là một bằng chứng pháp lý ghi nhận tư cách chủ thể, tính
14
hợp pháp của hoạt động kinh doanh và khẳng định sự bảo hộ của Nhà nước đối
với chủ thể kinh doanh. Và khi có bất cứ sự thay đổi nào về những nội dung
doanh nghiệp đã đăng ký với cơ quan nhà nước như: Tên công ty, vốn điều lệ,
địa chỉ trụ sở chính, người đại diện theo pháp luật....thì phải thực hiện thông
báo lên Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ĐKDN.
Thứ ba, thủ tục ĐKDN được tiến hành bởi cơ quan ĐKKD
Cơ quan ĐKKD có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ ĐKDN, xem xét tính hợp
bằng pháp luật đối với các chủ thể hoạt động kinh doanh nói chung và các
doanh nghiệp nói riêng. Thông qua việc ĐKDN, nhà nước sẽ quản lý được số
lượng, hình thức, ngành nghề kinh doanh dựa trên địa bàn. Trên cơ sở đó, nhà
nước sẽ nắm bắt được thực trạng kinh tế của địa phương, điều chỉnh cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu đầu tư kinh doanh để tìm ra các biện pháp quản lý thích
hợp, đồng thời giám sát chủ thể kinh doanh hoạt động theo đúng pháp luật,
thực hiện tốt nhiệm vụ cơ bản, phát huy được vai trò của họ trong nền kinh tế
[35, tr 8].
Thứ hai, đối với chủ thể kinh doanh: Thông qua thủ tục ĐKDN, doanh
nghiệp sẽ chính thức hóa hoạt động kinh doanh của mình. Sau khi được cấp
giấy chứng nhận ĐKDN, doanh nghiệp được thừa nhận về mặt pháp lý, có
quyền tiến hành các hoạt động kinh doanh dưới sự bảo hộ của pháp luật (tức là
tư cách chủ thể của doanh nghiệp được xác lập). Thủ tục ĐKDN là cơ sở pháp
lý chắc chắn nhất để một doanh nghiệp yêu cầu cơ quan nhà nước bảo vệ các
quyền, lợi ích và tài sản hợp pháp của mình trong quá trình doanh nghiệp tiến
hành hoạt động kinh doanh. [31, tr 15]
Ngoài ra, ĐKDN thể hiện sự công khai hóa của các chủ thể kinh doanh
trước công chúng, khẳng định được việc thành lập và hoạt động của họ là có
thực, tránh tình trạng lừa đảo, lạm dụng gây tổn hại tới lợi ích của bên thứ ba.
Khi nhà nước giám sát quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể
từ khi thành lập tới khi giải thể hoặc phá sản cũng giúp cho việc ngăn ngừa
hoạt động kinh doanh trái pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích cho các chủ thể
khác trong trường hợp họ phá sản hoặc giải thể.
Thứ ba, đối với xã hội: Việc ra đời của các doanh nghiệp có ý nghĩa quan
trọng trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đa dạng phục vụ đời sống và
sản xuất kinh doanh trong xã hội. Trong những năm gần đây, sự tăng trưởng
mạnh mẽ về số lượng và chất lượng doanh nghiệp đã tạo ra khối lượng hàng
hóa và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn với chất lượng tốt hơn cho đất nước,
thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện,
nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu ra các nước trên thế giới,
Theo hiểu biết chung, pháp luật về thủ tục ĐKDN là một bộ phận quan
trọng của pháp luật về doanh nghiệp nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật
trong quá trình thực hiện ĐKDN. Theo đó, pháp luật về thủ tục ĐKDN được
hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa
một bên chủ thể là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về ĐKDN và một bên là
các cá nhân, tổ chức có liên quan về việc đăng ký thành lập, thay đổi nội dung
ĐKDN.
1.2.1.2. Đặc điểm của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp
Thứ nhất, pháp luật về thủ tục ĐKDN mang tính chất lãnh thổ sâu sắc