ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THI ̣MINH HẠNH
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HOÀ BÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VỚI
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THI ̣MINH HẠNH
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HOÀ BÌNH GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VỚI
VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN BIỂN ĐÔNG
Chuyên ngành: Luật Quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN BÁ DIẾN
HÀ NỘI - 2015
Chƣơng I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HÒA BÌNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ ................................................... 6
1.1 Sơ lƣợc về giải quyết tranh chấp quốc tế ............................................ 6
1.1.1. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế ........................................... 6
1.1.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp quốc tế cơ bản xuyên suốt
trong luật quốc tế ....................................................................................... 7
1.2. Khái niệm Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế.... 12
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp
quốc tế ..................................................................................................... 12
1.2.2. Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trong luật quốc
tế .............................................................................................................. 14
1.3. Ý nghĩa, vai trò của Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp
quốc tế......................................................................................................... 16
1.3.1. Ý nghĩa, vai trò .............................................................................. 16
1.3.2. Khái lược lịch sử hình thành và phát triển của Nguyên tắc hòa bình
giải quyết tranh chấp quốc tế .................................................................. 17
1.3.3. Mối quan hệ giữa Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp
quốc tế và các nguyên tắc cơ bản khác của Luật quốc tế........................ 19
1.3.4. Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trên Biển Đông,
lập trường của Việt Nam hiện nay .......................................................... 21
1.4. Cơ sở pháp lý của Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc
tế .................................................................................................................. 25
Chƣơng II: ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT CÁC
TRANH CHẤP QUỐC TẾ TRÊN BIỂN ĐÔNG....................................... 36
2.1. Áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế thông
qua các tổ chức quốc tế ............................................................................. 36
2.1.1. Áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế ở Liên
hợp quốc .................................................................................................. 36
Biển ngày càng có vị trí quan trọng trong cuộc sống của con người. Do
tầm quan trọng của biển mà từ lâu những cuộc tranh chấp trên biển luôn diễn
ra gay gắt. Cùng với sự thay đổi nhận thức của con người về tầm quan trọng
của biển, thay đổi của các quy phạm pháp lý điều chỉnh các hoạt động trên
biển, những vấn đề liên quan đến biển và cả việc giải quyết tranh chấp trên
biển cũng hình thành và đang phát triển mạnh mẽ như một sự tất yếu.
Việt Nam nằm cạnh biển Đông, một vùng biển có vị trí địa lý quan
trọng, mang tầm chiến lược trong phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng.
Tham vọng chiếm hữu biển Đông đã đưa vùng này trở thành “điểm nóng” về
tranh chấp chủ quyền giữa các quốc gia. Bởi vậy, việc áp dụng các nguyên tắc
cơ bản của luâ ̣t quố c tế để giải quyết tranh chấp, đặc biệt là áp dụng nguyên
tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế trở nên có ý nghĩa trong việc hạn
chế và hạ nhiệt các “điểm nóng” tranh chấp, nhằm duy trì hòa bình, ổn định
trong khu vực và thế giới.
“Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế” là một nguyên tắc quan trọng trong
luật quốc tế. Hơn thế nữa, ngày nay trong xu hướng hội nhập quốc tế, xu
hướng toàn cầu hóa quốc tế nguyên tắc này trên tất thảy được các quốc gia và
nhân loại tiến bộ thế giới hướng tới.
Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa
bình được ghi nhận trong Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều
chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến
chương Liên hợp quốc được Đại Hội đồng thông qua theo Nghị quyết số 2625
năm 1970. Các nước thành viên Liên Hợp quốc đều tuân theo nguyên tắc này
để giải quyết các bất đồng xung đột hay tranh chấp có tính chất quốc tế. Tuy
nhiên, trong thực tiễn có nhiều trường hợp việc áp dụng các biện pháp để giải
1
quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia chưa thực sự bình đẳng, chưa đạt
- Phân tích tình hình thực tiễn để đưa ra lập trường của Việt Nam đối với
việc hòa bình giải quyết tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là với vấn đề
Hoàng Sa, Trường Sa trên cơ sở lập trường luật quốc tế hiện đại.
- Đề cập đến một số giải pháp tăng cường sự đảm bảo quốc tế để thúc
đẩy việc áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế; và
một số kiến nghị đối với Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu:
Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên Hợp quốc, chính thức tham
gia Công ước Luật biển 1982. Cho đến nay, đã có một số bài viết, công trình
nghiên cứu liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế hiện đại,
cũng như việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản vào thực tiễn giải quyết các
tranh chấp quốc tế nói chung, các tranh chấp trên biển nói riêng. Tuy nhiên số
lượng vẫn còn hạn chế và cũng chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu
đầy đủ, toàn diện về áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc
tế với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Bởi vấn đề biển Đông và
tranh chấp trên Biển Đông thay đổi và diễn biến ngày càng phức tạp, khó
lường trước, đã trở thành “tâm điểm” không chỉ của các nước hữu quan liên
quan mà còn của toàn thế giới.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài luận văn, học viên hướng tới mong muốn làm
sáng tỏ những cơ sở lý luận về hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế nói
chung và áp dụng phương pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp trên biển
Đông nói riêng. Qua đó, nhận xét, phân tích, hướng đến việc áp dụng trên
thực tiễn nguyên tắc với Việt Nam trong vấn đề giải quyết tranh chấp trên hai
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hiện nay cũng như đưa ra một số giải pháp
tăng cường sự đảm bảo quốc tế.
3
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng kết hợp với
phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và đối chiếu tổng hợp để làm sáng
rõ những vấn đề cần nghiên cứu.
- Nghiên cứu trực tiếp các quy định của pháp luật Quốc tế; các quy định của
pháp luật Việt Nam để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra cho luận văn.
- Bên cạnh đó, đề tài cũng được nghiên cứu thông qua phương pháp phân tích,
bình luận, tổng hợp, so sánh khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể.
7. Ngoài phấn mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung của Luận văn gồm ba chƣơng:
Chương 1: Tổng quan lí luận về Nguyên tắc hòa bình trong giải quyết
tranh chấp quốc tế.
Chương 2: Áp dụng Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
trên Biển Đông.
Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu lực của việc áp dụng Nguyên tắc
hòa bình trong giải quyết tranh chấp quốc tế ở Biển Đông.
Đây là một đề tài khó, rộng và phức tạp, trong khi kiến thức của tác giả
còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong các thầy cô giúp đỡ, chỉ dạy để tác giả hoàn thiện thêm đề tài của mình.
5
Chƣơng I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HÒA BÌNH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ
1.1 Sơ lƣợc về giải quyết tranh chấp quốc tế
1.1.1. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế
Hiện nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về tranh chấp quốc tế
trong các văn bản pháp lý.
Theo Cuốn Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1992 giải thích về “tranh
tế như sau:
- Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia: bao gồm tranh chấp song
phương và tranh chấp đa phương.
- Căn cứ vào tính chất của vụ tranh chấp: tranh chấp mang tính chất
chính trị và tranh chấp có tính pháp lý.
- Căn cứ vào đối tượng tranh chấp: tranh chấp về kinh tế về thực hiện
nghĩa vụ thành viên về điều ước quốc tế hoặc tổ chức quốc tế…
Như vậy, tranh chấp quốc tế có nhiều loại. Tuy nhiên, chúng ta cần
quan tâm đến những tranh chấp quốc tế có tính chất nguy cơ ảnh hưởng đến
hòa bình an ninh khu vực và thế giới. Các tranh chấp là mối đe dọa tới sự
sống còn của nhân loại và bị luật quốc tế cấm. Tranh chấp quốc tế luôn được
coi là vấn đề nhạy cảm đối với các quốc gia, đối với giới cầm quyền ở mỗi
quốc gia. Bởi vậy, các tổ chức lớn tầm cỡ quốc tế “có tiếng nói” như Liên
Hợp quốc cần tập hợp sức mạnh tổng hợp cũng như chú trọng tới việc dự liệu
trước, đề xuất các quy định, các nguyên tắc trong luật pháp quốc tế để ngăn
cản trước khi xảy ra, cũng như tìm giải pháp để chấm dứt các tranh chấp đã
xảy ra.
1.1.2 Các phƣơng thức giải quyết tranh chấp quốc tế cơ bản xuyên
suốt trong luật quốc tế
Các phương pháp bạo lực (chiến tranh) trong quan hệ quốc tế giữa các
nước giai đoạn trước đây là phương pháp hay được đề cập.
7
Trước khi Hiệp ước Hòa bình Briand-Kellogg 1928 ra đời, trong quan
hệ quốc tế việc dùng vũ lực hay chiến tranh được coi là biện pháp hợp pháp
để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia. Xâm lược một quốc gia độc
lập chủ quyền hay xâm chiếm một bộ phận lãnh thổ của nước khác, luật quốc
tế cổ điển gọi là “can thiệp – Intervention”. Khi đó, sẽ sử dụng lực lượng vũ
Điều 51 Hiến chương Liên Hợp quốc lại ghi: “không có một điều
khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay
tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên Hợp quốc bị tấn công vũ
trang…” Có thể hiểu rằng, nội dung điều 51 trên cho phép các nước thành
viên Liên Hợp quốc được quyền tự vệ cá nhân hay tự vệ tập thể chính đáng
nếu bị tấn công vũ trang.
Trên thực tế, các quan hệ quốc tế cho thấy: pháp luật quốc tế hiện nay
vừa cấm việc dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế lại vừa cho
phép việc dùng vũ lực. Có những trường hợp luật quốc tế, Hiến chương Liên
Hợp quốc và cả Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc cho phép sử dụng một số
biện pháp dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế hay để duy trì hòa
bình an ninh quốc tế, như sau:
- Tự vệ cá nhân và tự vệ tập thể;
- Cấm vận, trả đũa dưới sự cho phép của Liên Hợp quốc;
- Can thiệp (quân sự) vì mục đích nhân đạo;
- Can thiệp (quân sự) vì mục đích khôi phục dân chủ;
- Can thiệp (quân sự) vì mục đích khôi phục nhân quyền.
Thời gian gần đây, lịch sử quan hệ quốc tế ghi nhận nhiều thành công
của việc áp dụng các phương pháp hòa bình vào giải quyết tranh chấp quốc tế.
Sự hình thành và phát triển của nguyên tắc này gắn liền với sự hình thành và
phát triển của nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan
hệ quốc tế. Trong thực tiễn quốc tế, tranh chấp luôn tiềm ẩn, phát sinh từ các
9
mối quan hệ giữa các quốc gia. Đó là khi các chủ thể luật quốc tế có những
quan điểm trái ngược hoặc mâu thuẫn xung đột hoặc không thống nhất được
về quyền và lợi ích.
Hệ thống Công ước Lahay năm 1899 và năm 1907 có Công ước về hòa
- Các phương pháp hòa bình khác mà các bên tự chọn.
Điều 33 Hiến chương Liên Hợp quốc đã quy định cụ thể các biện pháp
hòa bình mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn, đó là các con đường : "...
đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng các tổ chức
hoặc các hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác”. Như
vậy, hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ bắt buộc đối với
mọi quốc gia - thành viên của cộng đồng quốc tế. Các bên có quyền tự do lựa
chọn các biện pháp phù hợp nhất, sao cho mọi tranh chấp đều được giải quyết
trên cơ sở của luật quốc tế và nguyên tắc công bằng. Thực tiễn cho thấy,
phương pháp đàm phán là phương pháp thường xuyên được các quốc gia sử
dụng để giải quyết khi có tranh chấp hoặc bất đồng với nhau.
Hiến chương Liên hợp quốc đã quy định rất nhiều biện pháp hòa bình,
tạo điều kiện cho các chủ thể luật quốc tế lựa chọn khi giải quyết tranh chấp
quốc tế mà xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của Luật quốc tế. Về thẩm
quyền giải quyết tranh chấp trong luật quốc tế cũng có những đặc điểm khác
biệt so với luật quốc gia: thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế do các chủ
thể luật quốc tế quyết định.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp quốc tế từ trước tới nay thường vẫn áp
dụng các phương thức giải quyết tranh chấp cơ bản sau:
- Giải quyết trực tiếp tranh chấp;
- Giải quyết tranh chấp thông qua bên thứ ba;
-Giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế và các hiệp định
khu vực;
- Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế.
11
1.2. Khái niệm Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh
tế. Bất kỳ hành vi đơn phương nào không tuân thủ triệt để nguyên tắc cơ bản
của LQT đều bị coi là sự vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế. Các quy
phạm điều ước và tập quán quốc tế có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản
của Luật Quốc tế đều không có giá trị pháp lý. Ngoài ra, đối với các lĩnh vực
xuất hiện các nguyên tắc chuyên biệt như: Luật Biển quốc tế, Luật hàng
không dân dụng quốc tế... thì bên cạnh việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản
của Luật Quốc tế, các bên còn phải chấp hành các nguyên tắc chuyên biệt
trong từng lĩnh vực cụ thể.
Về tính bao trùm: Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là chuẩn mực để
xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế.
Đồng thời chúng được thực hiện trong tất cả các lĩnh vực của quan hệ quốc tế
giữa các quốc gia.
Về tính hệ thống: Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế có mối quan
hệ mật thiết với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, biểu hiện ở chỗ: việc
tôn trọng hay phá vỡ nguyên tắc này sẽ làm ảnh hưởng đến nội dung và việc
tuân thủ các nguyên tắc khác.
Về tính thừa nhận rộng rãi: các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế
được áp dụng trong phạm vi toàn thế giới, đồng thời được ghi nhận trong các
văn bản pháp lý quốc tế quan trọng như: Hiến Chương Liên Hợp quốc, Tuyên
bố năm 1970 về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.
Trong các đặc điểm trên, đặc điểm về tính mệnh lệnh chung là quan
trọng nhất, đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để các nguyên tắc cơ bản của
Luật quốc tế chi phối lại các nguyên tắc pháp luật chung và các nguyên tắc
chuyên ngành.
Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là công cụ pháp lý để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Luật quốc tế.
13
và công lý”, khẳng định giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa
bình là một nguyên tắc trong quan hệ giữa các quốc gia.
Ngày nay với sự ra đời của nhiều tổ chức quốc tế toàn cầu và tổ
chức khu vực, nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế được ghi
nhận trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như: Hiến chương Liên hợp
quốc, bản Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh mối quan
hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp
quốc năm 1970; văn kiện bế mạc của Hội nghị an ninh và hợp tác Châu Âu
năm 1975; Định ước Henxiki năm 1975…
Nguyên tắc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế nêu rõ việc
nghiêm cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp với
nhau, một mặt xác lập nghĩa vụ của các bên trong tranh chấp giải quyết bằng
các biện pháp hòa bình, mặt khác cũng quy định các bên tham gia vào tranh
chấp có quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình thích hợp để giải quyết tranh
chấp. Pháp luật quốc tế không quy định một công thức giải quyết bắt buộc,
cứng nhắc cho mỗi loại hình tranh chấp nhất định, việc sử dụng một phương
thức cụ thể nào hoàn toàn do các bên liên quan tự thỏa thuận và lựa chọn, với
điều kiện đó phải là những biện pháp hòa bình.
Khoản 2, điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc đã quy định cụ thể các
biện pháp hòa bình mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn như: đàm phán,
trung gian, hòa giải, trọng tài, bằng con đường tư pháp, sử dụng những cơ
quan hoặc những hiệp định khu vực, hay các biện pháp hòa bình khác do họ
lựa chọn. Hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ bắt buộc đối với
mọi quốc gia, cần phải nỗ lực giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và
công bằng nhằm duy trì hòa bình và an ninh quốc tế.
Thực tiễn cho thấy, phương pháp đàm phán là phương pháp
thường được các quốc gia sử dụng. Đây là phương pháp tốt để giải quyết
15
16
cộm như vấn đề tranh chấp trên Biển Đông giữa các quốc gia hữu quan liên
quan thì hơn bao giờ hết Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp cần
được nghiên cứu để áp dụng một cách phù hợp, hiệu quả.
1.3.2. Khái lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của Nguyên tắc
hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
Trong quan hệ quốc tế, khi đề cập đến các nguyên tắc của Luật Quốc
tế, người ta thường nói đến ba loại nguyên tắc đó là: Nguyên tắc cơ bản,
nguyên tắc pháp luật chung, nguyên tắc chuyên ngành. Trong các nguyên tắc
này thì hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế là những nguyên tắc
thể hiện tập trung nhất các quan điểm chính trị - pháp lý và cách xử sự của
các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản, quan trọng nhất của
đời sống quốc tế.
Các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế được hiểu là những tư tưởng
chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối
với mọi chủ thể Luật Quốc tế. Trong Luật Quốc tế, các nguyên tắc cơ bản tồn
tại dưới dạng những quy phạm được ghi nhận ở điều ước quốc tế và tập quán
quốc tế.
Cũng như sự hình thành luật quốc tế, phạm trù các nguyên tắc cơ bản
của Luật quốc tế là một phạm trù mang tính xã hội - lịch sử. Nó cũng có quá
trình phát sinh, phát triển và hoàn thiện gắn liền với các giai đoạn hình thành
và phát triển của luật quốc tế, căn cứ vào sự ra đời của các nguyên tắc, luật
quốc tế chia chúng ra thành hai nhóm cơ bản đó là:
Nhóm các nguyên tắc truyền thống của luật quốc tế: là các nguyên tắc
ra đời chủ yếu trong thời kỳ trung đại và cận đại, khi các quan hệ quốc tế mới
chỉ dừng lại ở dạng sơ khai và chúng tồn tại chủ yếu dưới dạng các tập quán
quốc tế. Nhóm này gồm hai nguyên tắc: nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa
các quốc gia và nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế.
18
Ngày nay, với mục đích đảm bảo hòa bình, an ninh quốc tế và công lý,
luật pháp quốc tế đã ghi nhận nguyên tắc này như là một trong những nguyên
tắc cơ bản, nền tảng có tính xuyên suốt và bao trùm. Điều này được thể hiện
rõ trong khoản 2, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc; Phần XV Giải quyết
các tranh chấp (Điều 279- Điều 299) Công ước Luật biển 1982 của Liên Hợp
Quốc, và trong hầu hết các điều ước quốc tế đa phương cũng như song
phương, điều ước quốc tế khu vực cũng như điều ước mang tính toàn cầu...
1.3.3. Mối quan hệ giữa Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh
chấp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản khác của Luật quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có giá trị bắt buộc chung, chúng
thực hiện hai chức năng quan trọng là ổn định quan hệ quốc tế và ấn định
khuôn khổ xử sự cho các chủ thể trong quan hệ quốc tế, qua đó tạo điều kiện
cho quan hệ quốc tế phát triển.
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế có mối quan hệ qua lại với nhau
trong một chỉnh thể thống nhất, chỉ khi tồn tại trong sự tác động qua lại chúng
mới có khả năng hoàn thành các chức năng của mình. Vì thế khi giải thích và
áp dụng từng nguyên tắc, các chủ thể phải đối chiếu, so sánh và xem xét nó
trong mối quan hệ với tất cả các nguyên tắc khác, điều này đã được khẳng
định trong Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1970 về các
nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa
các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, mọi nguyên tắc đều
phải nhằm mục đích đảm bảo cho việc gìn giữ hòa bình.
Giải quyết tranh chấp không chỉ tuân thủ đúng Nguyên tắc giải quyết
hòa bình các tranh chấp quốc tế còn phải bảo đảm và phù hợp với tất cả các
nguyên tắc cơ bản khác theo quy định của Hiến chương và luật pháp quốc tế,
các bên không chỉ không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực mà còn