NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG NƢỚC BỘ HEMIPTERA Ở CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU) VÀ PHÚ QUỐC (TỈNH KIÊN GIANG) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Phạm Thị Diệp

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG NƢỚC
BỘ HEMIPTERA Ở CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU)
VÀ PHÚ QUỐC (TỈNH KIÊN GIANG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Phạm Thị Diệp

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG NƢỚC
BỘ HEMIPTERA Ở CÔN ĐẢO (TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU)
VÀ PHÚ QUỐC (TỈNH KIÊN GIANG)

Chuyên ngành: Động vật học
Mã số

: 60 42 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.2. Tình hình nghiên cứu Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Việt Nam ...................... 7
1.3. Tổng quan điều kiện tự nhiên Côn Đảo và Phú Quốc ....................................... 11
Chƣơng 2 - ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................13
2.1. Đối tượng, thời gian nghiên cứu ........................................................................ 13
2.2. Địa điểm nghiên cứu .......................................................................................... 13
2.3. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 18
Chƣơng 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................ 20
3.1. Thành phần loài Côn trùng nước Hemiptera ở Côn Đảo ................................... 20
3.2. Thành phần loài Côn trùng nước Hemiptera ở Phú Quốc ................................. 23
3.3. Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera
ở Côn Đảo, Phú Quốc với Vườn Quốc gia Cát Tiên, Khu bảo tồn Thiên nhiên Vĩnh
Cửu, và Vườn Quốc gia Ba Vì. .................................................................................26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 31
PHỤ LỤC


DANH LỤC BẢNG
Bảng 1. Các địa điểm thu mẫu tại Côn Đảo .............................................................. 15
Bảng 2. Các địa điểm thu mẫu tại Phú Quốc ............................................................ 17
Bảng 3. Thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera tại Côn Đảo ...................... 20
Bảng 4. Thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera tại Phú Quốc .................... 23
Bảng 5. Chỉ số tương đồng Bray – Curtis giữa các khu vực (%)..............................27

DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Vị trí địa lý, sơ đồ các địa điểm thu mẫu tại Côn Đảo và Phú Quốc ........... 14
Hình 2. Số lượng loài, giống ở từng họ thu được tại Côn Đảo ................................. 21
Hình 3. Số lượng loài, giống ở từng họ thu được tại Phú Quốc ............................... 25
Hình 4. Số lượng loài, giống, họ giữa các khu vực................................................... 26

56], trong khi đó các khu vực biển-đảo vẫn chưa được quan tâm thực hiện. Vì môi

1


trường sống của Hemiptera ở nước là rất đa dạng nên để có được dữ liệu đầy đủ về
thành phần loài của nhóm Côn trùng nước này ở nước ta cần có những điều tra trên
các môi trường sống khác nhau, gồm cả môi trường nước ngọt và môi trường biển,
cả khu vực đất liền và khu vực hải đảo.
Côn Đảo và Phú Quốc là những đảo lớn ở khu vực vùng biển phía nam của
nước ta, có độ đa dạng sinh học cao và được khoanh vùng một phần cho Vườn
Quốc gia Côn Đảo và Vườn Quốc gia Phú Quốc. Đã có nhiều đề tài, dự án nghiên
cứu đa dạng sinh học của khu vực Côn Đảo và Phú Quốc, được thực hiện bởi các
nhà khoa học trong và ngoài nước [3, 4]. Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ
tập trung vào nhóm động thực vật trên cạn, hay nhóm động vật có xương sống ở
nước, gần như chưa có dẫn liệu về động vật không xương sống ở nước [3, 4]. Cho
đến nay, chưa có dẫn liệu nào về Côn trùng nước bộ Hemiptera tại các khu vực này.
Vì vậy, để góp phần tìm hiểu về thành phần loài và đa dạng sinh học của Côn Đảo
và Phú Quốc, cũng như góp phần xây dựng dữ liệu về Côn trùng nước ở Việt Nam,
chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài Côn trùng nƣớc bộ
Hemiptera ở Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) và Phú Quốc (tỉnh Kiên
Giang)” với mục đích:
- Tìm hiểu thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera tại hai khu vực nghiên
cứu nói trên.
- Đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài của hai khu vực này với các khu
vực khác ở Việt Nam đã được nghiên cứu trước đây.

2



3


đưa ra danh lục gồm 14 loài thuộc họ Aphelocheridae và mô tả 1 loài mới được ghi
nhận đầu tiên: Aphelocheirus carinatus từ tỉnh Hồ Bắc (Trung Quốc) [29]. Tran &
Zettel (2006) mô tả 1 loài mới từ Đông bắc Ấn Độ, Eotrechus pilicaudatus [60].
Tran et al. (2010) ghi nhận 4 loài thuộc giống Hydrometra lần đầu tiên ở đảo Hải
Nam (Trung Quốc): Hydrometra gilloglyi, H. jaczewskii, H. greeni và H.
longicapitis, góp phần bổ sung thêm thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera
ở đây [58].
Khu vực Đông Á và Đông Nam Á cũng có số lượng loài Côn trùng nước bộ
Hemiptera chiếm ưu thế, đặc biệt có nhiều giống thậm chí là phân họ đặc hữu [30,
64]. Esaki (1923-1930) đã mô tả nhiều loài Côn trùng nước bộ Hemiptera ở khu vực
này và các vùng lân cận, bổ sung thêm vào bậc phân loại cao hơn mà ngày nay tiếp
tục được nghiên cứu. Lundblad (1933) đưa ra tổng quan chung về Côn trùng nước
bộ Hemiptera, với danh lục những loài ở khu vực Ấn Độ đến New Guinea và Nhật
Bản [20, 64]. Polhemus & Polhemus (1989) mô tả 2 loài mới thuộc giống Hebrus từ
môi trường cạn đến đầm lầy ngập mặn ở Đông Nam Á [41]. Các nghiên cứu về
thành phần loài ở biển thuộc phân họ Haloveliinae của Singapore, Malaysia, Thái
Lan, với 6 loài mới thuộc giống Xenobates được nghiên cứu bởi Andersen (2000)
[11]. Năm 2002, Andersen đã đưa ra khóa phân loại 5 giống: Strongylovelia,
Entomovelia, Haloveloides, Halovelia và Xenobates ở Đông Nam Á [15]. Fernando
& Cheng (1974) ghi nhận 102 loài thuộc 12 họ ở khu vực bán đảo Malaysia. Cho
đến năm 2004, đã có có tổng cộng 167 loài nước ngọt thuộc 64 giống, 18 họ được
biết đến ở khu vực bán đảo Malaysia và Singapore [15, 16, 21, 34, 35, 38]. Với mẫu
vật thu được từ các suối ở phía đông và nam Thái Lan, Vitheepradit & Sites (2007,
2011) mô tả 3 loài mới thuộc giống Ptilomera (Gerridae), ghi nhận tổng cộng 7 loài
thuộc giống này ở Thái Lan và mô tả 1 loài mới thuộc họ Naucoridae: Heleocoris
mcphersoni [51, 62]. Cho tới nay, Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Thái Lan có
khoảng hơn 200 loài thuộc 17 họ [32, 33]. Yang & Murphy (2011) đưa ra khóa

từ Malaysia và Việt Nam và Ochterus singaporensis từ Singapore [38]. Tran &
Polhemus (2012) mô tả thêm loài mới Ranatra raffelesi từ Singapore và Indonesia.
Cũng trong nghiên cứu này, tác giả đã tu chỉnh vị trí phân loại của phân loài
Ranatra longipes thai Lansbury, và tách thành một loài riêng biệt, gọi là Ranatra

5


thai Lansbury [54]. Nghiên cứu nói trên đã góp phần quan trọng trong việc xây
dựng dữ liệu về Côn trùng nước bộ Hemiptera trên thế giới.
Điều đáng chú ý là các khóa phân loại đến loài Hemiptera chỉ áp dụng được
cho các cá thể trưởng thành, vì thiếu trùng không có đủ các đặc điểm hình thái để có
thể phân biệt ở bậc loài. Hiện nay, mới chỉ định loại được đến bậc họ các mẫu thiếu
trùng của Hemiptera ở nước [7, 64].
Cùng với việc nghiên cứu về phân loại học, nhiều nhà khoa học cũng quan
tâm đến việc nghiên cứu các lĩnh vực sinh thái học, địa lý sinh vật, chủng loại phát
sinh, tập tính hay sự thích nghi của Côn trùng nước bộ Hemiptera. Có thể kể đến
công trình nghiên cứu của Cobben (1968, 1978) về tiến hóa của các họ thuộc bộ
Hemiptera. Cả hai công trình này đều tập trung vào cấu trúc và sự phát triển của
trứng và ấu trùng, cấu trúc của các phần phụ miệng và một số cấu trúc khác [20,
64]. Andersen (1982) đã có nghiên cứu tổng hợp và mang tính nền tảng về tiến hóa,
chủng loại phát sinh, đặc điểm hình thái, sự thích nghi, địa lý sinh vật và hệ thống
phân loại đến bậc giống của các họ trong phân bộ Gerromorpha [7]. Ngoài ra những
nghiên cứu về hóa thạch của Popov (1971), Carpenter (1992), Andersen (1998),
Rasnitsyn & Quicke (2002) đã cung cấp những bằng chứng quan trọng về tiến hóa
của Hemiptera ở nước [20]. Michael (2003), David & John (2005) nghiên cứu về
phương thức di chuyển trên bề mặt nước của Côn trùng nước bộ Hemiptera [24,
31]. Sự tiến hóa và thích nghi của Hemiptera ở nước cũng đã được nghiên cứu ở cấp
độ sinh học phân tử, hoặc kết hợp giữa các đặc điểm hình thái với sinh học phân tử,
ví dụ như các nghiên cứu của Damgaard et al. (2005) về Halovelia và Steinovelia,

Năm 1989, Polhemus & Polhemus ghi nhận Aphelocheirus similaris từ Hà
Nội [37]. Chen & Nieser (1993) ghi nhận 6 loài thuộc giống Metrocoris ở Việt Nam
[18]. Zettel & Chen (1996) đã có những dẫn liệu về họ Gerridae ở Việt Nam, ghi
nhận tổng cộng khoảng 40 loài thuộc 18 giống [77]. Năm 1997, Hecher công bố 2
loài mới: Pseudovelia intonsa và P. pusilla, hiện chỉ tìm thấy ở Việt Nam [25].
Zettel (1998) ghi nhận Aphelocheirus similaris ở Lào Cai và cho rằng loài này chỉ
thấy ở miền bắc Việt Nam [78].

7


Các nghiên cứu về khu hệ Côn trùng nước bộ Hemiptera ở Việt Nam những
năm gần đây đã được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, tuy chỉ mới tập trung vào
một số giống hay họ. Zettel & Tran (2004) mô tả 2 loài mới: Rhagovelia
polymorpha và R. yangae, đồng thời cũng là ghi nhận đầu tiên của nhóm loài R.
papuensis ở khu vực Đông Nam Á, dựa trên mẫu vật thu được ở Hà Tĩnh và Đà
Nẵng, góp phần mở rộng dẫn liệu về vùng phân bố của nhóm loài này [74]. Tran &
Zettel (2005) đã mô tả 2 loài mới: Metrocoris vietnamensis và M. quynhi cho Việt
Nam, bổ sung thêm dữ liệu về thành phần loài thuộc Metrocoris được công bố trước
đó [59].
Năm 2006, Tran & Yang cung cấp dẫn liệu đầu tiên về loài Rhyacobates
abdominalis ở Việt Nam và mô tả 3 loài mới: Eotrechus vietnamensis, Rhyacobates
anderseni và Rhyacobates gongvo, trong đó cả hai giống Eotrechus và Rhyacobates
lần đầu tiên được ghi nhận tại Việt Nam [57]. Zettel & Tran (2006) mô tả 5 loài mới
từ Việt Nam, trong đó 4 loài thuộc giống Strongylovelia, 1 loài thuộc giống
Entomovelia, ngoài ra có 3 loài: Halovelia malaya, Haloveloides sundaensis và
Xenobates mandai được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam [75]. Trần Anh Đức
(2008) đã xây dựng khóa phân loại đến loài của họ Gerridae (Gerromorpha) ở Việt
Nam, bao gồm 64 loài thuộc 26 giống [52]. Với mẫu vật thu được từ Sa Pa (Lào
Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phú trước đây), Hòa Bình, Hà Giang, Polhemus et al. (2008)

Tran et al. đưa ra dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài Côn trùng nước bộ Hemiptera
tại khu vực nội thành ở Hà Nội, trong đó ghi nhận 23 loài thuộc 12 giống, 9 họ [53].
Ngô Quang Hiệp (2012) đã ghi nhận 49 loài thuộc 28 giống, 9 họ ở Vườn Quốc gia
Ba Vì. Đây là những dẫn liệu đầu tiên về thành phần loài Côn trùng nước bộ
Hemiptera ở các khu vực này [2]. Tran & Polhemus (2012) đã đưa ra khóa phân loại
tới loài của Gerris ở Việt Nam và mô tả 1 loài mới: Gerris curvus [56]. Ngoài ra,
các tác giả cũng ghi nhận thêm 2 loài: Gerris latiabdominis và Gerris gracilicornis
cho Việt Nam [56]. Polhemus & Polhemus (2012) ghi nhận thêm: Ochterus
signatus là loài mới ở khu vực Maylaysia và Việt Nam [39].
Những nghiên cứu nói trên đã bổ sung danh sách thành phần loài, mô tả và
ghi nhận loài mới, cũng như xây dựng các khóa định loại đến loài của các họ, giống,
góp phần làm cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu tiếp theo về Côn trùng nước bộ
Hemiptera ở Việt Nam. Cho tới nay, ở Việt Nam đã có dẫn liệu của khoảng 170 loài

9


Côn trùng nước bộ Hemiptera, thuộc 18 họ. Trong đó, nhiều nhất là họ Gerridae có
gần 70 loài, họ Veliidae có khoảng 40 loài [5, 8, 18, 25, 37, 38, 40, 52,…]. Các họ
khác như Hebridae, Hermatobatidae, Helotrephidae, Ochteridae ít được nghiên cứu
do hạn chế về tài liệu phân loại và mẫu vật. Điểm đáng chú ý là những nghiên cứu
về thành phần loài Hemiptera ở nước tại Việt Nam mới chỉ tập trung ở khu vực đất
liền, trong khi đó các khu vực biển – đảo hầu như chưa được nghiên cứu.

10


1.3. Tổng quan điều kiện tự nhiên Côn Đảo và Phú Quốc
1.3.1. Một số dẫn liệu về điều kiện tự nhiên ở Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu)


Mùa nắng: Từ trung tuần tháng 12 đến trung tuần tháng 4, khí hậu mát mẻ,
nhiệt độ trung bình hàng năm là 27oC. Tháng 2 là tháng mát mẻ nhất, nhiệt
độ trung bình chỉ khoảng 22oC, còn tháng 5 là tháng oi bức nhất, nhiệt độ có
lúc lên tới 34oC.

11


1.3.2. Một số dẫn liệu về điều kiện tự nhiên ở Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang)
Phú Quốc hay còn gọi là Đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, nằm
trong vịnh Thái Lan. Đảo Phú Quốc cùng với các đảo khác tạo thành huyện đảo Phú
Quốc trực thuộc tỉnh Kiên Giang. Toàn bộ huyện đảo có tổng diện tích 593,05 km²,
xấp xỉ diện tích đảo quốc Singapore. Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá 120
km và có điều kiện tự nhiên chung như sau [4].
Vị trí địa lý: Vùng biển Phú Quốc có 22 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc
lớn nhất có diện tích 574 km² (56.200 ha), dài 50 km, nơi rộng nhất (ở phía bắc đảo)
25 km, nằm trong khoảng 9°53′- 10°28′ vĩ độ Bắc và 103°49′-104°05′ kinh độ
Đông. Điểm cao nhất tới 603 m (núi Chúa).
Địa hình: Địa hình thiên nhiên thoai thoải chạy từ nam đến bắc với 99 ngọn núi đồi.
Phần các vùng biển quanh đảo nông có độ sâu chưa đến 10 m. Tuy nhiên, cụm đảo
nhỏ của cảng An Thới bị ngăn cách hẳn với phần mũi phía nam của đảo Phú Quốc
bởi một eo biển có độ sâu tới hơn 60 m.
Khí hậu: Do vị trí đặc điểm của đảo Phú Quốc nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào vùng
vịnh Thái Lan, xung quanh biển bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới
gió mùa. Khí hậu chia hai mùa rõ rệt:
+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch năm sau. Đảo
Phú Quốc chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ
gió trung bình 4 m/s. Khi gió Đông Bắc mạnh, tốc độ đạt từ 20 đến 24 m/s. Mùa
khô có độ ẩm trung bình 78%. Nhiệt độ cao nhất 35oC vào tháng 4 và tháng 5.

14


2.2.1. Địa điểm thu mẫu tại Côn Đảo
Các địa điểm thu mẫu và đặc điểm sinh cảnh trong đợt thu mẫu tại Côn Đảo
được trình bày ở Bảng 1. Ở khu vực Côn Đảo mẫu được thu tại các môi trường khác
nhau, như thủy vực nước ngọt (suối), nước lợ (nơi suối đổ ra biển) và môi trường
biển (rừng ngập mặn, bãi đá vùng triều).
Bảng 1. Các địa điểm thu mẫu tại Côn Đảo
Ký hiệu
mẫu

Địa điểm thu mẫu

Ngày thu
mẫu

Đặc điểm sinh cảnh

Cuối mùa khô, suối cạn, thu mẫu
Đầm Trầu, suối Nước
ở các vũng, hố nước còn sót lại.
Nóng, khu vực gần thác
TAD1006 nước.
13/04/2010 Nền đá lớn. Lòng suối rộng
(Tọa độ: N: 08°43'697''
khoảng 3-5m, được che phủ một
E: 106°37'152'')
phần bởi tán cây rừng.
Phần cuối của suối. Cuối mùa

E: 106°37'630'')

Gần khu vực gồm các loại thực
13/04/2010 vật nước lợ, nước mặn. Suối bằng,
nền đáy cát bùn.

15


Ký hiệu
mẫu

Địa điểm thu mẫu

Ngày thu
mẫu

Đặc điểm sinh cảnh

Vịnh Đầm Tre, rừng
Rừng ngập mặn, và vùng triều của
ngập mặn và vùng triều
TAD1010 của suối nước ngọt.
14/04/2010 suối nước ngọt. Nền đáy đá cỡ
(Tọa độ: N: 08°44'696''
vừa và nhỏ, có xen lẫn bùn.
E: 106°39'123'')
Hòn Bảy Cạnh, dải rừng
ngập mặn ven đảo.
TAD1011


16


Bảng 2. Các địa điểm thu mẫu tại Phú Quốc
Ký hiệu
mẫu

Địa điểm thu mẫu

Ngày thu
mẫu

Suối nền đá liền và đá lớn, lòng
suối rộng 10-20m, nước nông
29/11/2010
nhưng chảy nhanh. Hai bên bờ là
rừng thứ sinh.
Đoạn dưới của suối, khu vực
Suối Tranh, đoạn suối
bằng và dòng nước chảy chậm,
dưới.
30/11/2010 không có tán cây rừng che phủ.
(Tọa độ: N: 10°10'727''
Nền bùn và cát, có nhiều thực vật
E: 104°00'802'')
thủy sinh.
Suối và thác nước. Nền đá cỡ vừa
Suối Tranh, đoạn suối
và lớn, độ sâu khoảng 0,5m, tốc


Suối và thác Đá Bàn.
TAD1020 (Tọa độ: N: 10°14'690''
E:104°01'954'')

TAD1021

TAD1022

TAD1023

TAD1024

TAD1025

TAD1026

Đặc điểm sinh cảnh

17


2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên
Dụng cụ thu mẫu là vợt cầm tay có miệng vợt và cán làm bằng inox. Chu vi
miệng vợt là 20 cm, cán vợt có chiều dài khoảng 40 - 50cm, lưới quây quanh miệng
vợt tạo thành hình trụ với khoảng cách từ đáy lưới tới miệng vợt là 30 cm, kích
thước mắt lưới nhỏ: 0,1mm x 0,2mm. Đối với nhóm Côn trùng nước bộ Hemiptera
sống trên mặt nước, sử dụng vợt quét nhanh và dứt khoát trên mặt nước nơi chúng
có mặt, sau đó nghiêng miệng vợt để tránh chúng nhảy ra ngoài. Đối với nhóm sống

mặt hay vắng mặt của các loài trong từng khu vực, chúng tôi sử dụng chỉ số tương
đồng Bray-Curtis [17]:
BCij = 100 x

𝟐𝒂
(𝟐𝒂 +𝒃+𝒄)

Trong đó:

BCij: Chỉ số tương đồng Bray Curtis giữa mẫu i và mẫu j
a

: Số loài chung giữa khu vực i và j

b

: Số loài chỉ có ở khu vực i

c

: Số loài chỉ có ở khu vực j

Số liệu thu thập được xử lý qua bảng biểu, sơ đồ, đồ thị. Sử dụng phần mềm
Microsoft Office Excel® v.2003 của hãng Microsoft® Corporation, USA và
Primer® v.6 Software của hãng Primer – ETM Ltd, UK để xử lý số liệu [22].

19


Chƣơng 3 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1933
Rhagadotarsus kraepelini
Breddin, 1903
Limnogonus fossarum fossarum
(Fabricius, 1775)
Limnogonus nitidus (Mayr,
1865)
Asclepios annandalei Distant,
1915
Halobates hayanus White,1883
2. Mesoveliidae
Mesovelia horvathi Lundblad,
1933
3. Veliidae
Microvelia douglasi Scott, 1847

TAD
1006

TAD
1007

TAD
1008

TAD
1009

x


x
x

x

x

x

x

x

Xenobates singaporensis
Andersen, 2000!
Halovelia bergrothi Esaki, 1926
Haloveloides sundaensis
Andersen, 1991
4. Hermatobatidae

x
x

x
x

Hermatobates sp.

x


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status