ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
Nguyễn Ý Như
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN CỰC TRỊ
DÒNG CHẢY TRÊN LƯU VỰC SÔNG NHUỆ ĐÁY THUỘC THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Thủy văn học
Mã số: 60 44 90
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn Thanh Sơn
Hà Nội - 2011
LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS. TS. Nguyễn Thanh Sơn. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành tới thầy, người đã đã hết lòng động viên, tận tình giúp đỡ và quan tâm tới
từng bước nghiên cứu của học viên.
Để thực hiện luận văn, tác giả đã được sự hỗ trợ về mặt tài chính của đề tài
cấp Đại học Quốc gia mã số QGTD.10.06, cũng như sự giúp đỡ về thời gian, điều
kiện nghiên cứu thuận lợi từ các thầy cô trong Bộ môn Thủy văn, các thầy cô giáo,
3
2.2 Các mô hình khí hậu – dòng chảy .............................................................31
2.2.1 Giới thiệu một số mô hình khí hậu – dòng chảy ....................................31
2.2.2 Nhận xét và lựa chọn mô hình...............................................................37
2.3 Mô hình thủy văn cho lưu vực nghiên cứu ...............................................38
2.3.1 Cấu trúc của mô hình NAM ..................................................................38
2.3.2 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến dòng chảy trong mô hình NAM..........40
2.3.3 Các thông số cơ bản của mô hình NAM ................................................43
2.3.4 Điều kiện ban đầu của mô hình .............................................................44
2.3.5 Hàm mục tiêu........................................................................................44
Chương 3 ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG CỰC TRỊ DÒNG CHẢY DƯỚI TÁC ĐỘNG
CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU...................................................................................45
3.1 Cơ sở dữ liệu ..............................................................................................45
3.1.1 Số liệu đầu vào mô hình NAM..............................................................45
3.1.2 Số liệu sử dụng đánh giá biến đổi..........................................................46
3.2 Áp dụng mô hình cho khu vực nghiên cứu ...............................................48
3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá hoạt động mô hình .....................................................49
3.2.2 Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mưa dòng chảy NAM.......................50
3.3 Đánh giá biến động cực trị dòng chảy.......................................................52
3.3.1 Biến động các đặc trưng dòng chảy lũ...................................................52
3.3.2 Biến động các đặc trưng dòng chảy kiệt ................................................65
KẾT LUẬN...........................................................................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................83
4
DANH MỤC HÌNH
Hình 3. 9b. So sánh mức độ phù hợp giữa đường tần suất lý luận và đường thực
nghiệm của dòng chảy tháng kiệt nhất – lưu vực ND1 – Kịch bản A1B.................61
Hình 3. 9c. So sánh mức độ phù hợp giữa đường tần suất lý luận và đường thực
nghiệm của dòng chảy tháng kiệt nhất – lưu vực ND1 – Kịch bản A2 ...................61
Hình 3. 10. Thay đổi cường độ dòng chảy ứng với các tần suất khác nhau trên 5 tiểu
lưu vực cho 2 kịch bản A1B và A2 ........................................................................64
Hình 3. 11. Biến động dòng chảy kiệt theo không gian kịch bản A1B trên lưu vực
sông Nhuệ Đáy thuộc địa phân thành phố Hà Nội..................................................67
Hình 3. 12. Biến động dòng chảy kiệt trên các tiểu vùng thuộc lưu vực sông Nhuệ
Đáy theo kịch bản A1B qua từng thập niên và từng thời kỳ ...................................68
Hình 3. 13a. Đường cong thời khoảng dòng chảy tháng theo các điều kiện khí hậu
khác nhau tại lưu vực ND1 ....................................................................................70
Hình 3. 13b. Đường cong thời khoảng dòng chảy tháng theo điều kiện khí hậu giai
đoạn nền cho từng tiểu lưu vực..............................................................................70
Hình 3. 14a. So sánh mức độ phù hợp giữa đường tần suất lý luận và đường thực
nghiệm của dòng chảy tháng kiệt nhất – lưu vực ND1 – Giai đoạn nền .................74
Hình 3. 14b. So sánh mức độ phù hợp giữa đường tần suất lý luận và đường thực
nghiệm của dòng chảy tháng kiệt nhất – lưu vực ND1 – Kịch bản A1B.................74
Hình 3. 14c. So sánh mức độ phù hợp giữa đường tần suất lý luận và đường thực
nghiệm của dòng chảy tháng kiệt nhất – lưu vực ND1 – Kịch bản A2 ...................74
Hình 3. 15a. Dòng chảy kiệt và đặc trưng khô hạn năm 1977 ................................76
Hình 3. 15b. Dòng chảy kiệt và đặc trưng khô hạn năm 2040 ................................76
6
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3. 1. Trạm đo mưa và trọng số theo phương pháp đa giác Thiessen được sử
dụng để tính toán dòng chảy cho các tiểu lưu vực thuộc lưu vực Nhuệ Đáy...........48
Bảng 3. 2. Mức độ mô phỏng của mô hình tương ứng với chỉ số Nash ..................49
COD
Chemical oxygen demand (Nhu cầu oxy hóa học)
DEM
Digital Elevation Model (Mô hình độ cao số hóa)
DHI
Danish Hydraulic Institute (Viện nghiên cứu thủy lực
Đan Mạch)
ECHAM
European Centre Hamburg Model (Mô hình khí hậu
toàn cầu của Trung tâm châu Âu tại Hamburg)
ESRI
Environmental Systems Research Institute (Viện nghiên
cứu hệ thống môi trường)
FDC
Flow duration curve (Đường cong thời khoảng dòng
chảy)
GCM
hình thủy văn kết hợp
IPCC
Intergovernmental Panel on Climate Change (Ban Liên
chính phủ về Biến đổi khí hậu)
KNK
Khí nhà kính
KT – XH
Kinh tế - Xã hội
MIKE – SHE
Système Hydrologique Européen (Mô hình hệ thống
thủy văn Châu Âu)
NAM
Nedbør - Afstrømnings – Models (Mô hình mưa – dòng
chảy)
NASIM
Niederschlag – Abfluss Simulation Model (Mô hình
tính mưa – dòng chảy
lượng nước)
RegCM
REGional Climate Model (Mô hình khí hậu khu vực của
ICTP)
SAC – SMA
Sacramento Soil Moisture Accounting (Mô hình tính
toán hàm lượng ẩm đất)
SCS
Soil Conservation Service (Phương pháp bảo tồn đất)
SWAT
Soil and Water Assessment Tool
9
KH KTTV& MT
Khoa học Khi tượng Thủy văn và Môi trường
WHO
World Health Organization
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI LIÊN
QUAN TỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) đã được Svante Arrhenius, một nhà khoa
học người Thủy Điển, đề cập đến lần đầu tiên năm 1896, cho rằng sự đốt cháy nhiên
liệu hóa thạch sẽ dẫn đến khả năng cao hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nghiên cứu
về vấn đề này bị gián đoạn do vào thời điểm đó ảnh hưởng của con người là không
đáng kể so với yếu tố thiên nhiên. Đến cuối thập niên 1980, khi nhiệt độ bắt đầu
tăng lên nhanh thì hiện tượng nóng lên toàn cầu lại được chú ý đến. Lý thuyết về
hiệu ứng nhà kính ra đời và Tổ chức Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu của Liên
Hiệp quốc (IPCC) đã được thành lập qua Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc
và Tổ chức Khí tượng thế giới.
Năm 1990, các nghiên cứu về biến đổi khí hậu của IPCC được công bố, bao
gồm hiện tượng nóng lên toàn cầu, khí nhà kính, hiệu ứng nhà kính, nước biển
dâng, các tác nhân khí hậu, lịch sử thay đổi của khí hậu Trái Đất và trở thành một
cơ sở khoa học khi nghiên cứu về vấn đề này. Dựa trên việc mở rộng, cải thiện khối
lượng lớn dữ liệu quan trắc và phân tích có độ tin cậy cao, IPCC đã đưa ra những
bằng chứng mạnh mẽ rằng hiện tượng nóng lên toàn cầu quan trắc thấy trong 50
năm qua là do các hoạt động của con người. Đồng thời, sự hợp nhất cả nhân tố tự
nhiên và con người trong kết quả quan trắc và tính toán mô hình trong 140 năm
Những thay đổi trong khí hậu khu vực cho thấy tác động đến hệ thống sinh thái, vật
lý và có dấu hiệu về tác động của nó đối với hệ thống kinh tế, xã hội. Xu hướng
tăng nhiệt độ đã tác động đến hệ thống tài nguyên nước và các hệ sinh thái ven biển,
trong lục địa ở nhiều nơi trên thế giới, dẫn tới chi phí kinh tế xã hội tăng lên do biến
đổi khí hậu khu vực và thời tiết nguy hiểm tăng lên [30].
Biến đổi khí hậu có khả năng ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực trong đó có
tài nguyên nước. Trong khoảng 10 – 15 năm qua đã có nhiều nhà thủy văn trên thế
cầu như sự không đồng bộ trong độ dài chuỗi dữ liệu, hay thiếu số liệu. Mặc dù đã
cung cấp một cái nhìn tổng quan về xu hướng biến đổi dòng chảy toàn cầu, dòng
13
chảy tăng 4% với 1oC tăng lên của nhiệt độ; thực tế phần lớn các nghiên cứu theo
hướng này lại được thực hiện trên quy mô khu vực, vì thế vấn đề cần chuỗi số liệu
dài và tương đối đầy đủ là bức thiết. Hướng nghiên cứu chuỗi lịch sử được thực
hiện ở hầu hết các nghiên cứu. Những thay đổi nhiệt độ không khí trung bình được
bổ sung bằng cách tăng những lượng cụ thể vào chuỗi nhiệt độ lịch sử và thay đổi
lượng mưa bằng phép toán tích với hệ số xác định.
Hướng tiếp cận này có khả năng cung cấp những thông tin hữu ích về các
đặc tính thủy văn trong điều kiện khí hậu tương lai. Tuy nhiên, do hầu hết các mô
hình thủy văn sử dụng các giá trị điểm hay trung bình lưu vực của dữ liệu khí tượng
nên đã vấp phải một vấn đề là đầu ra của mô hình khí hậu toàn cầu (GCM) quá lớn,
phải được chuyển sang phạm vi nhỏ hơn phù hợp với các đánh giá tác động trên quy
mô địa phương. Xu Z.X. (2008) [38] sử dụng 4 kết quả của mô hình khí hậu toàn
cầu GCMs, và phương pháp chi tiết hóa thống kê để xây dựng các biến khí hậu địa
phương mưa và nhiệt độ trong tương lai. Dữ liệu này được sử dụng làm đầu vào cho
mô hình thủy văn phân bố SWAT để tính toán chế độ dòng chảy tương lai tương
ứng trong lưu vực thượng nguồn Yellow. Kết quả cho thấy xu hướng giảm dòng
chảy trung bình năm và tăng lượng thiếu hụt tài nguyên nước trên lưu vực nghiên
cứu, tuy nhiên biến động thủy văn tương ứng với mỗi số liệu biến đổi GCMs tương
đối lớn. Kim U. & nnk (2008) [29] đã đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối
với cả chế độ thủy văn và tài nguyên nước trên lưu vực thượng lưu sông Blue Nile ở
Ethiopia, khu vực có dữ liệu quan trắc hạn chế. Nghiên cứu này cũng sử dụng đầu
ra của mô hình khí hậu GCMs làm đầu vào cho mô hình thủy văn 2 bể chứa đơn.
Điểm đáng chú ý ở đây là đã sử dụng tổ hợp kết quả của 6 mô hình GCMs khác
nhau theo trọng số dựa trên độ chính xác của từng mô hình trong kết quả tính toán
phương pháp này yêu cầu một hệ thống máy tính lớn để lưu trữ và thực hiện các
phép tính toán. Tuy nhiên trong nghiên cứu lại không đề cập đến phương pháp tính
hệ số tỉ lệ cho việc chỉnh sai. Với phương pháp nội suy phi tuyến yêu cầu phải nắm
rõ tác động từ các nút đến điểm trạm. Trong trường hợp không xác định rõ được
trọng số của các nút thì việc sử dụng phương pháp này sẽ ảnh hưởng đến kết quả
nội suy. Kết quả đều rất tốt đối với cả mưa và nhiệt độ tháng. Kết quả hiệu chỉnh
mô hình thủy văn khá tốt thông qua chỉ số Nash 0.77 với sai số dòng chảy tổng vượt
5.5%, được thực hiện tại trạm Hà Nội. Phương pháp chỉnh sai có thể mô phỏng tốt
15
hơn khi kịch bản GCM qua giai đoạn đỉnh lũ và có xu thế đường quá trình. Xét về
thời gian trễ, mô hình hiện chưa đáp ứng được, ở đây chỉ có cường độ mưa được
hiệu chỉnh mà bỏ qua tần suất. Kết quả bước đầu của nghiên cứu cho thấy xu hướng
ngày càng ác liệt của lũ và sự thay đổi khác biệt trong mùa mưa.
Nghiên cứu của Vũ Văn Minh & nnk (2011) [5] đã thực hiện đánh giá xu
hướng thay đổi của dòng chảy lũ, nhưng chỉ dừng lại ở phân tích mực nước lũ lớn
nhất trên phạm vi rộng của cả lưu vực sông Hồng – Thái Bình. Kết quả cho thấy
dòng chảy lũ dự tính trên lưu vực sông Hồng-Thái Bình tăng dần qua từng thời kỳ.
Một nghiên cứu khác, của cùng nhóm tác giả, mặc dù đề cập đến cả dòng chảy kiệt
và dòng chảy lũ, nhưng chỉ dừng ở giá trị trung bình của mùa lũ, kiệt mà chưa phân
tích các đặc trưng của chúng. Kết quả cũng cho thấy dòng chảy trung bình có xu
hướng tăng trên lưu vực sông Hồng – Thái Bình, trong đó dòng chảy lũ có xu
hướng tăng, dòng chảy kiệt có xu hướng giảm.
Trần Thanh Xuân (2011) [17] ngoài việc tập trung vào dòng chảy trung bình
năm, mùa, còn đề cập đến dòng chảy lớn nhất tương ứng với các tần suất khác nhau.
Kết quả cho thấy giá trị lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất năm (Qmax) tương ứng với các
tần suất đều tăng trên phần lớn các sông với mức tăng khoảng 5 ÷ 22%, nhất là ở
các sông nhánh.
phạm vi: phía Bắc và phía Đông được bao bởi đê sông Hồng kể từ ngã ba Trung Hà
tới cửa Ba Lạt với chiều dài khoảng 242 km, phía Tây Bắc giáp sông Đà từ Ngòi
Lát tới Trung Hà với chiều dài khoảng 33 km, phía Tây giáp Hòa Bình, phía Nam
giáp Hà Nam [4].
Địa hình: Xét về mặt cấu trúc ngang đi từ Tây sang Đông có thể chia địa
hình khu vực nghiên cứu thành vùng chính như sau:
a) Vùng đồi núi. Địa hình núi phân bố ở phía Tây và Tây Nam, chiếm
khoảng 30% diện tích, có hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam ra biển và
thấp dần từ Tây sang Đông. Địa hình đồi núi được tách ra với địa hình núi và đồng
17
bằng độ chênh cao
Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng năm là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ
không khí trung bình hàng năm từ 15-24oC. Mùa đông gió có hướng thịnh hành là
Đông Bắc, tần suất đạt 60 - 70%. Một số nơi do ảnh hưởng của địa hình, hướng gió
đổi thành Tây Bắc và Bắc, tần suất đạt 25 - 40%. Mùa hè các tháng V, VI, VII
hướng gió ổn định, thịnh hành là Đông và Đông Nam, tần suất đạt khoảng 60 70%. Tháng VIII hướng gió phân tán, hướng thịnh hành nhất cũng chỉ đạt tần suất
20 - 25%. Các tháng chuyển tiếp hướng gió không ổn định, tần suất hướng thay đổi
trung bình từ 10 - 15%.
Bốc hơi là một trong những thành phần chính của cán cân nhiệt và cán cân
nước. Lượng bốc hơi từ bề mặt trải trên lưu vực chủ yếu quyết định bởi tiềm năng
nhiệt và ẩm. Do đó, sự phân bố của lượng bốc hơi năm phụ thuộc vào sự phân bố
không gian của nhiệt và ẩm. Ngoài yếu tố mưa, yếu tố bốc hơi từ bề mặt lưu vực
cũng tham gia trực tiếp vào cán cân nước, ảnh hưởng rõ rệt tới sự hình thành dòng
chảy. Do nền nhiệt độ trên lưu vực cao làm cho quá trình bốc hơi trên lưu vực diễn
ra đều khá lớn. Lượng bốc năm dao động trong khoảng 900-1000mm. Do chịu ảnh
hưởng của biển độ ẩm tương đối trung bình hàng năm của lưu vực là 75-80%, lớn
nhất vào đầu mùa mưa, và thấp nhất trong mùa khô.
Thủy văn Mạng lưới sông ngòi khu vực nghiên cứu tương đối phát triển, mật
độ lưới sông đạt 0,7 - 1,2km/km2 Lưu vực có dạng dài, hình nan quạt, gồm:
20
Sông Đáy nguyên là một phân lưu lớn đầu tiên ở hữu ngạn sông Hồng, bắt
đầu từ cửa Hát Môn chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Nhưng đến năm 1937,
sau khi xây dựng xong đập Đáy nước sông Hồng không thường xuyên vào sông
Đáy qua cửa đập Đáy trừ những năm phân lũ, vì vậy phần đầu nguồn sông (từ km 0
đến Ba Thá dài 71km) sông Đáy coi như đoạn sông chết. Lượng nước để nuôi sông
Đáy chủ yếu là do các sông nhánh, quan trọng nhất là sông Tích.
Sông Nhuệ lấy nước từ sông Hồng qua cống Liên Mạc để tưới cho hệ thống
thủy nông Đan Hoài. Sông Nhuệ còn tiêu nước cho thành phố Hà Nội, thị xã Hà
sông lớn chi phối chế độ thủy văn trên hệ thống, sông Đáy còn nhận nước từ các
sông tiêu, sông tưới qua các cống La Khê, Ngoại Độ…Các sông này thường phải
đóng lại khi có phân lũ trong thời gian dài, ngắn tùy thuộc vào thời gian lũ. Sông
Đáy có vị trí rất quan trọng, nó vừa là đường thoát nước chính của sông Hồng, vừa
là đường tiêu lũ của bản thân lưu vực sông Đáy
1.4.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Phân bố dân cư Dân số trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy trên lưu vực
nghiên cứu ước tính đến năm 2009 là 10,77 triệu người, mật độ trung bình đạt 1405
người/km2, cao gấp 5,5 lần so với bình quân chung của cả nước (252 người/km2).
Đặc biệt là thủ đô Hà Nội, nơi tập trung đông dân nhất, tổng số dân của Hà Nội tính
đến 1/4/2009 là 6472200 người, mật độ dân số trung bình là 1979 người/ km2. Kết
quả điều tra dân số 4/2009 cho thấy, nguồn nhân lực lao động của toàn lưu vực tăng
nhanh, đặc biệt là ở thành thị. Cho đến năm 2009 tốc độ tăng của lực lượng lao
động đạt 2,5%/năm, ở thành thị tốc độ tăng của lực lượng lao động là 5,7%, trong
khi đó vùng nông thôn chỉ đạt 1,75%.
Tốc độ tăng lao động nhanh không phù hợp với tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế, nên số người thất nghiệp và thiếu việc làm ở đây khá cao, tác động xấu đến
môi trường tự nhiên, môi trường xã hội.
Sự phân bố nguồn nhân lực và tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực giữa các
vùng, các địa phương cũng rất khác nhau, không tương ứng với nguồn tài nguyên
thiên nhiên như đất, nước, rừng và khoảng sản cũng như không phù hợp với tốc độ
22
tăng của nền kinh tế. Điều đó dẫn đến những luồng di chuyển dân cư lao động từ
vùng này sang vùng khác, cũng là nguyên nhân gây mâu thuẫn, xung đột trong việc
khai thác, sử dụng tài nguyên trong vấn đề tìm kiếm việc làm.
Tình hình phát triển kinh tế Lưu vực sông Nhuệ - Đáy có nền kinh tế - xã
hội phát triển liên tục từ rất lâu đời, cho đến ngày nay đây vẫn là một vùng kinh tế xã hội phát triển nhất đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, vùng còn có nhiều thị trấn,
giảm, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái phong phú và cuộc sống của dân cư
trong khu vực này. Chính vì vậy lưu vực sông Nhuệ Đáy được lựa chọn làm đối
tượng nghiên cứu của rất nhiều đề tài. Đây cũng là nguyên nhân chính của việc hầu
hết các nghiên cứu đều tập trung vào khía cạnh chất lượng nước của lưu vực.
Nguyễn Văn Cư (2005) [2] đã xây dựng được một mạng lưới quan trắc theo
dõi chất lượng môi trường nước theo mặt cắt và tại một số vị trí quan trọng trên lưu
vực sông Nhuệ - sông Đáy, trên cơ sở dữ liệu thu thập từ mạng lưới quan trắc đã
xây dựng được bức tranh tổng hợp về hiện trạng môi trường nước và diễn biến môi
trường theo không gian và thời gian trên toàn lưu vực bao gồm bản đồ về hiện trạng
chất lượng nước mặt theo các tiêu chuẩn loại A và loại B, đặc biệt là đã xây dựng
bản đồ Phân đoạn và bản đồ Phân vùng ô nhiễm môi trường nước mặt lưu vực sông
Nhuệ - sông Đáy. Với 3 mô hình được sử dụng bao gồm QUAL2E, mô hình sinh
thái AQUASIM, phương pháp đánh giá nhanh của WHO do đó đánh giá tương đối
đầy đủ các chỉ tiểu chất lượng nước bao gồm COD, BOD5, DO, SS, Nitrit, Nitrat,
Coliform, Amoniac, P hữu cơ và P hòa tan, tổng N và tổng P. Bên cạnh đánh giá
hiện trạng, đề tài cũng dự báo sự biến động qua các chỉ tiêu ô nhiễm trong môi
trường nước và khả năng chịu tải của từng đoạn sông thông qua các kịch bản. Kết
quả nghiên cứu cho thấy chất lượng nước sông Nhuệ có sự biến đổi mạnh mẽ theo
chiều dài dòng sông, hầu như nồng độ các chất ô nhiễm ở đây đều đạt đến mức ô
nhiễm cao nhất trên cả sông Nhuệ, và vượt trên tiêu chuẩn cho phép B từ 1,8 - 3 lần.
Từ mô hình tính toán lan truyền chất lượng nước trên sông Nhuệ có thể thấy rằng
trên 70 km chiều dài dòng sông Nhuệ chất lượng nước không thể phục vụ được cho
sinh hoạt cũng như sản xuất, nuôi trồng thuỷ sản, thậm chí cả tưới cho hoa màu.
24
Trong nghiên cứu của Lê Vũ Việt Phong [10] (2006), mô hình MIKE 11
được lựa chọn làm công cụ đánh giá hiện trạng chất lượng nước sông Nhuệ Đáy,
mặc dù chỉ mới sử dụng 2 chỉ tiêu đánh giá là BOD và DO, nhưng trên cơ sở đó tác