Các yếu tố ảnh hưởng đến cung dịch vụ các phương tiện vận chuyển hành khách đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội - Pdf 36

DANH MỤC VIẾT TẮT

STT
Từ viết tắt
1
TNHH

Ý nghĩa

2

GTVT

Trách nhiệm hữu hạn
Giao thông vận tải

3
4
5

CN1
CN2
CSNN1

Chất lượng xe
Hệ thống thông tin liên lạc
Chính sách quản lý giá xăng dầu

6
7
8


NCKH

xe khách
Kỳ vọng về giá xăng dầu
Kỳ vọng về cơ sở hạ tầng

Quốc lộ
Nghiên cứu khoa học


MỤC LỤC


DANH MỤC BẢNG BIỂU


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

1.1. Đặt vấn đề
Mỗi một không gian địa lý, lịch sử và văn hóa đều có những đặc trưng riêng
hình thành trên cơ sở của hàng loạt các nhân tố. Hà Nội có những đặc trưng về địa lý,
lịch sử và văn hóa có tính chất riêng biệt. Trong số đó, đặc trưng nhất, có ý nghĩa bao
trùm của Hà Nội là vai trò trung tâm chính trị, hành chính quốc gia .Hiện nay thủ đô
Hà Nội là trung tâm đầu não về chính trị, văn hóa xã hội và khoa học kĩ thuật, đồng
thời là trung tâm lớn về giao dịch kinh tế quốc tế và của cả nước. . Vị trí của Hà Nội
rất thuận lợi do ở giữa đồng bằng đông dân, trù phú có các đầu mối giao thông trọng
yếu, là nơi quy tụ và toả rộng của các mạng lưới giao thông, là vị trí chính giữa Bắc Nam - Đông - Tây, chỗ hội tụ của bốn phương Hà Nội là thành phố lớn nhất Việt
Nam về diện tích với 3328,9 km2, cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với
7.200.000 người (2014). Mật độ và dân số tại Hà Nội đã tạo nên tầm quan trọng của

ứng tiêu cực cho nền kinh tế.
Chính vì vậy đã có một số đề tài nghiên cứu có liên quan tới vấn đề này như:
“Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải taxi hành khách Mai Linh Thủ Đô”Phạm Thúy Vân (04/2010). Nguồn đại học Giao thông vận tải.
Đề tài dựa vào cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách từ
đó phân tích đánh giá thực trạng chất lượng dịch vụ vận tải taxi hành khách tại
công ty,trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải taxi tại
công ty cổ phần Mai Linh Thủ Đô nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng
cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
‘Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ vận chuyển hành
khách tuyến Sài Gòn - Đà Lạt của công ty TNHH Thành Bưởi”- Quan Vĩnh
Hải(04/2013). Nguồn trường đại học Cần Thơ.
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích khảo sát đánh giá của khách hàng
về chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách của công ty TNHH THành Bưởi và tìm
ra các nhân tố ảnh hưởng tới mức độ hài lòng của khách hàng. Các phương pháp sử
dụng đó là phương pháp điều tra, thống kê, phương pháp thu thập và tổng hợp dữ
liệu, so sánh..
“Phát triển dịch vụ vận tải hành khách đường bộ tại địa bàn tỉnh Quảng Nam”Phạm Việt Cảm (2013). Nguồn đại học Đà Nẵng.
Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ vận tải hành khách của tỉnh Quảng Nam
và đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ. Phương pháp tác giả sử dụng ở đây
là phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp chuẩn tắc, phân tích điều tra,
khảo sát, phương pháp tổng hợp, so sánh và khái quát hóa…
“Đồ án Xây dựng chính sách quản lý vận tải taxi ở thủ đô Hà Nội” - Nguyễn
Văn Hiệp. Nguồn Đại học GTVT Hà Nội.
Đề tài nghiên cứu về các phương tiện vận tải hành khách công cộng và nêu ra
các chính sách quản lý của nhà nước đối với dịch vụ vận tải hành khách đường bộ.

5


Tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, phương pháp khảo sát và điều tra,


6


7


CHƯƠNG 2: PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

2.1 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng cung dịch vụ vận chuyển hành
khách đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu được tiến hành nghiên cứu trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: 2013 - 2015
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến cung
dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ:
+ Lý luận về dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ;
+ Lý luận về cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ;
+ Lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến cung dịch vụ vận chuyển hành khách
đường bộ;
- Thực trạng cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ trên địa bàn thành
phố Hà Nội. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đề tài tiến hành nghiên cứu dịch
vụ vận chuyển hành khách đường bộ bằng taxi và xe khách.
+ Thực trạng số lượng, chất lượng của các hãng taxi và xe khách trên địa bàn
thành phố Hà Nội;

cũng như phát hiện thêm những thành phần của nghiên cứu mà mô hình đưa ra ban
đầu không có. Đây là bước quan trọng để điều chỉnh thang đo cung dịch vụ của các
hãng taxi và xe khách cho phù hợp.
Nghiên cứu chính thức: áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để đo
lường sự ảnh hưởng của các yếu tố và cung dịch vụ vận chuyển. Nghiên cứu được
thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp bằng phiếu hỏi đối với ban quản lý của các
doanh nghiệp taxi, xe khách ở Hà Nội. Số lượng mẫu quan sát là n = 100 doanh
nghiệp (50 doanh nghiệp taxi và 50 doanh nghiệp xe khách) được phân bổ cụ thể như
trong bảng sau:

9


Bảng 2.1: Kết quả phân bổ phiếu điều tra thực tế
Quận

Số phiếu phát ra

Số phiếu thu về

Tỷ lệ

Giáp Bát

20

20

100%


Mỹ Đình

20

18

90%

Hoàng Mai

Bến Xe

Các thang đo sau khi đã được điều chỉnh và bổ sung thông qua phương pháp
định tính sẽ được tiếp tục đánh giá thông qua nghiên cứu định lượng với bảng câu hỏi
được điều tra. Nhóm tác giả dùng thang đo 5 bậc để đo lường mức ảnh hưởng của các
yếu tố đối với cung dịch vụ vận tải hành khách đường bộ, cụ thể là:
1 = ảnh hưởng rất ít
2 = ảnh hưởng ít
3 = ảnh hưởng bình thường
4 = ảnh hưởng nhiều
5 = ảnh hưởng rất nhiều
Nhóm tác giả sử dụng 5 thang đo ứng với 5 yếu tố đã đề ra bên trên bao gồm
yếu tố công nghệ, yếu tố chính sách Nhà nước, yếu tố giá các yếu tố sản xuất đầu
vào, yếu tố số lượng người sản xuất và yếu tố kỳ vọng. Trong mỗi yếu tố, nhóm tác
giả lựa chọn các tiêu chí nhỏ hơn để phân tích. Cụ thể:
- Yếu tố công nghệ: là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dịch
vụ. Bao gồm 2 tiêu chí
+ Chất lượng xe (CN1)
+ Hệ thống thông tin liên lạc (CN2)
- Yếu tố chính sách nhà nước: là yếu tố cân bằng và trợ giúp từ nhà nước dành

thử nghiệm các đặc tính kỹ thuật của sản phẩm...) hoặc thử nghiệm trên hiện trường
(thử nghiệm việc bán vé xe bằng nhiều mức giá khác nhau, thử nghiệm một chương
trình quảng cáo hay khuyến mãi...). Người nghiên cứu có thể phân tích, đánh giá để
lựa chọn trong số các mô hình thử nghiệm đó một mô hình thu thập dữ liệu thích hợp.
Trong một số trường hợp, việc thử nghiệm được xem là cần thiết trước khi quyết
định, chẳng hạn, thử nghiệm một loại dược phẩm mới; thử nghiệm một sản phẩm mới
trước khi thương mại hóa... Chi phí để thử nghiệm thường khá lớn, nhưng dữ liệu thu
thập được đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy cao.

11


2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp so sánh và tổng hợp: So sánh (hoặc so sánh đối chiếu) là một
thao tác nghiên cứu được dung rất nhiều. Vai trò quan trọng ít hay nhiều của thao tác
nghiên cứu này là tùy thuộc vào đặc điểm bản chất của đối tượng nghiên cứu, và do
đó vào nhiệm vụ của ngành khoa học nghiên cứu đối tượng ấy.
Phương pháp so sánh cho phép tìm ra sự chênh lệch các số liệu giữa các
khoảng thời gian, thời điểm khác nhau, từ đó đưa ra các kết luận, suy đoán. Đề tài sử
dụng phương pháp này nhằm so sánh mức độ ảnh hưởng của các yếu tố với nhau và
ảnh hưởng tới cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ.
- Phương pháp xử lí số liệu:
Sử dụng phần mềm Excel để phân tích số liệu thu thập được từ phiếu khảo sát.
Sử dụng hàm Mean và Mode để biết được giá trị trung bình của các tiêu chí và
mức đánh giá có tần suất xuất hiện lớn nhất từ đó đưa ra kết luận về mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố tới cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ trên các
thang đo theo từng tiêu thức phân tổ so sánh cụ thể.
2.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Điều tra phỏng vấn là phương pháp đặc biệt thích hợp khi người nghiên cứu
không có cơ sở lý thuyết, lý luận hay suy nghĩ xác thực về vấn đề, trái lại mong muốn



CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến cung dịch vụ vận
chuyển hành khách đường bộ
3.1.1 Lý luận về dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ
- Khái niệm dịch vụ vận chuyển
Dịch vụ vận chuyển là một quy trình kỹ thuật nhằm di chuyển vị trí của con
người và vật phẩm trong không gian. Theo nghĩa rộng dịch vụ vận chuyển là một quy
trình kỹ thuật nhằm di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong không gian.
Theo nghĩa hẹp (dưới góc độ kinh tế), dịch vụ vận chuyển là sự di chuyển vị trí của
hành khách và hàng hoá trong không gian khi thoả mãn đồng thời 2 tính chất: là một
hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập.
+ Phân loại:
Hệ thống vận chuyển bao gồm các hình thức vận chuyển: Vận chuyển đường
không, vận chuyển đường thủy, vận chuyển đường sắt, vận chuyển đường bộ và vận
chuyển đường ống.

• Vận chuyển đường không.
Vận chuyển đường không có ưu điểm là tốc độ cao, có đường nối các điểm đi,
đến ngắn nhất mà các phương tiện vận chuyển khác không thực hiện được. Do tốc độ
kỹ thuật cao nên vận chuyển đường không tiết kiệm được thời gian. Khi vận chuyển
càng xa thì ưu điểm này càng lớn. Ngược lại, với khoảng cách vận chuyển ngắn và
sân bay ở xa các điểm hàng thì ưu điểm này không lớn.
Nhược điểm cơ bản của vận chuyển đường không là giá thành vận chuyển cao
vì trọng lượng phương tiện và nhiên liệu vật liệu tính cho 01 tấn hàng vận chuyển
lớn, công suất của động cơ tính cho một đơn vị trọng tải lớn. Hiện nay, trên thế giới
ngành vận chuyển đường không đang phát triển mạnh trong phạm vi mỗi quốc gia
cũng như trong phạm vi quốc tế.

Tốc độ vận chuyển hàng của ô tô nhanh hơn đường sắt cả về khoảng cách ngắn
và khoảng cách dài. Vì vậy, việc vận chuyển hàng giữa các thành phố bằng ô tô đang
phát triển mạnh. Việc sử dụng rộng rãi các đoàn xe đầu kéo có trọng tải lớn, cải thiện
đường sá và cải tiến tổ chức quản lý có tác dụng thúc đẩy vận tải ô tô giữa các thành
phố phát triển nhanh.
Do có những ưu điểm nên ngành vận chuyển hành khách bằng ô tô cũng phát
triển nhanh cả về vận chuyển nội tỉnh cũng như vận chuyển liên tỉnh.
Nhờ tính cơ động và khả năng vận chuyển hàng xây dựng trực tiếp đến các
điểm thi công, vận chuyển ô tô được coi là hình thức vận chuyển giữ vai trò chủ đạo
trong xây dựng cơ bản.
Ngoài chức năng vận chuyển độc lập, vận chuyển ô tô còn hỗ trợ đắc lực cho
vận chuyển đường sắt và đường thủy, đường không trong việc tiếp chuyển hàng hóa
và hành khách.

15


Ngành vận chuyển ô tô có nhược điểm là các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật thấp hơn
so với vận chuyển đường sắt và vận chuyển đường thủy, chi phí nhiên liệu cho một
đơn vị sản phẩm cao nên giá thành vận chuyển ô tô cao hơn vận chuyển đường thủy
và đường sắt.

• Vận chuyển đường ống.
Vận chuyển đường ống là hình thức vận chuyển đặc biệt để vận chuyển dầu
mỏ, hơi đốt và nước sạch. Trong những năm gần đây ngành vận chuyển này phát
triển rất nhanh.
Ưu điểm của vận chuyển đường ống là nguồn vốn đầu tư không nhiều, vốn đầu
tư xây dựng 1km đường ống so với đường sắt (nếu không tính phương tiện vận
chuyển) thì nhỏ hơn 2 lần, nếu tính cả phương tiện vận chuyển thì nhỏ hơn 3 lần.
Đồng thời vốn đầu tư này có thể bù đắp lại trong vòng từ 1-3 năm do tiết kiệm chi phí

hàng trên thị trường. Muốn hành vi này diễn ra trên thị trường cần phải có đủ hai điều
kiện xảy ra cùng một lúc, đó là:
Người sản xuất có hàng hóa (điều kiện cần): Có nghĩa là nhà sản xuất có đủ
hàng hóa hoặc dịch vụ theo yêu cầu thị trường.
Họ sẵn sàng bán (điều kiện đủ): Có nghĩa là người bán sẵn sàng cung cấp
lượng hàng hóa đó nếu có đủ người mua chúng.
Thứ hai: Cung thị trường được tập hợp từ cung của các nhà sản xuất có tham
gia thị trường.
Như vậy, quy mô cung thị trường một loại hàng hóa nào đó phụ thuộc vào cung
của các cá nhân sản xuất loại hàng hóa này.
Cung cá nhân: Là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà 1 cá nhân có khả năng và
sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định, với các yếu tố
khác không đổi.
Cung thị trường: là tổng số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà mọi người có khả
năng và sẵn sàng bán với các mức giá khác nhau tại một thời điểm nhất định với các
yếu tố khác không đổi.
Cung thị trường = Tổng cung cá nhân theo chiều ngang.

Trong đó:

: Lượng cung của thị trường tại mỗi mức giá

17


: Lượng cung của một cá nhân tại mỗi mức giá.

Thứ ba: Cung thị trường phải được xác định trong phạm vi không gian và thời
gian nhất định. Điều đó có nghĩa là, khi nghiên cứu thị trường ta phải cố định yếu tố
không gian (xảy ra ở đâu?) và cố định yếu tố thời gian (xảy ra vào lúc nào?).


- Đặc trưng của đường cung: Đường cung phổ tiêu chí của thị trường hàng hóa
dịch vụ thường có 2 đặc trưng cơ bản: đường cong dốc lên về phía phải.
Đường cung thị trường là đường cong bởi vì nó được tập hợp từ đường cung cá
nhân các nhà sản xuất có tham gia thị trường. Ở cùng một mức giá, các nhà sản xuất
có điều kiện khác nhau sẽ bán ra một lượng không giống nhau. Vì vậy, nếu cộng theo
chiều ngang đường cung của các cá nhân theo từng mức giá ta có đường cung thị
trường hàng hóa đó và đó là một đường cong.
Đường cung thường dốc lên phía phải cho biết: Khi giá cả tăng lên nhà sản
xuất sẽ bán ra một lượng nhiều hơn trước. Nếu chi phí sản xuất ra một đơn vị hàng
hóa không đổi, khi giá cả của háng hóa tăng lên đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận
cho các nhà sản xuất. Chính điều này tạo ra động lực cho các nhà sản xuất mở rộng
quy mô, làm tăng lượng cung trên thị trường.
P
P3
P2

P1

Đồ thị 3.1: Đường cung thị trường hàng hóa dịch vụ
Khi giá cả tăng sẽ lôi kéo thêm một số nhà sản xuất tham gia vào thị trường và
làm cho lượng cung tăng lên.
- Các đường cung đặc biệt: Ngoài đường cung phổ tiêu chí nghiên cứu, chúng
ta còn gặp một số trường hợp ngoại lệ của đường cung (đường cung đặc biệt).
Trường hợp 1 (hình 3.2a): đường cung tuyến tính dốc lên trên thể hiện mối
quan hệ tuyến tính giữa giá cả P và lượng cung QS tức là: Khi P tăng hoặc giảm một
hoặc giảm một lượng ∆P thì lượng cung cũng tăng hoặc giảm một lượng ∆Q

19


Dạng tổng quát:
Hàm cung thị trường có dạng tổng quát:
QS (x,t) = f(PX; Pi; T; G; N; E...)
Trong đó: QS (x,t) là cung hàng hóa X xác định trong khoảng thời gian t (t là
thời gian nghiên cứu cung: ngày, tháng, quý, năm cụ thể) đóng vai trò là hàm cung.
PX : giá cả hàng hóa đang xét
Pi: Giá cả các yếu tố đầu vào.
T: Công nghệ sản xuất.
G: Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
N: Số lượng người sản xuất.
E: Kỳ vọng người sản xuất.
- Cung hàng hóa X cùng một lúc phụ thuộc vào sự thay đổi tất cả các yếu tố
trên nhưng để đơn giản trong nghiên cứu người ta thường dựa vào 2 giả định sau đây:
Thứ nhất: để nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu tố đến cung hàng hóa, người
ta thường giả sử các yếu tố khác không đổi.
Thứ hai: Hàm cung có dạng tuyến tính, tức là quan hệ giữa từng yếu tố với
cung là quan hệ tuyến tính. Chẳng hạn hàm cung phụ thuộc vào giá hàng hóa có
dạng:
QS =

P+

Trong đó:
QS là lượng cung hàng hóa X với vai trò hàm số.
PX là giá hàng hóa X với vai trò là biến số.
Tham số

thể hiện quan hệ tuyến tính giữa PX và QS (Khi PX tăng hoặc giảm

1 đơn vị thì QS tăng hoặc giảm tương ứng

cho cung thị trường tăng lên, và ngược lại.
Khi giá cả các yếu tố đầu vào thay đổi làm dịch chuyển đường cung. Nếu Pi
tăng lên dẫn đến lượng cung giảm làm cho đường cung dịch chuyển về phía trái hoặc
ngược lại.
Trình độ công nghệ sản xuất (T)
Công nghệ thể hiện phương pháp phối hợp đầu vào để tạo ra sản phẩm. Nó là
yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Vì vậy, nếu
công nghệ chi phí thấp, chất lượng cao. Nhờ chi phí thấp, chất lượng cao. Nhờ đó làm
tăng cung hàng trên thị trường và ngược lại.
b. Khái niệm cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ
Dịch vụ là hoạt động có ích của con người tại ra những sản phẩm dịch vụ,
không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu
nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời
sống xã hội của con người.
Cuộc sống không thể thiếu đi lại, đi lại để tới nơi làm việc, tới trường…phát
sinh nhu cầu đi lại sẽ phát sinh nguồn cung đáp ứng nhu cầu đó. Như vậy, dịch vụ
vận chuyển hành khách đường bộ mang bản chất giống một loại hàng hóa. Dịch vụ
vận chuyển hàng khách đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện giao thông
đường bộ để vận chuyển hành khách trên đường bộ.

22


Cung dịch vụ vận chuyển hàng khách đường bộ là số lượng dịch vụ vận chuyển
hành khách đường bộ mà người sản xuất muốn bán và có khả năng bán ở mức giá
khác nhau trong khoảng thời gian nhất định, với các yếu tố khác không đổi.
Tương tự như vậy, lượng cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ là số
lượng dịch vụ mà các hãng muốn bán tại một mức giá đã cho với các yếu tố khác
không đổi.
3.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ

giá trong tương lai tăng lên, các doanh nghiệp có lẽ sẽ dự trữ lại hàng hóa và trì hoãn
việc bán trong hiện tại để có thể kiếm được lợi nhuận cao trong tương lai khi giá tăng.
- Chính sách thuế và các quy định của chính phủ
Chính sách thuế của chính phủ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cung
của các nhà sản xuất. Khi chính phủ tăng thuế đối với một ngành sản xuất nào đó, các
doanh nghiệp trong ngành sẽ bị gánh nặng thêm chi phí trong sản xuất và ngành này
sẽ trở nên kém hấp dẫn. Do đó, các doanh nghiệp sẽ cung ứng ít hơn và một số doanh
nghiệp có thể rời khỏi ngành.
Ngoài thuế, các quy định, chính sách khác của chính phủ cũng có ảnh hưởng
lớn đến cung. Ví dụ, chính sách chống ô nhiễm để bảo vệ môi trường sẽ làm giá tăng
chi phí của một số ngành công nghiệp như sản xuất xe gắn máy, xe ô tô… và làm
giảm lợi nhuận của các ngành này. Những chính sách như vậy có thể làm giảm sản
lượng của ngành sản xuất xe gắn máy, xe ô tô... Ngược lại, chính sách hỗ trợ ngành
mía đường trong thời gian qua ở nước ta, chẳng hạn, đã làm tăng cung của ngành này.
- Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan khác
Việc sản xuất của các doanh nghiệp có thể gắn liền với các điều kiện tự nhiên
như đất, nước, thời tiết, khí hậu... Sự thay đổi của các điều kiện này có thể tác động
đến lượng cung của một số loại hàng hóa nào đó trên thị trường. Ví dụ, điều kiện tự
nhiên có thể là một yếu tố kìm hãm hay thúc đẩy việc sản xuất của các doanh nghiệp
kinh doanh nông nghiệp. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật
nuôi. Đó là những cơ thể sống nên rất dễ bị tác động bởi điều kiện tự nhiên. Các
nghiên cứu về sản xuất lúa của nông dân nước ta cho thấy năng suất lúa đạt được một
phần do điều kiện tự nhiên quyết định. Điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ tạo ra năng
suất cao và ngược lại sẽ làm giảm năng suất. Một nền sản xuất nông nghiệp càng lạc
hậu thì càng dễ bị tự nhiên chi phối và ngược lại.
Sự thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến cung sẽ làm dịch chuyển đường
cung. Người bán sẽ thay đổi lượng cung ở mỗi mức giá khi các yếu tố này thay đổi.
b. Các yếu tố ảnh hưởng đến cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến cung dịch vụ vận chuyển hành khách đường bộ, cụ
thể dịch vụ xe taxi và xe khách bao gồm:

hành khách. Ví dụ, khi Nhà nước tăng thuế nhập khẩu xăng dầu dẫn đến tăng chi phí
đầu vào của doanh nghiệp, giảm lợi nhuận kinh doanh.. nếu doanh nghiệp không cân
bằng giá dịch vụ có thể dẫn tới lợi nhuận âm và dẫn tới phá sản.
Chính sách quản lý phí giao thông đường bộ (CSNN2): Vốn xây dựng các công
trình công cộng như cầu vượt, cầu, hầm…cần thu hồi cùng chi phí bảo dưỡng các
công trình công cộng này được thu thông qua phí giao thông đường bộ của các
phương tiện lưu thông. Xe taxi, xe khách.. cũng không ngoại lệ, việc lưu thông, sử
dụng các công trình công cộng của Nhà nước nộp phí hàng năm cũng là 1 chi phí
đáng kể để đưa ra quyết định cung dịch vụ của doanh nghiệp.
Chính sách nhập khẩu xe (CSNN3): Nhà nước thường xuyên có sự thay đổi
trong chính sách nhập khẩu xe để kiểm soát hoạt động nhập khẩu xe của nước ta. Ưu

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status