Đánh giá kết quả thực hiện đề án nông thôn mới tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái - Pdf 36

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Thầy
giáo - TS. Dương Đăng Khôi, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ
tôi hoàn thành báo cáo này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lý đất đai – Trường
Đại Học Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi cũng xin trân thành cảm ơn các hộ nông dân và các cơ quan, ban, ngành đoàn
thể huyện Trấn Yên; UBND các xã trên địa bàn huyện Trấn Yên đã cung cấp số liệu thực
tế và thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp, bạn bè cùng toàn thể gia
đình, người thân đã động viên tôi trong thời gian nghiên cứu đề tài.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2016

Người làm báo cáo

Phùng Thị Thu Huyền

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Nông thôn nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng và phát
triển đất nước. Nông thôn vừa là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng xã
hội; nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản hàng hóa xuất khẩu; nhân lực cho
các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.
Với mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hiện nay ngành nông nghiệp
ít được quan tâm hơn, đặc biệt là ở khu vực nông thôn có quy mô nhỏ, lợi ích người nông
dân đang bị xem nhẹ. Tốc độ phát triển kinh tế cao bên cạnh những lợi ích mang lại, cũng
có không ít những khó khăn cần giải quyết, vấn đề khoảng cách giàu nghèo ngày càng
lớn giữa các khu vực trong cả nước, nhất là giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn.
Phần lớn các hộ nông dân trên khắp cả nước đều sử dụng phương tiện thô sơ, kĩ
thuật lạc hậu trong sản xuất nông nghiệp, mang lại hiệu quả thấp về kinh tế. Hàng loạt
các vấn đề cần giải quyết tại các địa phương để nâng cao mức sống cho người dân như:
giải quyết việc làm, cải thiện giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng, kĩ thuật sản xuất nuôi trồng,
công tác quản lý tại các địa phương…
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách đầu tư phát triển
kinh tế - xã hội vùng nông thôn trong đó có nông thôn của huyện Trấn Yên, nên bộ mặt
nông thôn trên địa bàn huyện ngày một thay đổi, đời sống người dân vùng nông thôn
được cải thiện và nâng lên đáng kể.
Tuy nhiên theo tiêu chí đánh giá chung thì đời sống vật chất và tinh thần của cư
dân nông thôn trên địa bàng huyện còn thấp; tỷ lệ hộ nghèo cao; cơ sở hạ tầng thiết yếu
còn thiếu và chưa đồng bộ; sản xuất và đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Nguyên nhân dẫn đến đời sống, kinh tế - xã hội của nông thôn trên địa bàn huyện
phát triển chậm là do: nông thôn phát triển thiếu quy hoạch; kết cầu hạ tầng kinh tế - xã
hội còn yếu kém; các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới; công nghiệp – dịch vụ

thôn mới tại xã với cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông
nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị.
3. Yêu cầu của đề tài

- Hiểu và nắm vững 19 tiêu chí của đề án xây dựng nông thôn mới.
- Các số liệu điều tra, thu thập chính xác, đầy đủ, trung thực, khách quan công tác
quản lý nhà nước về đất đai.
- Đánh giá đúng thực trạng của quy hoạch nông thôn mới thông qua 19 chí tiêu
trên địa bàn xã.
- Đánh giá được sự ảnh hưởng của việc xây dựng nông thôn mới tới mọi mặt ở xã.

5


- Thu thập tài liệu tại địa phương và đưa ra những kiến nghị, đề xuất phải có tính
khả thi, phù hợp với thực tế ở địa phương.
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Các khái niệm cơ bản về xây dựng nông thôn mới
1.1.1.1 Nông thôn

Trên thế giới nông thôn hiện nay chưa được định nghĩa một cách đồng nhất, vẫn
còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng nông thôn được định nghĩa dựa
vào tiêu chí trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, nghĩa là nông thôn là vùng có cơ sở hạ
tầng không phát triển bằng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nông thôn là vùng có
mức độ tiếp cận thị trường và sự phát triển của hàng hoá thấp hơn so với đô thị. Cũng có
quan điểm định nghĩa nông thôn là vùng có tỷ lệ dân cư làm nông nghiệp là chính. Ở Việt
Nam, “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập
hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường trong
một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác.” (Mai Thanh

thôn và không giữ vững được bản sắc văn hoá riêng của nông thôn Việt Nam.
Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là động lực cơ
bản trong xây dựng nông thôn mới trên cơ sở đảy mạnh sự dịch chuyển về lao động nông
thôn.
Khái niệm nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác nhau,
nhìn chung mô hình nông thôn mới được xây dựng ở cấp xã, thôn phát triển toàn diện
theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, dân chủ, văn minh.
Xây dựng nông thôn mới là quá trình làm đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của
người dân, tạo động lực giúp họ chủ động phát triển kinh tế góp phần thực hiện chính
sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đồng thời làm thay đổi về cơ sở vật chất và
đời sống văn hoá tinh thần của người dân, qua đó thu hẹp khoảng cách về đời sống giữa
nông thôn và thành thị.
Đảng, Nhà nước ta xác định đây là một quá trình lâu dài và liên tục cần sự tập
trung lãnh chỉ đạo về đường lối, chủ trương phát triển đất nước và của các địa phương
trong giai đoạn hiện nay cũng như sau này. Với mục tiêu xây dựng nông thôn mới có kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã
hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ;
nâng cao sức mạnh của hệ thống 7 chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nông thôn; xây
dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nông và đội ngũ trí thức, tạo nền tảng
kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc, đảm bảo thực hiện thành công công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN.

7


1.1.2
Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.1.2.1 Nông thôn nước ta phát triển thiếu quy hoạch


Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, kích thích mọi người tham gia
vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu
nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị.

8


Phát triển các hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các HTX
theo mô hình kinh doanh đa ngành. Hỗ trợ các HTX ứng dụng tiến bộ khoa học - công
nghệ phù hợp với các phương án sản xuất, kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông
thôn.
Sản xuất hàng hóa với chất lượng sản phẩm mang nét độc đáo, đặc sắc của từng
vùng, địa phương. Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế
biến nông sản sau thu hoạch vừa có khả năng tận dụng nhiều lao động vừa đáp ứng yêu
cầu xuất khẩu.
* Về văn hóa - xã hội
Tăng cường dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò tự chủ trong việc thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, giúp
nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu.
* Về con người
Có kế hoạch, chương trình, lộ trình giúp người nông dân nông thôn thành người
nông dân sản xuất hàng hóa trong kinh tế thị trường, thành nhân vật trung tâm của mô
hình NTM, người quyết định thành công của mọi cải cách ở nông thôn.
Người nông dân và cộng đồng nông thôn là trung tâm của mọi chiến lược phát
triển nông nghiệp nông thôn. Đưa nông dân vào sản xuất hàng hóa, doanh nhân hóa nông
dân, doanh nghiệp hóa các cộng đồng dân cư, thị trường hóa nông thôn.
* Về môi trường
Môi trường sinh thái phải được bảo tồn xây dựng, củng cố, bảo vệ. Bảo vệ rừng
đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu
công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững.

dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá.
- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội;
cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch,
đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội
vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới.
1.1.3.2 Tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 gồm 5 nhóm với 19 tiêu chí. Ngày
20/02/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg về việc sửa
đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
* 5 nhóm tiêu chí xây dựng NTM
- Nhóm I: Quy hoạch (có 1 tiêu chí: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch).
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 8 tiêu chí: Giao thông, Thuỷ lợi, Điện,
Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa, Chợ nông thôn, Bưu điện, Nhà ở dân cư).

10


- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 4 tiêu chí: Thu nhập, Tỷ lệ hộ nghèo,
Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, Hình thức tổ chức sản xuất).
- Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 4 tiêu chí: Giáo dục, Y tế, Văn hóa,
Môi trường).
- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 2 tiêu chí: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội
vững mạnh; An ninh, trật tự xã hội).
1.2 Cơ sở pháp lý của đề án xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương

- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bẩy Ban
chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương
- Kế hoạch số 87/KH – UBND, ngày 17/9/2010 của UBND tỉnh Yên bái về triển
khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 –
2020 trên địa bàn tỉnh Yên Bái;
- Quyết định số 908/QĐ – UBND, ngày 17/6/2010 của UBND tỉnh Yên Bái về
việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Trấn yên thời kỳ 2011
- 2020;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Trấn Yên, nhiệm kỳ 2011 – 2016.
- Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội huyện Trấn Yên giai đoạn 2010 –
2015 và định hướng đến năm 2020.

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề án xây dựng nông thôn mới
1.3.1 Kinh nghiệm về phát triển nông thôn mới ở các nước trên thế giới
1.3.1.1 Ở Hàn Quốc

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có
85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng
và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá. Là nước nông nghiệp trong
khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm
sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo.
Phong trào Làng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó
và hợp tác (hiệp lực cộng đồng). Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông
thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được
nông dân hưởng ứng mạnh mẽ. Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao
thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được
đầu tư xây dựng. Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông
thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân.
Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu. Chỉ sau 8 năm,
các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành. Trong 8 năm từ


mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua
lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực.
Ngoài ra, bên cạnh giảm thu phí và thuế với nông dân, Trung Quốc còn có chủ
trương, đảm bảo trong vòng 3 năm xóa bỏ tình trạng các xã, thị trấn không có dịch vụ tài
chính tiền tệ cơ bản. Đồng thời, thúc đẩy việc mua đồ gia dụng, ô tô, xe máy tại các xã,

13


bằng cách nhà nước trợ cấp 13% trên tổng giá trị hàng hoá khi nông dân mua sản phẩm
(do nhà nước định hướng).
1.3.1.3 Ở Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm
khoảng 80% dân số cả nước. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái
Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức
hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ
của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn
trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông
dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống
bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông
nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông
sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy,
những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở
phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân có ý nghĩa và vai trò hết sức
quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền
tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. (Nguồn:
tapchicongsan.org.vn)

gia về nông thôn mới” và Thông tư 07/2010/TTBNNPTNT, ngày 08/02/2010 về “Hướng
dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã”.
+ Bộ Xây dựng ban hành Thông tư 21/2009/TT-BXD, ngày 30/6/2009 về “Quy
định việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng nông thôn”; Thông tư
số 31/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 về “ban hành tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng nông
thôn” và Thông tư số 32/2009/TT-BXD, ngày 10/9/2009 về “Ban hành quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn”; Thông tư 09/2010/TT-BXD ngày
4/8/2010 và Sổ tay Hướng dẫn lập quy hoạch nông thôn mới.
+ Liên bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài
chính đã ban hành thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNTBKHDT-BTC, ngày
13 tháng 4 năm 2011 để hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định 800/QĐ-TTg
ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
+ Các Bộ, ngành khác đều đã căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình ban hành
nhiều văn bản hướng dẫn, tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới theo chỉ đạo của Chính phủ.

15


- Tổ chức hội nghị Sơ kết đánh giá kết quả triển khai thí điểm xây dựng nông thôn
mới (ngày 22/01/2011), rút kinh nghiệm triển khai trên toàn quốc.
- Ngày 20/02/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg
về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM.
1.3.2.2 Chủ trương chính sách của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới

- Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia; các
chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn, bao gồm: Các chương trình mục tiêu
quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu đang triển khai trên địa bàn nông
thôn và tiếp tục triển khai trong những năm tiếp theo và vốn ngân sách hỗ trợ trực tiếp

người có vai trò chủ động trong phong trào xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, để người
dân thực sự hiểu rõ lợi ích to lớn của Chương trình xây dựng nông thôn mới, đòi hỏi phải
tăng cường công tác tuyên truyền; triển khai hiệu quả phong trào thi đua “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” và “Cả
nước chung sức xây dựng nông thôn mới” ở tất cả các cấp, ngành và địa phương...
- Bên cạnh đó cần thay đổi nhận thức của mỗi người dân trong việc xây dựng nông
thôn mới. Mỗi người nông dân có trách nhiệm bảo vệ môi trường sống sạch từ nhà ra
đồng, đẹp từ nhà ra vườn… Có như vậy, bộ mặt nông thôn mới từng ngày thay đổi đẹp
đẽ hơn.
- Chú trọng tổ chức lại sản xuất, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp, khuyến
khích tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh, đào tạo nghề, nâng cao thu nhập cho người
dân.

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1.1

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả xây dựng nông thôn mới đang được

triển khai tại địa phương.

17


Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về xây dựng mô hình nông
thôn mới.
2.1.2


liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường,... trên địa bàn xã
trong thời gian nghiên cứu.

18


- Thu thập số liệu sơ cấp:
Là phương pháp thu thập trực tiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về
địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu.
2.3.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu
Trên cơ sở những thông tin, tài liệu, số liệu đã thu thập được tôi tiến hành chọn lọc
những thông tin cần thiết liên quan đến đề tài. Phân loại các số liệu, tài liệu theo các lĩnh
vực khác nhau. Sắp xếp lựa chọn các thông tin phù hợp với đề tài nghiên cứu.
2.3.4. Phương pháp chuyên gia
Là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu.
Đồng thời sử dụng một số kết quả nghiên cứu có liên quan đến phạm trù này 1 cách linh
hoạt, hợp lí và cần thiết.
2.3.5. Phương pháp kế thừa, bổ sung
Thừa kế những số liệu tài liệu của những người đi trước đồng thời bổ xung những
vấn đề, số liệu mới phù hợp với nội dung nghiên cứu.
2.3.6. Phương pháp tiếp cận
- Tiếp cận từ dưới lên
- Tiếp cận hệ thống: Xét tổng thể tác động
- Tiếp cận có sự tham gia

19


CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của địa bàn huyện Trấn Yên

- Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm từ 23,1 – 23,90C; Nhiệt độ cao nhất
38,90C, nhiệt độ thấp nhất 3,30C.
- Giờ nắng các tháng trong năm từ 1.199 giờ đến 1.338 giờ.
- Lượng mưa các tháng trong năm từ 1.400 đến 2.054,6 mm.
Do ảnh hưởng của các dãy núi Pú Luông, dãy núi Con Voi và dải núi phụ Xuân
Tầm (Trái Hút – Văn Yên) nên lượng mua phân bổ không đồng đều trong năm, mưa
nhiều nhất vào tháng 7 đến tháng 9 và mưa ít nhất vào tháng 11, 12 đến tháng 1, 2 năm
sau.

20


- Độ ẩm trung bình từ 84% đến 87%; lượng bốc hơi trung bình 630 mm/năm.
- Hướng gió về mùa Đông theo hướng Bắc – Đông Bắc, mùa hè theo hướng Đông
– Đông Nam.
- Sương mù thường xuất hiện từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau.
- Lượng bức xạ mặt trời đạt 200 kg calo/cm2. Thời gian chiếu sáng trongngayf
giao động từ 10 – 13,5 giờ, song cường độ lớn nên tổng nhiệt độ vẫn đạt mức
8.3000C/năm.
3.1.1.4

Các nguồn tài nguyên
a. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra năm 1998, có thể phân theo sự hình thành và độ dốc như
sau:
* Phân theo sự hình thành:
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 1.131,4 ha, chiếm 1,8% diện tích toàn huyện, phân
bố chủ yếu ở các xã ven bờ sông Hồng. Loại đất này thích hợp cho sự phát triển của cây
lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp hàng năm.
- Nhóm đất glây: Diện tích 1.351,47 ha, chiếm 2,15% diện tích toàn huyện, phân

việc đi lại của nhân dân.
- Ngoài hệ thống sông ngòi Trấn yên có hệ thống ao hồ khá phong phú, có tổng
diện tích gần 700 ha là tiềm năng rất lớn cho việc nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy
sản cũng như xây dựng các điểm du lịch sinh thái trong tương lai.
- Nước ngầm: Trấn yên nằm trong vùng chứa nước đệ tam, đệ tứ nhưng lưu lượng
nhỏ 0,11 m3/g, sử dụng tốt cho việc đào giếng phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân. Về
chất lượng nước nhìn chung chưa bị ô nhiễm, độ khoáng hóa thấp 190 mmg/lít, độ cứng
nhỏ từ 3 – 4 mg/lít, độ PH từ 7 – 8, phần lớn đảm bảo xây dựng các công trình nước sạch.
c, Tài nguyên khoáng sản:
Căn cứ vào các tài liệu liên quan đến quy hoạch, tham dò khoáng sản của tỉnh Yên
Bái, huyện Trấn yên có một số loại khoáng sản có giá trị kinh tế như sau:
- Khoáng sản kim loại: Quặng sắt phân bố ở Việt Hồng, Lương Thịnh, Hưng
Thịnh, Hưng Khánh, Hồng Ca, Kiên Thành với tổng trữ lượng trên 91 triệu tấn.
- Khoáng sản phi kim loại: Đá thạch anh phân bố tại xã Hòa Cuông, Việt Hồng,
Lương Thịnh, Kiên Thành, Y Can trữ lượng trên 52.000 tấn, chất lượng đạt yêu cầu cho
sản xuất kính và sứ. Quặng graphit phân bố tại xã Báo Đáp, Đào Thinh, Nga Quán chưa
được đánh giá. Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có một số mỏ cao lanh tại Cường Thịnh
trữ lượng 150.000 tấn; mỏ sét ở Bảo Hưng, Y Can, Đào Thịnh…
- Vật liệu xây dựng thông thường như: đá xây dựng, cát sỏi, vật liệu sản xuất gạch
có trữ lượng lớn được phân bố rộng trên địa bàn huyện như đá xây dựng tại Hang Dơi –

22


Minh Quán, Việt Cường, Việt Hồng, Kiên Thành trữ lượng hàng triệu m3; cát sỏi dọc
theo sông Hồng trữ lượng 3.100.000 m3.
Nhìn chung nguồn tài nguyên khoáng sản trên địa bàn huyện đã được quy hoạch,
quản lý và đưa vào khai thác góp phần cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh
thái.
3.1.2

* Ngành nông nghiệp
Năm 2009 giá trị sản xuất ngành nông lâm nghiệp (theo giá cố định 1994) đạt 263.268
triệu đồng, tăng 62.571 triệu đồng so với năm 2005, dự ước năm 2010 đạt 282.750 triệu đồng,
tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 7,1%, trong đó:
- Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 150.853 triệu đồng, tăng 16.587 triệu đồng so với
năm 2005, dự ước năm 2010 đạt 160.037 triệu đồng , tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm
ngành nông nghiệp đạt 3,6%.
- Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 104.254 triệu đồng, tăng 43.844 triệu đồng so với năm
2005, dự ước năm 2010 đạt 114.231 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 5 năm ngành lâm
nghiệp đạt 13,6%.
- Giá trị sản xuất thuỷ sản đạt 8.161 triệu đồng, tăng 2.140 triệu đồng so với năm 2005,
dự ước năm 2010 đạt 8.482 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 5 năm đạt 7,1%.
Cơ cấu ngành nông lâm nghiệp: Năm 2005 tỷ trọng nông nghiệp chiếm 66,9%, năm
2009 chiếm 57,3%, năm 2010 dự ước chiếm 56,6%; Tỷ trọng lâm nghiệp năm 2005 chiếm
30,1%, năm 2009 chiếm 39,6%, năm 2010 dự ước chiếm 40,4%.
* Ngành công nghiệp – xây dựng
Tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện năm
2009 có 1.216 cơ sở, tăng 273 cơ sở so với năm 2005, trong đó khu vực kinh tế Nhà nước
duy trì ổn định 2 cơ sở, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có 1.212 cơ sở, tăng 272 cơ sở,
khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2 cơ sở, tăng 1 cơ sở so với năm 2005, tập trung
vào một số lĩnh vực: chế biến chè, chế biến gỗ rừng trồng, sản xuất vật liệu xây dựng …
Tổng giá trị sản xuất ngành Công nghiệp - Xây dựng (theo giá cố định 1994) đến
năm 2009 đạt 242.421 triệu đồng, tăng 116.768 triệu đồng so với 2005, dự ước năm 2010
đạt 293.910 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 5 năm đạt 18,5%, trong đó:
- Giá trị sản xuất ngành công nghiệp đạt 115.571 triệu đồng, tăng 64.080 triệu
đồng so với năm 2005, dự ước năm 2010 đạt 141.690 triệu đồng, tốc độ tăng bình quân 5
năm đạt 22,4%
- Giá trị sản xuất ngành xây dựng (theo giá cố định 1994) năm 2009 đạt 126.850
triệu đồng, tăng 52.688 triệu đồng, dự ước năm 2010 đạt 152.220 triệu đồng, tốc độ tăng
bình quân 5 năm đạt 15,5%.

năm 2010 chiếm 17%. Tỷ trọng Dịch vụ năm 2005 chiếm 85,5%, năm 2009 giảm xuống
83,5%; dự ước năm 2010 chiếm 83%.
Nhìn chung ngành thương mại dịch vụ đã đáp ứng được cơ bản hàng hoá, dịch vụ phục
vụ cho nhu cầu đời sống và sinh hoạt của nhân dân. Tuy nhiên quy mô phát triển còn thấp vẫn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status