Bài tập Tố tụng dân sự - Pdf 36

1.
Hãy nhận xét quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can của
cơ quan điều tra huyện H.
“ A và B vào doanh trại trộm cắp quân trang của đội ( 25tr ), tức hành vi phạm
tội của A và B đã gây thiệt hại cho quân đội. Khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh tổ chức
tòa án quân sự đã quy định thẩm quyền xét xử đối với những trường hợp phạm
tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội thuộc về Tòa
án quân sự, do đó vụ án này thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, cụ thể
là thuộc về Tòa án quân sự khu vực.
Khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (đã được sửa đổi,
bổ sung năm 2009) quy định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra hình sự
trong Quân đội nhân dân như sau: Cơ quan điều tra hình sự khu vực điều tra các
vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến
Chương XXIII của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử
của Toà án quân sự khu vực, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Do đó thẩm quyền điều tra vụ án này thuộc về Cơ quan điều tra hình sự trong
Quân đội nhân dân cấp khu vực, hay cơ quan điều tra Công an huyện H đã điều
tra không đúng thẩm quyền. Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 110 Bộ luật Tố tụng
hình sự 2003 (viết tắt là BLTTHS) quy định thẩm quyền điều tra thuộc về Cơ
quan điều tra có thẩm quyền nơi xảy ra hành vi phạm tội.
Vì vậy, nếu kho quân nhu của quân đội không nằm trên địa bàn nơi A và B cư
trú thì cơ quan điều tra Công an huyện H đã vi phạm cả thẩm quyền điều tra theo
lãnh thổ. Nói tóm lại, cơ quan điều tra Công an huyện H đã điều tra không đúng
thẩm quyền. Do đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can của cơ
quan điều tra huyện H là không đúng thẩm quyền.

2. Khi kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát thấy rằng việc điều tra của cơ quan
điều tra không đúng thẩm quyền, Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra
công an huyện H ra quyết định chuyển vụ án cho cơ quan điều tra trong
quân đội nhân dân. Quyết định đó của Viện kiểm sát đúng hay sai? Tại sao?

đội.Trường hợp này thì cơ quan điều tra quân đội nhân dân sẽ nhập vụ án theo
như quy định tại điều BLTTHS
Thứ hai: vụ án cướp tài sản xảy ra ngoài phạm vi quân đội,và không gây thiệt hại
đến tài sản của quân đội thì cơ quan điều tra phải chuyển vụ án cướp tài sản này
cho cơ quan điều tra công an điều tra tiếp


4.Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng việc điều tra của cơ quan
điều tra chưa đầy đủ. Viện kiểm sát giải quyết như thế nào? Tại sao?
Theo tình tiết trong đề bài, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng việc
điều tra của Cơ quan điều tra chưa đầy đủ, theo đó sẽ có thể xảy ra các trường
hợp sau :

Nếu việc điều tra của Cơ quan điều tra là không đầy đủ nhưng việc thiếu
sót đó không lớn, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì Viện kiểm sát
sẽ tiến hành các thủ tục tiếp theo.

Nếu Cơ quan điều tra không đầy đủ, thiếu những chứng cứ quan trọng đối
với vụ án nhưng Viện kiểm sát có thể tự mình bổ sung được thì Viện kiểm sát sẽ
tiến hành bổ sung các chứng cứ đó và tiến hành các thủ tục tiếp theo;

Nếu Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung các chứng cứ đó thì Viện
kiểm sát sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo khoản 1 Điều 168
BLTTHS.
5. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, A bỏ trốn, Tòa án sẽ giải quyết như thế
nào? Tại sao?
Do A bỏ trốn khỏi nơi cư trú, không biết bị can này đang ở đâu nên Thẩm phán
được phân công làm chủ tọa phiên tòa cần yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết
định truy nã với A theo Điều 161 BLTTHS.
 Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà vẫn không xác định được A ở đâu thì

(Ví dụ: thẩm phán đó và P là anh em kết nghĩa; Thẩm phán là con rể của P; P là
Thủ trưởng cơ quan, nơi vợ của Thẩm phán làm việc... mà có căn cứ rõ ràng
chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan hệ tình cảm thân thiết với
nhau, có mối quan hệ về kinh tế.....).
Do đó, cần xem xét lý do N đưa ra có chính xác hay không và có thuộc trường
hợp phải thay đổi hay không.
– Yêu cầu thay đổi thẩm phán được đưa ra tại phiên tòa nên việc có thay đổi
thẩm phán đó hay không phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng xét xử. Hội
đồng xét xử sẽ biểu quyết tại phòng nghị án. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa được
trình bày ý kiến của mình rồi Hội đồng xét xử sẽ quyết định theo đa số (theo
khoản 2 Điều 46 BLTTHS). Nếu phải thay đổi thẩm phán thì Hội đồng xét xử ra
quyết định hoãn phiên tòa, việc cử thành viên mới sẽ do Chánh án Tòa án quân
sự khu vực đó quyết định. Nếu không thỏa mãn tất cả các điều kiện trên thì Hội
đồng xét xử tuyên bố không chấp nhận yêu cầu của bị cáo, không thay đổi thẩm
phán chủ tọa phiên tòa và tiếp tục xét xử.
7. Tòa sơ thẩm đã xử phạt tù A và B, buộc B phải bồi thường cho D số tiền
là 4 triệu đồng. D không đồng ý và đã gửi đơn kháng cáo tới tòa án đã xử sơ
thẩm yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại và tăng mức hình phạt áp dụng
với B. Tòa án cấp sơ thẩm phải giải quyết như thế nào? Tại sao?


Khoản 1 Điều 233 BLTTHS quy định rằng người kháng cáo phải gửi đơn đến
Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm.
Theo tình huống đề bài đưa ra, D đã gửi đơn kháng cáo tới Tòa án đã xử sơ
thẩm, tức D đã gửi đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Sau khi
nhận đơn kháng cáo của P, theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1 mục 3 phần I Nghị
quyết 05/2005/NQ-HĐTP, Toà án cấp sơ thẩm tiến hành các công việc cần thiết
như kiểm tra người làm đơn kháng cáo có thuộc chủ thể có quyền kháng cáo và
nội dung kháng cáo có thuộc giới hạn của việc kháng cáo được quy định tại hay
không.

nhận kháng cáo quá hạn mà hồ sơ vụ án Toà án cấp phúc thẩm đã thụ lý, thì Toà
án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm theo thủ tục chung đối với kháng cáo quá
hạn đó. Nếu hồ sơ vụ án đang ở Toà án cấp sơ thẩm, thì sau khi nhận được quyết
định chấp nhận kháng cáo quá hạn của Toà án cấp phúc thẩm, Toà án cấp sơ
thẩm phải gửi ngay hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm.

8. Giả sử trong thời hạn luật định các bị cáo và D không kháng cáo, phiên
tòa phúc thẩm do kháng nghị của viện kiểm sát yêu cầu giảm hình phạt cho
A và B. Tại phiên tòa phúc thẩm D đề nghị tăng mức bồi thường, yêu cầu
của D có được có được Hội đồng phúc thẩm chấp nhận không? Tại sao?
Trả lời: Đề nghị tăng mức bồi thường của D sẽ không được Hội đồng phúc thẩm
chấp nhận.
Tại vì:
Thứ nhất, theo Điều 231 BLTTHS, “bị cáo, người bị hại, đại diện hợp pháp của
họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. D là người bị hại trong
vụ án trên nên D có quyền kháng cáo. Trong thời hạn kháng cáo D đã không
kháng cáo nên kháng cáo của P là kháng cáo quá hạn.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 238 BLTTHS năm 2003: “Trước khi bắt
đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát có quyền
bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình
trạng của bị cáo”… Làm xấu hơn tình trạng của bị cáo là làm cho bị cáo có thể bị
tòa án cấp phúc thẩm phạt nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường thiệt hại so với
quyết định của tòa án cấp sơ thẩm.


Do đó người đã kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã kháng nghị theo hướng giảm
nhẹ cho bị cáo so với quyết định của tòa án cấp sơ thẩm thì không được bổ sung
hoặc thay đổi theo hướng tăng nặng cho bị cáo.
Trong trường hợp đề bài đưa ra, D đã hết thời hạn kháng cáo, Viện kiểm sát thì
tiến hành kháng nghị theo hướng yêu cầu giảm hình phạt cho A và B.

Theo khoản 1 Điều 23 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2009), trong khi làm nhiệm vụ của mình nếu phát hiện sự việc
có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra,
Giám thị trại giam có quyền ra quyết định khởi tố vụ án, lấy lời khai, khám
nghiệm hiện trường, khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu
liên quan trực tiếp đến vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan Cảnh sát điều tra
có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
(k4_D10 thông tư liên tịch 13/2012 về truy nã……)
Nhưng quyết định khởi tố vụ án trốn khỏi nơi giam phải dựa trên Điều 311
BLHS. Theo tiểu mục 4.3 mục 4 Thông tư 05, trường hợp người đang chấp hành
hình phạt tù trốn khởi nơi giam thì Giám thị trại giam ra quyết định truy nã, tiến
hành các hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra có
thẩm quyền để thụ lý vụ án theo quy định tại Điều 23 của Pháp lệnh tổ chức điều
tra hình sự.
Như vậy, Giám thị trại giam chỉ có quyền khởi tố vụ án, ra quyết định truy nã
mà không có thẩm quyền khởi tố bị can nên quyết định khởi tố bị can của Giám
thị trại giam là không đúng thẩm quyền.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status