Đánh giá tác động đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất giai đoạn 2008 2014 trên địa bàn xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội - Pdf 36

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và
kết quả phân tích trong đề tài là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị
thực tập. Những thông tin tham khảo trong khóa luận đều được trích dẫn cụ thể
nguồn sử dụng.
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2015
Sinh viên thực hiện

Công Thu Trang


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô đã
hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, rèn luyện ở Trường Đại Học Tài
nguyên và Môi trường Hà Nội. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học
không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí
báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sĩ Đỗ Hải Hà đã tận tình, hướng dẫn
em hoàn thành khóa luận này.
Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân, phòng địa
chính xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì đã tạo điều kiện thuận lợi cho em thực hiện đề
tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.
Song với thời gian có hạn và khả năng còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi
những thiếu sót. Em mong có sự đóng góp của các thầy cô cùng các bạn để đề tài
của mình được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 06 tháng 6 năm 2015
Sinh viên thực hiện

Công Thu Trang


làm của người nông dân, cách thức đền bù khi giải phóng mặt bằng, cách thức di
dân, giãn dân...Vì vậy việc đánh giá những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị
hoá ở ngoại thành Hà Nội, từ đó đề xuất những giải pháp giải quyết các vấn đề một
cách cơ bản là việc làm hết sức cần thiết. Trước đòi hỏi của quá trình đô thị hoá vấn
đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo hướng có hiệu quả ngày càng cao là yêu
cầu tất yếu ở nước ta nói chung.
Xã Tam Hiệp là xã ngoại thành Hà Nội nằm phía Tây Bắc huyện Thanh Trì.
Địa giới hành chính của xã nằm trong vành đai khu vực phát triển đô thị trung tâm
của Thành phố Hà Nội. Vì vậy cùng với sự đô thị hóa của đất nước, xã Tam Hiệp
huyện Thanh Trì - Hà Nội đã có nhiều đổi mới. Đặc biệt trong giai đoạn 2008 –
2014, với dấu mốc dấu lịch sử ngày 01/8/2008 tỉnh Hà Tây và thành phố Hà Đông

5


sáp nhập vào thủ đô Hà Nội đã tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa ở xã Tam
Hiệp, làm thay đổi tình hình sử dụng đất ở địa phương. Hiện nay, xã đang là điểm
dừng chân của nhiều công ty, xí nghiệp, là nơi có nhiều thay đổi về mục đích sử
dụng đất đai. Trong bối cảnh đó, tình hình chuyển đổi sử dụng đất cụ thể như thế
nào? Có đúng với định hướng sử dụng đất đai của địa phương không? Sự thay đổi
này có tác động như thế nào đến thu nhập, đời sống của người dân? Để giải quyết
vấn đề này thì việc đánh giá tác động của đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất là rất
quan trọng.
Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của
Khoa Quản lý đất đai - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, đồng
thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Ths.Đỗ Hải Hà, em tiến hành nghiên cứu đề
tài: "Đánh giá tác động đô thị hóa đến tình hình sử dụng đất giai đoạn 2008
-2014 trên địa bàn xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội."
2. Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu đề tài
a) Mục tiêu của đề tài

hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị; quy mô dân số ít nhất là 4.000 người
và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2.000 người/km 2 (theo Nghị định số
42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị).
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động
phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay tổng
hợp, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền
lãnh thổ, của một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong huyện, trong tỉnh.
- Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có vai trò và chức năng nhiều
mặt về chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội…
- Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có vai trò chức năng chủ
yếu về một mặt nào đó như công nghiệp cảng, du lịch, nghỉ ngơi, đầu mối giao
thông…

7


Trong thực tế, một đô thị là trung tâm tổng hợp của một hệ thống đô thị vùng
tỉnh nhưng cũng có thể chỉ là trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị một
vùng liên tỉnh hoặc của cả nước.
Việc xác định trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành còn phải căn cứ vào vị trí
của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định. Vùng lãnh thổ của đô thị bao gồm
nội thành hay nội thị (gọi chung là nội thị) và ngoại ô hay ngoại thị. Các đơn vị
hành chính của của nội thị bao gồm quận và phường, còn các đơn vị hành chính
ngoại ô bao gồm huyện và xã.
Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp quản lý
của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như đô thị - trung tâm quốc gia; đô thịtrung tâm cấp vùng (liên tỉnh); đô thị - trung tâm cấp tỉnh; đô thị -trung tâm cấp
huyện và đô thị - trung tâm cấp tiểu vùng (trong huyện).
- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động
Lao động phi nông nghiệp của một đô thị là lao động trong khu vực nội thành
phố, nội thị xã, thị trấn thuộc các ngành kinh tế quốc dân như công nghiệp, xây

- Đô thị loại đặc biệt
Là thủ đô hoặc đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính,
khoa học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu
trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước;
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động; Có cơ sở
hạ tầng xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh; Quy mô dân số đô thị từ 5 triệu
người trở lên; Mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2 trở lên.
- Đô thị loại I
Là đô thị rất lớn có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ
thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu
trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một
vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc cả nước.
Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở
lên; Đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên.
Mật độ dân số bình quân khu vực nội thành: Đô thị trực thuộc Trung ương từ
12.000 người/km2 trở lên; Đô thị trực thuộc tỉnh từ 10.000 người/km 2 trở lên. Tỷ lệ

9


lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao
động. Loại đô thị này có tỷ suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới
công trình công cộng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh.
- Đô thị loại II
Đô thị có chức năng là trung tâm trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ
thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu
vùng trong tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước.
Dân số đô thị đạt từ 300 nghìn người trở lên (trong trường hợp đô thị loại II
trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên 800 nghìn

2.000 người/km2 trở lên, đang bắt đầu xây dựng một số công trình công cộng và cơ
sở hạ tầng kỹ thuật.
Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số
và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định,
các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các
loại đô thị tương đương.
c) Vai trò của đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Đô thị tượng trưng cho thành quả kinh tế, văn hóa của một quốc gia, là sản
phẩm mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất kỹ thuật và văn hóa.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân có vai trò thúc đẩy sự phát
triển kinh tế - xã hội của cả nước, có khả năng tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ
thuật của khu vực và trên thế giới.
1.1.2 Đô thị hóa
a) Khái niệm về đô thị hóa
Một trong những vấn đề nổi bật của sự phát triển thế giới ngày nay là sự gia
tăng nhanh chóng số lượng và quy mô các đô thị, trong đó tập trung các hoạt động
chủ yếu của con người, nơi diễn ra cuộc sống vật chất, văn hóa và tinh thần của một
bộ phận dân số. Các đô thị chiếm vị trí ngày càng to lớn trong quá trình phát triển
xã hội.
Đô thị hóa được hiểu khái quát là quá trình hình thành và phát triển của các
thành phố. Nhiều thành phố mới xuất hiện và không ít thành phố có lịch sử hàng
nghìn năm đang tồn tại và phát triển. Sự gia tăng số lượng và quy mô các thành phố

11


về diện tích cũng như dân số. Và do đó làm thay đổi tương quan dân số thành thị và
nông thôn; vai trò chính trị - kinh tế - văn hóa của thành phố; môi trường sống… là
những vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Trên quan điểm một vùng, đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển

đô thị hoá và tốc độ đô thị hoá:
Mức độ đô thị hoá = Dân số đô thị/Tổng dân số (%)
Tốc độ đô thị hoá = (Dân số đô thị cuối kỳ - Dân số đô thị đầu kỳ)/(NxDân
số đô thị đầu kỳ) (%/năm)
Trong đó: N là số năm giữa 2 thời kỳ
b) Đặc trưng của đô thị hóa
Đô thị hóa là hiện tượng mang tính toàn cầu và có những đặc trưng chủ yếu
sau đây:
Một là, số lượng các thành phố, kể cả các thành phố lớn tăng nhanh, đặc biệt
là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Hai là, quy mô dân số tập trung trong mỗi thành phố ngày càng lớn, số lượng
thành phố có trên một triệu dân ngày càng nhiều.
Ba là, việc hình thành và phát triển nhiều thành phố gần nhau về mặt địa lý,
liên quan chặt chẽ với nhau do phân công lao động đã tạo nên các vùng đô thị.
Thông thường vùng đô thị bao gồm một vài thành phố lớn và xung quanh chúng là
các thành phố nhỏ vệ tinh.
Bốn là, dân số thành thị có xu hướng tăng nhanh do quá trình di dân nông thôn
- thành thị, đang làm thay đổi tương quan dân số thành thị và nông thôn, nâng cao
tỷ trọng dân thành thị trong tổng dân số.
Năm là, mức độ đô thị hóa biểu thị trình độ phát triển xã hội nói chung, song
có đặc thù riêng cho mỗi nước. Đối với các nước phát triển, đô thị hóa diễn ra chủ
yếu theo chiều sâu, chất lượng cuộc sống ở các thành phố ngày càng hoàn thiện.
Trong các nước đang phát triển, tốc độ đô thị hóa rất cao, đặc biệt trong các thập kỷ
gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra theo chiều rộng đang đặt ra nhiều vấn đề khó
khăn cần giải quyết như vấn đề đất đai, thất nghiệp, nghèo đói, ô nhiễm môi trường
và tệ nạn xã hội.

13




- Đô thị hóa tạo ra hệ thống không gian đô thị. Cùng với sự phát triển các
trung tâm đô thị, các khu dân cư với nhiều loại quy mô đã tạo thành các vành đai đô
thị, các chùm đô thị và các vành đai, các chùm đô thị này đều phát triển.
- Đô thị hóa góp phần phát triển trình độ văn minh của quốc gia nói chung và
văn minh đô thị nói riêng. Đô thị hóa phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các cơ sở
văn hóa, giáo dục, phát triển sự giao lưu trong nước và nước ngoài. Đô thị là điều
kiện để tiếp nhận nền văn minh thì từ bên ngoài và phát triển nền văn minh trong
nước.
d) Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa.
Yếu tố tự nhiên: Trong thời kỳ kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ thì đô thị hóa
phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Những vùng có khí hậu, thời tiết tốt, có
nhiều khoáng sản, giao thông thuận lợi và những lợi thế khác sẽ thu hút dân cư
mạnh hơn và do đó sẽ được đô thị hóa sớm hơn, quy mô lớn hơn. Ngược lại, những
vùng khác sẽ đô thị hóa chậm hơn, quy mô nhỏ hơn. Từ đó dẫn đến sự phát triển
không đồng đều hệ thống đô thị giữa các vùng.
Yếu tố xã hội: Mỗi phương thức sản xuất sẽ có một hình thái đô thị tương ứng
và do đó quá trình đô thị hóa có những đặc trưng riêng của nó. Kinh tế thị trường đã
mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh. Sự phát triển của lực lượng sản
xuất là điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa và là tiền đề cho đô thị hóa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong khu vực nông, lâm, thủy sản của nền kinh tế sẽ
tạo ra quá trình đô thị hóa nông thôn và các vùng ven biển.
Yếu tố văn hóa dân tộc: Mỗi dân tộc có một nền văn hóa riêng của mình và
nền văn hóa đó có ảnh hưởng đến tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nói
chung và hình thái đô thị nói riêng.
Yếu tố kinh tế: Kinh tế là yếu tố có tính quyết định trong quá trình đô thị hóa.
Bởi vì nói đến kinh tế là nói đến vấn đề tài chính. Để xây dựng, nâng cấp hay cải
tạo đô thị đòi hỏi nguồn tài chính lớn. Nguồn đó có thể từ trong nước hay từ nước
ngoài. Trình độ phát triển kinh tế thể hiện nhiều phương diện như quy mô, tốc độ
tăng trưởng GDP, cơ cấu ngành của nền kinh tế, sự phát triển các thành phần kinh

ngoại thành xa trung tâm. Các doanh nghiệp sẽ chọn địa điểm có giá đất thấp và vẫn
được hưởng các dịch vụ của đô thị, thuận tiện về giao thông, đó chính là khu vực
giáp ranh đô thị và nông thôn, ở khu vực này vấn đề quản lý môi trường tương đối

16


lỏng lẻo hơn. Chính vì vậy môi trường bị đe dọa nếu không có những chính sách
kịp thời.
d) Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cùng với việc tăng dân số đô thị là sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Trong quá
trình đô thị hóa, cơ cấu ngành kinh tế trong vùng và cả nền kinh tế cũng thay đổi
theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực I, tăng tỷ trọng khu vực II và III. Khi đô thị
mở rộng ra vùng ngoại vi nhằm giải quyết vấn đề quá tải dân số, hình thành các khu
dân cư đô thị ở các vùng ngoại vi thì các hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng khu vực III. Ngoại thành là nơi có sự
thay đổi mạnh mẽ về các hoạt động thương mại, dịch vụ.
e) Vấn đề phát triển hạ tầng kỹ thuật
- Hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng
Quá trình đô thị hóa là quá trình hình thành nhanh chóng kết cấu hạ tầng kỹ
thuật như cấp điện, cấp thoát nước, hệ thống thông tin liên lạc, trường học, bệnh
viện, hệ thống chợ, khu ở của dân cư, hệ thống đường giao thông…
Đây là những yếu tố thường xuyên không phát triển kết hợp với nhu cầu thực
tế ở các đô thị.
- Mật độ giao thông đô thị tăng nhanh
Do tăng dân số, lao động và tăng trưởng kinh tế khá nhanh cùng với nhu cầu
đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng nhanh làm cho mật độ giao thông phát triển
mạnh. Hiện nay, việc tập trung quá cao về xe máy, xe đạp ở các thành phố đang là
vấn đề lớn đối với các đô thị, tình trạng tắc nghẽn giao thông trong giờ cao điểm
thường xảy ra ở các thành phố lớn.

phát triển ồ ạt nhanh chóng của nó phải kể đến khi Thái Lan tiến hành công nghiệp
hoá trong những năm 70 - 80. Thập niên cuối thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển
vượt bậc của nó trở thành đô thị cực lớn duy nhất của nước này. Vùng đô thành
Bangkok có dân số lên đến gần 7 triệu người (hơn một nửa dân số đô thị cả nước),
với ranh giới trên 2.400 km2, đã trở thành trung tâm lan toả theo các trục giao thông
đi các tỉnh xung quanh. Vùng đô thành Bangkok đi đầu và chi phối toàn bộ hoạt
động kinh tế - xã hội của một nước vốn 30 năm trước đây chỉ dựa vào nông nghiệp.
Đồng thời với đô thị hoá tập trung cao độ, các vấn đề thiếu đất phát triển, ô nhiễm

18


môi trường, tắc nghẽn giao thông, nhà ổ chuột…cũng đã trở thành vấn đề vô cùng
nan giải.
1.2.1.3 Bắc Kinh
Sau năm 1978 với chính sách mở cửa, cải cách và công nghiệp hoá, kinh tế
Trung Quốc bước vào thời kỳ cao trào, quá trình đô thị hoá cũng tiến vào giai đoạn
mới. Tỷ trọng dân số đô thị nhanh chóng tăng cao, năm 1977 là 17,6% đến năm
1995 tăng lên 29,04%. Vùng đô thị Bắc Kinh có diện tích khoảng 17.000 km2, bao
gồm thành phố trung tâm (7 triệu người) được bao bọc bởi vành đai xanh và 12
thành phố vệ tinh cách đều 40 km và các thị trấn xóm. Kiến trúc phát triển ồ ạt từ
khi đổi mới, song trật tự hình phễu cao dần ra ngoài, dễ thấy so với khuynh hướng
tự do phương tây ở Thượng Hải và Thâm Quyến. Tuy đã đạt ở mức trung bình của
các nước đang phát triển, các khu đô thị nhỏ chất lượng thấp những năm 60-70 đã
dần được bổ sung bởi các nhà mới xây theo thị trường. Các thành phố vệ tinh có hạ
tầng tốt đang trở nên sống động với 10-50 vạn người. Tuy nhiên, truyền thống Bắc
Kinh cũng đang phải đối mặt với sức ép dân số, cây xanh, đất nông nghiệp, cấu trúc
khu phố dọc theo vành đai mới. Thành phố vệ tinh, khu ven đô trở thành nơi dày
đặc các hoạt động đường cao tốc, xây dựng khu công nghiệp xen lẫn làng xóm, cây
cối.

một làng chài, đến năm 1933 đã trở thành một thành phố cảng sầm uất. Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh có mức tăng đột ngột về dân số kể từ năm 1943. Tính đến
năm 1955 dân số đô thị chiếm 11%, tạo ra sự khởi đầu cho quá trình đô thị hóa ở
nước ta.
1.2.2.2 Thời kỳ 1954 - 1975
Hệ thống đô thị của Việt Nam đã hình thành, tốc độ phát triển tuy chưa cao
song đã đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội.
Miền Bắc, sau 10 năm đầu của giai đoạn khôi phục kinh tế, quá trình đô thị
hóa được tăng cường, mạng lưới các thành phố được hình thành đã ảnh hưởng nhất
định tới sự phát triển của xã hội. Trong giai đoạn 1965 - 1975, chiến tranh diễn ra cả
ở hai miền, miền Bắc phải tạm thời chuyển các công trình công nghiệp quan trọng
và một phần dân cư về khu vực nông thôn để tránh sự tàn phá của chiến tranh.

20


Miền Nam, do chính sách đàn áp khủng bố đặc biệt của đế quốc Mỹ và chính
quyền Sài Gòn ở nông thôn nên đã có tình trạng di dời dân cư từ nông thôn ra thành
thị, làm cho dân số thành thị tăng vọt. Năm 1960, dân số đô thị ở miền Nam là 15%
thì chỉ sau 10 năm đã tăng lên 26%, đặc biệt ở Sài Gòn, dân số đô thị tăng gấp 10
lần. Việc di dời dân cư trong chiến tranh ở miền Nam có tác động mạnh đến quá
trình đô thị hóa.
1.2.2.3 Thời kỳ từ năm 1975 đến nay
Trong giai đoạn 1975 - 1990 đô thị ở nước ta hầu như không có biến động,
điều đó phản ánh nền kinh tế còn trì trệ.
Sau năm 1990, cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế-xã hội,
mạng lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và phát triển. Về số lượng đô thị, năm
1990 cả nước mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, năm 2000 đã tăng tới 649 đô thị
các loại và đến nay có 772 đô thị, trong đó có 2 đô thị đặc biệt, 15 đô thị loại I, 14
đô thị loại II, 47 đô thị loại III, 64 đô thị loại IV và 630 đô thị loại V. Trong 6 tháng

kết cấu hạ tầng đô thị. Các đô thị cần được quy hoạch cẩn thận, tạo ra môi trường
đô thị lành mạnh. Ở nhiều đô thị của nước ta hiện nay việc chống ô nhiễm môi
trường, cải thiện điều kiện sống, giải quyết việc làm, đất đai và nhà ở cho nhân dân
đang là những vấn đề cấp bách.
1.2.3 Quá trình đô thị hoá tại thủ đô Hà Nội
Hà Nội là thủ đô, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, nên tiến
trình đô thị hóa của Hà Nội trong bối cảnh ấy là tất yếu. Tuy có cùng chung xu
hướng phát triển đô thị với cùng cả nước, nhưng Hà Nội với những đặc thù về kinh
tế, chính trị, văn hóa…cũng có con đường phát triển đô thị của riêng mình.
Các mốc phát triển:
Có thể nói, đô thị hóa bắt đầu từ lúc chính phủ bắt đầu chính sách mở cửa vào
năm 1986, sau đó đô thị hóa phát triển mạnh mẽ vào năm 1990. Biểu đồ sau sẽ cho
thấy điều đó.

22


Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ dân số đô thị Hà Nội (1986 – 1996)
Hà Nội cũng bắt đầu có những chỉ báo về sự tăng tốc của đô thị hóa vào năm
1990. Nhìn vào biểu đồ dưới đây, ta thấy năm 1990 cũng là năm chỉ số đô thị hóa
của Hà Nội bắt đầu cất cánh. Quy mô dân số của Hà Nội tăng vọt lên, từ 18,7% của
năm 1988 tăng lên 35,5% vào năm 1990. Và cũng từ năm này quy mô dân số đô thị
Hà Nội tiếp tục tăng lên. Biểu đồ trên cho thấy, tỷ lệ dân số đô thị của Hà Nội đã
hơn quá nửa vào năm 1996.

Biểu đồ 1.2: Số cơ sở doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

23



10,2

11,5

11,2

Tỷ đồng/km2

160

324,5

826,1

10,33

17,5

26,2

Thu nhập bình quân đầu Triệu
người

đồng/người

(Nguồn: Số liệu của Bộ KH & ĐT)
Bảng 1.1 cho thấy, các chỉ số kinh tế của Hà Nội đã thay đổi theo xu hướng
khá tích cực, nhất là tiêu chí đo lường hiệu quả kinh tế và thu nhập bình quân. Hà
Nội luôn có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn mức mặt bằng trung bình của cả vùng
đồng bằng sông Hồng và mức trung bình cả nước. Mật độ kinh tế, tính theo chỉ tiêu


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status