Quy hoạch , bảo vệ tài nguyên nước dưới đất Thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam đến năm 2020 - Pdf 36

MỤC LỤC

1


DANH MỤC BẢNG

2


MỞ ĐẦU.
Trong những năm gần đây, đất nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước, cùng với sự gia tăng dân số và sự phát triển ngày càng
nhanh của quá trình đô thị hoá, nên nhu cầu sử dụng nước cho dân sinh, kinh
tế ngày càng cao cả về chất lẫn lượng. Vì vậy, đã dẫn đến tình trạng khai thác
sử dụng tài nguyên nước mặt cũng như nước dưới đất không ngừng gia tăng.
Quá trình, khai thác sử dụng rất đa dạng khắp mọi nơi.Với sự khai thác này
chẳng những rất khó khăn cho công tác quản lý, gây cạn kiệt tài nguyên mà
còn có những tác động không nhỏ tới môi trường.
Thành phố Phủ Lý là trung tâm phát triển mạnh mẽ về kinh tế và văn
hóa của tỉnh Hà Nam. Sự phát triển này đòi hỏi nhiều yếu tố, trong đó nhu cầu
về nước sạch phục vụ các lĩnh vực sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp,
thương mại và công cộng là vô cùng to lớn và ngày càng gia tăng. Vai trò của
NDĐ trong sự phát triển của tỉnh và thành phố là không nhỏ, đặc biệt khi nó
là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các địa phương và khu công
nghiệp.Cùng với sự phát triển đó là mối nguy hại về vấn đề ô nhiễm môi
trường luôn thường trực. Để hạn chế những tác động đó nên tôi đã tiến hành
thực hiện đề tài “Quy hoạch , bảo vệ tài nguyên nước dưới đất Thành phố
Phủ Lý tỉnh Hà Nam đến năm 2020” Để hoàn thành tốt đề tài trên cần thực
hiện tốt các mục tiêu và nội dung sau:
+ Mục tiêu

Nguyên Nước. Do thời gian thực hiện không dài, khối lượng công việc lớn,
nên báo cáo sản phẩm không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự
đóng góp quý báu của thầy cô cùng các bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn !

4


CHƯƠNG I : TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM.
Tài nguyên nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo nhưng cũng
có thể bị cạn kiệt tùy vào tốc độ khai thác của con người và khả năng tái tạo
của môi trường. Ngày nay, sử dụng nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ
biến. Tuy nhiên, việc sử dụng khai thác nguồn tài nguyên này gây ra những
hậu quả ảnh hưởng nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên nước.
I.1 Sử dụng tài nguyên nước trên thế giới.
Khi con người bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi thì đồng ruộng dần dần
phát triển ở miền đồng bằng màu mỡ, kề bên lưu vực các con sông lớn. Lúc
đầu cư dân còn ít và nước thì đầy ắp trên các sông hồ, đồng ruộng, cho dù có
gặp thời gian khô hạn kéo dài thì cũng chỉ cần chuyển cư không xa lắm là tìm
được nơi ở mới tốt đẹp hơn. Vì vậy, nước được xem là nguồn tài nguyên vô
tận và cứ như thế qua một thời gian dài, vấn đề nước chưa có gì là quan trọng.
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện và
càng ngày càng phát triển như vũ bão. Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra
đời, từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phố và khuynh hướng
này vẫn còn tiếp tục cho đến ngày nay. Ðô thị trở thành những nơi tập trung
dân cư quá đông đúc, tình trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước
càng ngày càng trở nên nan giải.
Nhu cầu nước càng ngày càng tăng theo đà phát triển của nền công
nghiệp, nông nghiệp và sự nâng cao mức sống của con người. Theo sự ước

đi khoảng 700 km3/năm. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn nhờ mưa
ở vùng có khí hậu ẩm, nhưng cũng thường được bổ sung bởi nước sông hoặc
nước ngầm bằng biện pháp thủy lợi nhất là vào mùa khô. Người ta ước tính
được mối quan hệ giữa lượng nước sử dụng với lượng sản phẩm thu được
trong quá trình canh tác như sau: để sản xuất 1 tấn lúa mì cần đến 1.500 tấn
nước, 1 tấn gạo cần đến 4.000 tấn nước và 1 tấn bông vải cần đến 10.000 tấn
nước. Sở dĩ cần số lượng lớn nước như vậy chủ yếu là do sự đòi hỏi của quá
trình thoát hơi nước của cây, sự bốc hơi nước của lớp nước mặt trên đồng
ruộng, sự trực di của nước xuống các lớp đất bên dưới và phần nhỏ tích tụ lại
6


trong các sản phẩm nông nghiệp. Dự báo nhu cầu về nước trong nông nghiệp
đến năm 2020 sẽ lên tới 3.400 km3/năm, chiếm 58% tổng nhu cầu về nước
trên toàn thế giới.
Nhu cầu về nước Sinh hoạt và giải trí: Theo sự ước tính thì các cư dân
sinh sống kiểu nguyên thủy chỉ cần 5-10 lít nước/ người/ ngày. Ngày nay, do
sự phát triển của xã hội loài người ngày càng cao nên nhu cầu về nước sinh
hoạt và giải trí ngày cũng càng tăng theo nhất là ở các thị trấn và ở các đô thị
lớn, nước sinh hoạt tăng gấp hàng chục đến hàng trăm lần nhiều hơn. Theo sự
ước tính đó thì đến năm 2020, nhu cầu về nước sinh hoạt và giải trí sẽ tăng
gần 20 lần so với năm 1900, tức là chiếm 7% tổng nhu cầu nước trên thế giới.
I.2 Sử dụng tài nguyên nước ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung
bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung
chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 4-5 đến tháng 10, riêng vùng duyên hải Trung
bộ thì mùa mưa bắt đầu và kết thúc chậm hơn vài ba tháng. Sự phân bố không
đồng đều lượng mưa và dao động phức tạp theo thời gian là nguyên nhân gây
nên nạn lũ lụt và hạn hán thất thường gây nhiều thiệt hại lớn đến mùa màng
và tài sản ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, ngoài ra còn gây nhiều trở ngại

1500 km, trong đó quản lý trên 800km. có những sông suối tự nhiên, thác
nước,… được sử dụng làm các điểm tham quan du lịch.
Về nuôi trồng thủy hải sản, nước ta có 1 triệu ha mặt nước ngọt, 400000 ha
mặt nước lợ và 1470 000 ha mặt nước sông ngòi có hơn 14 triệu ha mặt nước
nội thủy và lãnh hải. Tuy nhiên cho đến nay mới sử dụng 12,5% diện tích mặt
nước lợ, nước mặn và 31% diện tích mặt nước ngọt. Nhiều hồ và đập nhỏ hơn
trên khắp toàn quốc phục vụ tưới tiêu như Cấm Sơn (Bắc Giang), Bến En và
Cửa Đạt (Thanh Hóa), Đô Lương (Nghệ An)… Theo số liệu thống kê, Việt
Nam hiện có hơn 3500 hồ chứa nhỏ và khoảng 650 hồ chứa cỡ lớn và trung
bình dùng để sản xuất thủy điện, kiểm soát lũ lụt, giao thông đường thủy thủy
lợi và nuôi trồng thủy sản.
Kết luận : từ nhu cầu sử dụng nước trên thế giới và Việt Nam cho thấy lượng
nước cần để cung cấp phục vụ cho quá trình sinh hoạt và phát triển của toàn
nhân loại.Việc sử dụng tài nguyên nước một cách bất hợp lý gây hậu quả to
lớn cho toàn nhân loại và ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của môi
trường.

8


CHƯƠNG II : ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ , ĐIỀU KIỆN TỰ
NHIÊN , KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Đặc điểm tự nhiên.
2.1 Vị trí địa lý
Thành phố Phủ Lý nằm trên quốc lộ 1A, bên bờ phải sông Đáy, Phủ Lý
cách Hà Nội 60 km về phía Nam, thành phố Nam Định 30 km về Phía Tây
Bắc và thành phố Ninh Bình 33 km về phía Bắc. Phủ Lý nằm trên Quốc lộ 1A
có tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua, là nơi gặp gỡ của 3 con sông: Sông
Đáy, Sông Châu Giang và Sông Nhuệ tiện về giao thông thủy bộ.




Bảng 2.1 - Một số đặc trưng hình thái sông ngòi thành phố Phủ Lý tỉnh Hà
Nam
Sông

Diện tích lưu Chiều
vực (km2)

Đáy
Nhuệ
Châu Giang

5.800
1.070
368

dài Chiều

dài

sông

chảy

sông (km)

trong địa phận Hà Nam

240

19,2oC

2- Mưa:
11

23,3oC


- Lượng mưa trung bình năm: 1889,0mm
- Lượng mưa ngày lớn nhất: 333,1mm
3- Độ ẩm:
- Độ ẩm tương đối trung bình: 84%
- Độ ẩm tương đối thấp nhất : 11%
4- Gió:
- Tốc độ lớn nhất: 36m/s
- Tốc độ trung bình: 2m/s
Hướng gió chính: Mùa Hè: Đông Nam
Mùa Đông: Đông Bắc
Bảng 2.2: Tổng giờ nắng trung bình tháng và năm trạm Phủ Lý
Đơn vị: giờ
I
73.1

II
43.

III IV V
VI
44.7 84.1 184.4 169


Sơn, Thanh Châu và một số khu vực dọc đường quốc lộ 1A, đường 21... Đây
là nguồn lực rất quan trọng để Phủ Lý đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và phát
triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất nông nghiệp của
Phủ Lý tuy không nhiều, nhưng có chất lượng tốt và còn nhiều khả năng thâm
canh tăng vụ, tạo điều kiện để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo
hướng sản xuất hàng hóa.
2.6 Đặc điểm địa chất
+ , Địa chất công trình:
Qua tài liệu thăm dò của một số lỗ khoan cho thấy:
- Lớp đất sét hoặc á sét trạng thái dẻo mềm bề dày khoảng 1,3m
- Lớp đất sét hoặc á sét trạng thái dẻo nhão có bề dày khoảng 1m
- Lớp bùn á sét, bề dày > 3m , chủ yếu ở các khu vực ao hồ đầm lầy là
lớp bùn nhão tàn tích thực vật
- Khu vực bờ Tây: Lớp cát mịn, đông nhất có lẫn mi ca và tàn tích thực
vật, chiều dày 10 ÷12m. Cường độ chịu tải khu vực này > 1,25Kg/cm2
- Khu vực giáp Bút Sơn ven núi cao độ nền > 3,5m có cường độ chịu tải
>2Kg/cm2
+, Đặc điểm địa chất thuỷ văn
a. Các phân vị địa chất thuỷ văn các tầng chứa nước lỗ hổng
Tầng chứa nước lỗ hổng gồm : tầng chứa nước Holocen (qh) và tầng
chứa nước lỗ hổng Pleistocen (qp)
Tầng chứa nước Holocen (qh) có hệ tầng Thái Bình và hệ tầng Hải
Hưng
*Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích hỗn hợp sông, sông biển và đầm lầy
Holocen trên, hệ tầng Thái Bình (qh2 tb).
Tầng chứa nước Holocen trên phân bố rộng khắp trên bề mặt đồng bằng
tỉnh Hà Nam cũng như thành phố Phủ Lý. Thành phần thạch học chủ yếu là
hạt mịn, bao gồm các thấu kính cát, á cát có diện tích nhỏ phân bố trong các
13




của việc khai thác nước từ tầng cuội sỏi bên dưới có thể làm cho mực nước hạ
thấp hơn. Độ dày tầng chứa nước từ 10 – 20 m . Từ đấy có thể thấy đây là
tầng chứa nước từ giầu tới trung bình.
* Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tích Pleistocen giữa trên, hệ
tầng Hà Nội (qp1 hn).
Tầng chứa nước Pleistocen giữa - trên, phủ trên diện tích tỉnh Hà Nam
có diện tích phân bố khá lớn, là phần kéo dài của tầng chứa nước này trên
khắp diện tích đồng bằng Bắc Bộ. Thành phần trầm tích bao gồm chủ yếu là
cuội sỏi, thạch anh, đôi khi có lẫn sạn, xen các thấu kính bột, sét bột. Trong
diện tích vùng nghiên cứu đã có nhiều lỗ khoan nghiên cứu và khai thác nước
dưới đất trong tầng chứa nước này.Từ những tài liệu khoan đó cho ta thấy độ
sâu phân bố của tầng chứa nước tương đối ổn định 60 –80 m có nơi lên tới
100 m và có quy luật. Nếu lấy một mặt cắt từ Đông Nam lên Tây Bắc, chúng
ta thấy tầng chứa nước có chiều dày mỏng khoảng 10 - 20 m. Chiều dày trung
bình tầng chứa nước là 15m. Kết quả thí nghiệm các lỗ khoan của PGS.TS.
Đoàn Văn Cánh, cho thấy tầng chứa nước rất giàu nước, tỷ lưu lượng của lỗ
khoan q = 1,50 - 8,89 l/m.s, mực nước tĩnh là 0,25 - 2,5 m. Hệ số dẫn nước có
giá trị từ 700 - 1.000 m 2/ngày. Kết quả phân tích mẫu ở các lỗ khoan có tổng
khoáng hoá biến đổi từ 0,3 g/l đến 3 g/l. Sự biến đổi độ tổng khoáng hoá của
nước trong tầng chứa nước này diễn ra một cách có quy luật, thành phần hoá
học của nước là bicacbonat - magie natri hoặc clorua – natri.
2 Đặc điểm kinh tế– xã hội
2.2.1 Dân số
Dân cư trong thành phố phân bố không đều ,mật độ dân số cao nhất đạt
2.221 người/1 km2

Bảng 2.3 . Phân bố dân cư của thành phố Phủ Lý
15

tích

(người XD đô trú

XD đô đất
thị

ở /ha đất thị

(ha)

XDĐT) (m2

độ cư
netto
(ng/ha

(ha)

/người đất ở)
430
540
670

I
1
2

Tổng nội thị
67557 687


37
12

14
5

170
430

60
23

450
980

5
6

Đạo
Phường Quang Trung 6351
Phường Lê Hồng 6186

256.74 81
287.86 103

22
24

80

5 Xã Châu Sơn
6 Xã Thanh Châu

65062
7831
5694
5642
4244
6095
5556

2.2.2 Kinh tế - xã hội
1. Công nghiệp
Về công nghiệp, thành phố có 2 cụm công nghiệp bắc Thanh Châu và
Châu Sơn. Nền sản xuất nông nghiệp ở Phủ Lý theo hướng nông nghiệp sạch,
nông nghiệp sinh thái có hiệu quả cao và bảo vệ môi trường. Phát triển kinh tế

16


trang trại và các mô hình sản xuất VAC, nhất là trong chăn nuôi, coi đây là
khâu đột phá để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa.
+.Công nghiệp , dịch vụ
Hiện nay thành phố có gần 500 doanh nghiệp và một số cụm công
nghiệp bắc Thanh Châu, cum công nghiệp – TTCN Nam Châu Sơn và khu
công nghiệp Châu Sơn. Giá trị sản xuất CN-TTCN tăng mạnh, bình quân
22,9%/năm.
Khai thác tối đa các nguồn lực và lợi thế của địa phương, kết hợp với thu
hút mạnh các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển nhanh và vững chắc các
ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là

vụ theo hướng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất và đời
sống, đưa ngành dịch vụ thành ngành kinh tế quan trọng của Phủ Lý.
Từng bước phát triển ngành thương mại ở Phủ Lý đạt trình độ cao, đảm
bảo lưu thông hàng hóa nhanh, thuận tiện, kích thích mạnh sản xuất. Trước
hết, tập trung củng cố mạng lưới thương nghiệp trong toàn thành phố, khuyến
khích mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động thương mại, dịch vụ. Đẩy
mạnh các hình thức liên doanh, liên kết, hợp tác đầu tư, từng bước xây dựng
Phủ Lý thành điểm hội tụ hàng hóa. một trung tâm phát tán luồng hàng chính
trong khu vực.
Mạng lưới thương mại và dịch vụ ngày càng được xây dựng và củng cố,
chợ Chấn, chợ Bầu Phủ Lý được nâng cấp và mở rộng. Hiện nay, thành phố
có 2 trung tâm Thương mại lớn là Minh Khôi plaza và trung tâm thương mại
Hải Đăng, có 6 chợ được đầu tư quản lý khai thác và sử dụng: chợ Chấn, chợ
Nam Thanh Châu, chợ Quy Lưu, chợ Bắc Sơn, chợ Nam Sơn, chợ Phù Vân.
Đã hình thành các đường phố thương mại như đường Biên Hòa, đường
Nguyễn Văn Trỗi, đường Lê Lợi, đường Lê Hoàn …..
Hệ thống dịch vụ như Tài chính ngân hàng, Bưu chính viễn thông, Bảo
hiểm cũng đã và đang phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu sản xuất và đời
sống của nhân dân, phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế- xã hội của thành
phố.
18


Tóm lại
Đối với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của thành phố Phủ Lý có một
số đặc điểm chính sau: Phủ Lý là trung tâm thành phố của Hà Nam cũng đạt
được nhiều chỉ số phát triển xã hội ở mức cao, nhưng mức độ tăng trưởng
kinh tế vẫn còn tương đối thấp, song thành phố có trình độ giáo dục khá cao,
thực hiện khá tốt việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản.Tuy nhiên, tình
trạng thiếu việc làm là một trong những vấn đề chủ yếu về điều kiện KTXH

Về thành phần thạch học tầng chứa nước được hình thành từ các trầm
tích hạt mịn là sét, á sét, á cát, cát nhiều nguồn gốc. Chiều sâu phân bố và
chiều dày tầng chứa nước tương đối ổn định, dao động trong khoảng từ 10 15 đến 20 m.
Qua kết quả phân tích hàm lượng sắt tổng của tầng chứa nước Holocen
cho thấy hàm lượng tổng sắt của tầng chứa nước này tương đối cao và biến
đổi rất phức tạp. Hàm lượng sắt biến đổi từ một vài mg/l đến hàng chục mg/l.
Có thể phân chia thành các khu vực có hàm lượng sắt tổng nhỏ hơn 1,0 mg/l,
khu vực có hàm lượng sắt tổng từ 1,0 mg/l đến 5,0 mg/l.
+ Khu vực hàm lượng sắt tổng nhỏ (< 1 mg/l) chiếm một diện tích nhỏ,
nằm rải rác kéo thành một dải từ xã Phù Vân, Lam Hạ thuộc thị xã Phủ Lý

20


21

đến xã Duy Hải, Bạch Thượng của huyện Duy Tiên. Phần còn lại phân bố
dưới dạng thấu kính. Khi khai thác nước dưới đất ở những khu vực này có thể
sử dụng trong sinh hoạt, ăn uống mà không cần phải xử lý.
+ Những khu có hàm lượng sắt từ 1,0 mg/l đến 5 mg/l: phân bố phức tạp
ở tất cả các huyện của tỉnh, có dạng dải thấu kính, chúng chiếm phần lớn diện
tích khu vực nghiên cứu. Bao quanh khu vực có hàm lượng sắt tổng < 1,0
mg/l đều là khu vực có hàm lượng sắt tổng từ 1,0 - 5,0 mg/l và có dạng dải.
Khi khai thác nước dưới đất ở những vùng này cần phải xử lý sắt trước khi
dùng trong sinh hoạt ăn uống. Nhưng công nghệ xử lý sắt trong nước dưới đất
với hàm lượng sắt tổng từ 1,0 - 5,0 mg/l tương đối đơn giản, kinh phí xử lý
không tốn kém nhiều.
+ Hàm lượng sắt tổng lớn hơn 5,0 mg/l: Diện phân bố của khu vực này
không lớn và có dạng dải. Một dải nhỏ kéo dài qua các xã Yên Bắc, Tiên Nội,
Tiên Ngoại, Tiên Tân, Tiên Hiệp, thuộc huyện Duy Tiên; một phần của huyện

Tầng chứa nước Pleisoxen có chất lượng nước biến thiên từ mặn đến
nhạt, nhưng qua nghiên cứu cho thấy chúng biến đổi có quy luật và có độ
tổng khoáng hoá cao. Trong vùng có phát hiện thấu kính nước nhạt có độ
khoáng hoá < 1,0 mg/l, thấu kính này kéo dài từ huyện Kim Bảng qua thị xã
Phủ Lý rồi kéo lên huyện Duy Tiên, qua phần phía Bắc huyện Lý Nhân đến
Sông Hồng bao gồm các xã Phù Vân, Châu Sơn, xã Lam Hạ thuộc thị xã Phủ
Lý; Tiên Hiệp, Tiên Hải, Đọi Sơn, Châu Giang, Yên Nam, Chuyên Ngoại,
Trác Văn thuộc huyện Duy Tiên; xã Thanh Tuyền, thuộc huyện Thanh Liêm;
xã Đinh Xá thuộc huyện Bình Lục ; Văn Lý, Hợp Lý, Chính Lý, Nguyên Lý
thuộc huyện Lý Nhân. Đây là thấu kính nước nhạt duy nhất trong tầng chứa
Pleistocen trong giới hạn tỉnh Hà Nam.
Hàm lượng tổng sắt trong nước hệ tầng Pleistocen khá cao, biến đổi từ
một vài miligam đến hàng chục nghìn miligam/1lít nước, sự biến đổi có chiều
hướng tăng dần kể từ biển vào sâu trong đồng bằng. Trên diện tích huyện
Bình Lục, huyện Lý Nhân, huyện Duy Tiên, huyện Thanh Liêm hàm lượng
sắt tổng khá cao, vượt quá giới hạn cho phép.

22


23

3.1.2. Tiềm năng tài nguyên nước dưới đất thành phố Phủ Lý tỉnh
Hà Nam
Theo tài liệu về đánh giá hiện trạng tài nguyên nước dưới đất của tỉnh,
Hà Nam có một nguồn tài nguyên nước dưới đất tương đối nhiều và có triển
vọng, có thể khai thác và sử dụng ở các vùng như TP Phủ Lý , Duy Tiên ,
Thanh Liêm ………….
Các nguyên tắc khi đánh giá tiềm năng tài nguyên nước dưới đất
Nước dưới đất chỉ được xem như một tài nguyên khi con người có thể sử

* Nước dưới đất có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau: ăn uống, sinh
hoạt, tưới, công nghiệp, an dưỡng bệnh, chăn nuôi, khai thác nhiệt, khai thác
nguyên liệu.
* Nước dưới đất vừa có thể sử dụng trực tiếp (ăn uống, sinh hoạt), vừa
có thể sử dụng như một tác nhân cho sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp),
vừa có thể sử dụng như một loại hàng hoá (nước đóng chai, nước xuất
khẩu...).
Từ các đặc tính đó, khi đánh giá tài nguyên nước dưới đất phải có hiểu
biết rộng và tuân thủ những nguyên tắc chung như sau:
1. Xác định chất lượng của nước dưới đất ứng với mục đích sử dụng
chúng. Chỉ có như vậy mới tận dụng hết các loại nước dưới đất có thành phần
khác nhau.
2. Chỉ được xác định phần nước dưới đất có thể khai thác, sử dụng (phần
nước được coi là tài nguyên) không bị thay đổi về lượng và chất đáp ứng mục
đích sử dụng trong suốt thời gian sử dụng.
3. Chỉ được coi là tài nguyên phần nước dưới đất khai thác không gây
tác hại xấu đến môi trường nghĩa là đảm bảo phát triển lâu bền và kinh tế.
4. Đánh giá tài nguyên phải mang tính khả thi, nghĩa là phải phù hợp với
điều kiện kinh tế, kỹ thuật cho phép của đất nước hiện tại và tương lai khoảng
20 - 30 năm.
Các nguyên tắc này đã được các nhà Địa chất Thuỷ văn phản ánh trong
các công trình của mình, thể hiện ở các quan điểm đánh giá trữ lượng nước
dưới đất ở hai khía cạnh lớn là:

24


25

- Đánh giá chất lượng nước: Khi đánh giá chất lượng người ta phải xem


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status