ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN ^
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
rr-1 /\ -*Ầ
.A•
Tên đê tài:
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
CỦA XÃ QUAN BẢN, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2012 ĐÉN HÉT THÁNG 6/ 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy : Quản
Chuyên ngành
lýđấtđai : Quản lý tài
Khoa Khóa học
nguyên : 2011-2015
rr-1 /\ -*Ầ
.A•
thầy, cô giáo, của các anh chị trước cùng sự giúp đỡ động viên của gia đình bạn bè, bản thân tôi đã đạt được một số kết quả
nhất định.
Trước khi tốt nghiệp ra trường, tôi trân trọng gửi tới lời cảm ơn tới các thầy,cô giáo trong khoa Quản Lý Tài Nguyên.
Cùng toàn thể cán bộ giáo viên, công nhân viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS. Phan Đình Binh là người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡtôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu khoa học.
Qua đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, nhân viên UBND xã Quan Bản đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi nhất và tận tình cộng tác giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Để góp phần thực hiện thành công khóa luận tôi đã nhận được sự động viên, khích lệ của Gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó.
Thái nguyên, ngày 25 tháng 05 năm 2015.
Sinh viên
Hoàng Thị Hiếu
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
5 HÌNH
DANH MỤC CÁC
Hình 4.1: Nhận xét của người dân về công tác quản lý và sử dụngđất................................61
Hình 4.2: Đánh giá về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về đất đai ... 62 Hình 4.3: Đánh giá sựhiểu biết của người
dân về đất đai........................................................................................................................63
CN-TTCN
: Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Thăm dò ý kiến người dân về công tác quản lý nhà nước về đất đai
6
3.3.2.
Đánh giá chung và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả
7
8
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.
Đặt vấn đề
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của
mỗi quốc gia, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống. Trong quá trình vận
động, đất đai trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt của xã hội và không thể thay thế bởi bất kỳ
một loại tư liệu sản xuất nào khác.
Đã có nhiều quy định của nhà nước khẳng định và nhấn mạnh rằng: đất đai thuộc sở
hữu toàn dân. Cụ thể ở hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: quyền tư hữu tài sản của công dân
gian bị gián đoạn khi thực hiện cấp theo mẫu mới, các hiện tượng: sử dụng đất trái pháp luật,
lấn chiếm, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép vẫn xảy ra phổ biến đặc biệt là hiện tượng
tranh chấp đất đai ngày càng tăng và diễn biến phức tạp. Hơn nữa, quá trình đô thị hoá nhanh,
không theo quy hoạch dẫn đến tình trạng mất đất sản xuất nông nghiệp, gây khó khăn cho
công tác quản lý đất đai của cấp thẩm quyền. Như vậy, một thực tế đặt ra là làm thế nào để
thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Quan Bản hợp lý và theo pháp
luật là việc làm cần thiết.
Đáp ứng yêu cầu cần thiết này, được sự phân công của khoa Quản Lý Tài NguyênTrường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã đi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Quan Bản, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
giai đoạn 2012 đến hết tháng 6/2014”.
1.2.
1.2.1.
-
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Mục tiêu của đề tài
Đánh giá tình hình quản lý đấtđai trên địa bàn xã Quan Bản. huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn
theo 13 nội dung quản lý đất đai giai đoạn 2012 đến hết tháng 6/ 2014.
-
Đề xuất những biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã ngày
càng chặt chẽ, hiệu quả hơi trong thời gian tới.
1.2.2.
-
Yêu cầu
Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước về đất đai 2.1.1 Cơ sở
lý luận của công tác quản lý nhà nước về đất đai
* Sơ lược về lịch sử ngành địa chính và quản lý Nhà nước về đất đai qua các thời kỳ.
Danh từ địa chính xuất hiện khi xã hội loài người hình thành và phát triển các quốc
gia, khi mà ỗất ỗai trở thành nguồn lực to lớn của Nhà nýớc. Để phát huy tối ỗa tiềm nãng,
nguồn lực của ỗất ỗai phục vụ cho sự nghiệp phát triển của ỗất nýớc thì đòi hỏi nghành địa
chính có những quy định cụ thể về chế độ quản lý và sử dụng đất phù hợp với mỗi giai đoạn
lịch sử.
Thời kỳ nô lệ.
-
Trong thời kỳ đầu lập nước: Thời kỳ này quan hệ đất đai có nhiều hình thức sở hữu khác
nhau, nhưng quyền sở hữu tối cao thuộc về nhà Vua và các quan lại, một phần thuộc về công
xã nông thôn.
-
Trong thời kỳ Bắc thuộc: Hình thức sở hữu của công xã nông thôn vẫn còn tồn tại và phát
triển vững chắc, hình thức này đựơc duy trì một nghìn năm Bắc thuộc. Mặc dù dưới chế độ
đô hộ của chế độ phong kiến phương Bắc, hình thức này không còn được nguyên vẹn như
trước.
Công tác địa chính đã được thực hiện từ khi các bộ lạc chấm dứt tình trạng du mục
để sống quây quần thành xã hội, con người bấy giờ tuy chất phát nhưng tạo một cuộc sống
riêng tư, trong đó đất đai là sản phẩm chính của cá nhân nhưng tập thể sơ khai muốn thoả
mãn nhu cầu của mình phải nghĩ đến một phần tạo ra lợi tức trên sản phẩm ấy. Thuế điền thổ
phát sinh từ đố, muốn tính thuế công bằng phải biết diện tích, tính chất và lợi tức của tiền
sản. Do đó xuất hiện công tác địa chính.
Thời kỳ phong kiến.
-
Ở Bắc kỳ: áp dụng chế độ quân thủ địa chính. Năm 1906 sở địa chính chính thức ra đời sau
khi phân định ranh giới các Tổng, Huyện. Năm 1912, sở địa chính đo đạc các tỉnh Bắc Ninh,
Bắc giang, Phúc Yên, Thái Bình. Năm 1920 công tác đo đạc để tính thuế cơ bản xong các
thành phố Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng được coi là nhương của Pháp áp dụng chế độ điền
thổ theo sác lệnh ngày 02/02/1925. Còn các tỉnh lập ty địa chính.
-
Ở Nam Kỳ: áp dụng chế độ địa tô. Năm 1867, người Pháp đã lập sở địa chính Sài Gòn. Năm
1871-1898, ở Sài Gòn lập nên tam giác để đo đạc giải thửa.
-
Đến năm 1930, ở các tỉnh phía Tây và phía Nam của Nam kỳ đac lập được bản đồ giải thửa
tỷ lệ 1/4000; 1/1000; 1/500. Trong công tác quản lý từ 1911 đã có điều lệ bắt buộc tất cả các
văn tự và án văn điền địa phải chuyển đến Viên quân thủ địa bộ lưu giữ, tỉnh trưởng thực
hiện việc quản thủ địa bộ cho nhân dân bản xứ trong tỉnh.
Thời kỳ Mỹ-Nguỵ (1954-1975)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ và hội nghị Giơnevơ, đất nước ta bị chia cắt làm hai
miền: Miền Bắc và Miền Nam. Thời kỳ đầu các tỉnh phía Nam tồn tại 3 chế độ điền thổ:
-
Chế độ theo sắc lệnh ngày 21/07/1925 áp dụng ở một số xã.
-
Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến. chiếm hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến, đem lại
ruộng đất cho nhân dân”.
Năm 1959-1960 hợp tác hoá ruộng đất cơ bản hoàn thành, lúc này tồn tại 3 hình
thức sở hữu đất đai: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân.
Ngày 14/12/1959 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 404 TTg cho phép thành
lập cục đo đạc và bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng để chắc địa hình và tài nguyên đất.
Ngày 09/12/1960 Chính Phủ ban hành nghị định 70/CP về nhiệm vụ về tổ chức
ngành quản lý ruộng đất, quyết định chuyển ngành địa chính từ Bộ tài chính sang Bộ nông
nghiệp phụ trách và đổi tên thành quản lý ruộng đất.
Trong quá trình hoàn thiện quản lý ruộng đất, nhiều địa phương còn buông lỏng
nên đã phát sinh việc bỏ hoang hoá, lấn chiếm ruộng đất của hợp tác xã, cấp và cho đất trái
pháp luật.
Căn cứ vào Nghị quyết số 548/NQ-QH ngày 24/05/1979 của uỷ ban Thành uỷ
Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định 440/CP ngày 09/11/1979 về thành lập hệ thống
ruộng đất trứơc thuộc Hội Đồng Bộ trưởng và uỷ ban nhân dân các cấp.
Giai đoạn 1980-1991: Hiến pháp 1980 ra đời khẳng định:”Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Trong thời gian này tuy chưa có Luật đất đai
nhưng hàng loạt hệ thông văn bản mang tính pháp luật của Nhà nước về đất đai ra đời :
+ Quyết định 201/CP ra ngày 01/07/1980 của Hội đồng Chính Phủ về viẹc thống
nhất quản lý ruộng đất.
+ Chỉ thị 299/TTg ra ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc bản đồ giải thửa, phân
hạng và đăng ký ruộng đất nhằm nắm chắc quỹ đất trong cả nước để lập hồ sơ địa chính.
+ Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/4/1981 của Ban bí thư trung ương Đảng về việc
khoán sản phẩm đến nhóm người lao động và người lao động trong nhóm hợp tác xã nông
nghiệp.
Ngày 08/01/1988 Quốc hội thông qua luật đất đai 1988 ra đời đã là một dấu mốc
lịch sử đầu tiên thể hiện sự quản lý Nhà nước đối với đất đai, tiếp theo đó là Nghị quyết 10
của Bộ chính trị 05/04/1988, đây là sự biến đổi lớn lao trong quan niệm về quản lý đất đai.
Ngày 23/04/1994 Chính Phủ ban hành Nghị định 34/CP quy định chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Tổng cục Địa chính.
Trước nhưng yêu cầu đổi mới đất nước, ngày 01/12/1988 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội
khoá X đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai.
Để tiếp tục hoàn thiện thêm những quy định của Luật đât đai, ngày 26/01/2001 tại
kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá X đã thông qua luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất
đai 1993.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng một hệ thống những
chính sách, văn bản pháp Luật quy định chế độ quản lý và sử dụng đất đai để tạo hành lang
pháp lý trong phạm vi quản lý và sử dụng trên cả nước. Từng bước đáp ứng sự nghiệp công
nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, hệ thống pháp luật đất đai của nước ta đã qua hai lần sửa
đổi bổ sung, đến ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI Luật đất đai 2003 đã ra
đời quy định về quản lý và sử dụng đất đai.
Những sửa đổi và bổ sung Luật đất đai đã đặt nền tảng ban đầu cho hành lang pháp
lý về sử dụng nguồn lực đất đai trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo định hướng
xây dựng một đất nước công nghiệp.
Nhìn chung qua các thời kỳ, công tác quản lý sử dụng đất được Nhà nước coi trọng,
mặc dù tồn tại dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, song vẫn là cơ quan chuyên môn
giúp Nhà nước và sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật.
* Khái niệm về đất đai
“Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng như sau: “Đất đai là
một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh
tháingay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt
nước (hồ, sông, suối, đầm lầy...), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng
sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người. những
kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống
tiêu thoát nước, đường xá, nhà cửa..)”. (Vũ Thị Quý, 2007) [6].
*Các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất
hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy
hoạch. kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi
từ đất đai. ( Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) [7].
*Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Theo luật đất đai 2003 công tác quản lý nhà nước về đất đai gồm 13 nội dung cụ thể
sau:
+ Ban hành vàtổ chức thực hiện các văn bảnquy phạm pháp luật về quản lý đất đai.
+ Xác địa giới hành chính. lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành
chính.
+ Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử
dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
+ Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
+ Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
- Đăng kí quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
+ Công tác thống kê, kiểm kê đất đai.
+ Quản lý tài chính về đất đai.
+ Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.
+ Quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
+ Thanh tra,kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi
phạm pháp luật về đất đai.
+ Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các vi phạm trong quản
lý và sử dụng đất đai.
+ Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
2.1.2.
Cơ sở pháp lý của công tác quản lý và sử dụng đất đai
+ Nghị định 68/NĐ-CP ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
+ Nghị định 12/2002/NĐ-CP ngày 22/12/2002 về hoạt động đo đạc và bản đồ.
Đặc biệt Luật Đất đai năm 2003 ra đời đã đáp ứng kịp thời sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, Khoản 02 điều 6 Luật Đất đai năm 2003 đã nêu rõ nội dung quản lý
Nhà nước về đất đai. Luật sửa đổi bổ sung được ban hành đã đáp ứng kịp thời nhu cầu đổi
mới cơ chế quản lý kinh tế nhiều thành phần, xoá bỏ cơ chế quản lý cũ.
Để Luật Đất Đai năm 2003 thực hiện phù hợp với tình hình thực tế. Chính phủ đã ban
hành các nghị định. Bộ Tài Nguyên & Môi Trường ban hành các thông tư hướng dẫn:
-
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất Đai.
-
Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về việc sử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực đất đai.
-
Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT ngày 01/ 11/2004 của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường về
việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng
đất.
-
Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường về
việc hướng dẫn lập chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
và sử dụng nghĩa trang.
-
Văn bản số 181/ĐC-Cp của Chính phủ về đính chính Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày
13/08/2009 của Chính phủ quy định, bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất,
bồi thường hỗ trợ tái định cư.
-
Thông tư liên tịch hướng dẫn chức năng nhiệm vụ. quyền hạn cơ cấu tổ chức chính sách tài
chính của tổ chức phát triển quỹ đất ngày 08/01/2010.
Ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai năm 2013, Luật này sẽ có hiệu
lực kể từ 01/7/2014. Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị định, thông tư, Chỉ thị.. ..nhằm
hướng dẫn thực hiện Luật Đất Đai:
-Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai
-
Thông tư 23/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường về Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
-
Thông tư 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường ngày 05/07/014 về hồ sơ
địa chinh.
-
-
Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng
đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
-Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
-Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
-. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
-
Thống kê, kiểm kê đất đai.
-
Quản lý tài chính về đất đai.
-
Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.
-
Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
-
Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm
pháp luật về đất đai.
Công tác thống kê, kiểm kê đất đai: được sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn của Sở
Tài nguyên & Môi trường, công tác thống kê, kiểm kê đất đai trên địa bàn phường được triển
khai khá tốt. Đất đai của tỉnh đã được thống kê hàng năm theo quy định của ngành. Qua đó
cũng kiểm kê đất đai, rà soát quỹ đất, đánh giá thực trạng của việc quản lý đất đai tại địa
phương, của các tổ chức trên địa bàn đồng thời phát hiện nhiều hành vi vi phạm Luật đất đai
để kịp thời điều chỉnh.
2.3.2.
2.3.2.1.
Tình hình quản lý đất đai ở huyện Lộc Bình
Công tác xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý. sử dụng đất và tổ chức thực
hiện các văn bản đó
Thực hiện Luật Đất đai năm 1993; Luật Đất đai năm 2003,Phòng Tài nguyên Môi
trường đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân huyện ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện
các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai phù hợp với thực tiễn của địa phương.
2.3.2.2.
Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý địa giới hành chính. lập bản
đồ hành chính
Thực hiện Chỉ thị 364/HĐ-BT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng
Chính phủ), địa giới hành chính của huyện được đo đạc, cắm mốc địa giới và bàn giao cho
Uỷ ban nhân dân huyện quản lý. Hồ sơ được quản l ý và sử dụng theo đúng quy định, mốc
giới ngoài thực địa thường xuyên được kiểm tra, được xác định các phía tiếp giáp như sau:
-
2.32.4. Công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất
Huyện đã thực hiện lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 vàkế hoạch sử dụng đất
cho giai đoạn 2011 - 2015. Để đáp ứng nhu cầu quản lý và phục vụ xây dựng các chương
trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện.
2.3.2.5 .Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Việc giao đất ổn định, lâu dài cho các đối tượng sử dụng là một bước tiến mới trong
nhận thức về quản lý đất đai,một giải pháp quan trọng nhằm khắc phục tình trạng vô chủ, sử
dụng kém hiệu quả. đồng thời tạo điều kiện cho các đối tượng yên tâm đầu tư phát triển sản
xuất và kinh doanh, bước đầu thu hút vốn đầu tư của nhân dân và các thành phần kinh tế, tạo
bước phát triển mới cho các ngành.
23.2.6. Công tác cấp GCNQSDĐ
Từ sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực, tiến độ cấp GCNQSDĐ được đẩy lên
nhanh rõ rệt.
2.3.2.7. Công tác thống kê ,kiểm kê đất đai
Thực hiện theo Luật Đất đai hằng năm UBND huyện đã có kế hoạch hướng dẫn triển
khai thống kê đất đai tới tất cả các xã, thị trấn vào ngày 01/01 hằng năm. Và việc kiểm kê đất
đai được tiến hành 5 năm một lần.
23.2.8. Quản lý tài chính về đất đai