Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn phường phú xá – thành phố thái nguyên tỉnh thái nguyên, giai đoạn 2011 2014 - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

LÊ THU HẰNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
TRÊN ĐỊA BÀN PHƢỜNG PHÚ XÁ – TP. THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2011 – 2014”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý đất đai

Khoa

: Quản lý tài nguyên

Khoá học

: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015



Thái Nguyên, năm 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là thời gian để mỗi sinh viên sau quá trình học tập,
nghiên cứu tại trường có điều kiện củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực
tế. Đây là giai đoạn không thể thiếu được đối với mỗi sinh viên các trường đại nói
chung và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin gửi lời cảm ơn tới giảng viên
giáo viên Ths. Nguyễn Đình Thi đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt thời gian thực hiện đề tài này.
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm
Khoa Quản lý Tài nguyên, các thầy giáo, cô giáo, cán bộ trong khoa đã truyền
đạt cho em những kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập và
rèn luyện tại trường.
Em xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo UBND Phường Phú Xá – TP. Thái
Nguyên – Tỉnh Thái Nguyên và các cán bộ, nhân viên đang công tác tại Ban
Địa chính phường đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp.
Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở
bên cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em
thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Trong quá trình học tập và làm đề tài tốt nghiệp, em đã cố gắng hết mình
nhưng do kinh nghiệm còn thiếu và kiến thức còn hạn chế nên khóa luận tốt
nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên

Nghị định chính phủ

QHSDĐ

Quy hoạch sử dụng đất

KHSDĐ

Kế hoạch sử dụng đất

CNH – HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

WTO

Tổ chức thương mại quốc tế

TT-BTNMT

Thông tư – bộ tài nguyên môi trường

KCN

Khu công nghiệp

ĐKQSDĐ

Đăng ký quyền sử dụng đất


3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 19
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 19
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Phú Xá – TP. Thái
Nguyên – Tỉnh thái Nguyên ............................................................................ 19


v

3.3.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất .......................................................... 19
3.3.3. Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn
2011 – 2015 ..................................................................................................... 20
3.3.4. Những tồn tại chủ yếu trong thực hiện phương án quy hoạch sử dụng
đất, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và giải pháp khắc phục .................... 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 20
3.4.1. Phương pháp nội nghiệp ....................................................................... 20
3.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp ..................................................................... 20
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 20
Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 21
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Phường Phú Xá ........................ 21
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................. 21
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội và cơ sở hạ tầng ........................................... 24
4.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của phường Phú Xá .....28
4.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của phường Phú Xá, thành phố Thái Nguyên ...... 28
4.2.1. Tình hình quản lý đất đai của phường Phú Xá, TP Thái Nguyên ......... 28
4.2.2. Tình hình sử dụng đất đai của phường Phú Xá – TP. Thái Nguyên –
Tỉnh Thái Nguyên ........................................................................................... 32
4.3. Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất từ năm
2011 – 2014 ..................................................................................................... 37
4.3.1. Đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất năm 2014 so
với chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất đã được duyệt trong phương án quy hoạch

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan
trọng của quản lý Nhà nước về đất đai. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1993 và Luật Đất đai
2003 (Chương II: Quyền của Nhà nước đối với đất đai - Mục 2 – điều 21 đến
điều 30 Luật Đất đai 2003).
Hiện nay các ngành kinh tế và các nhu cầu trong xã hội về đất đai ngày
một tăng, biến động đất đai ngày càng nhiều. Vì vậy công tác quản lý và sử
dụng đất đai đã và đang được qua tâm, quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu
quả. Nghiên cứu tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai, xem xét các
dự án quy hoạch sử dụng đất đai khi đưa vào thực hiện đạt mục đích đề ra,
đem lại hiệu quả và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Nhận rõ tầm quan trọng của công tác QHSD đất, quá trình triển khai và
thực hiện công tác đánh giá quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vẫn còn bộc lộ
một số tồn tại. Đặc biệt sau khi quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt và đưa
vào thực hiện, tình hình theo dõi, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn nhiều
bất cập trong quản lý và sử dụng đất, vì vậy công tác đánh giá quy hoạch sử
dụng đất là rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, được sự đồng ý của Ban Giám hiệu
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài
Nguyên, dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Đình Thi, tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn phường
Phú Xá – TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2014”.


2

1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu và đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất của
phường Phú Xá – TP. Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 –

luôn quan tâm, chú trọng tới vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để nhằm
sử dụng hợp lý quỹ đất giúp người dân yên tâm sản xuất, đưa đất nước phát
triển đi lên trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay.
Sự quan tâm của Đảng thể hiện ngay trong hệ thống các văn bản pháp
luật như: Hiến pháp, luật, các văn bản dưới luật và các nghị định hướng dẫn
thi hành luật. Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho các cấp thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
- Công văn 429/TCQLĐĐ-CQH ĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2012 về việc
hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,
(1992) đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất
quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích
và có hiệu quả” (chương 2, điều 18).
- Luật Đất đai 1993, Nxb Chính trị Hà Nội.
- Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, Nxb
Chính trị, Hà Nội
- Luật sửa, đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, Nxb
Chính trị Hà Nội.
- Luật Đất đai năm 2003 Nxb Chính trị Hà Nội.
- Nghị định số 181/2004/ NĐ - CP của chính phủ về hướng dẫn thi
hành luật đất đai năm 2003.


4

- Nghị định 69/2009/NĐ-CP [11] ngày 13 tháng 08 năm 2009 của
Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất,
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Thông tư 30/2004/TT - BTNMT [3] của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử

định tính pháp chế của nhà nước ta trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
2.2. Cơ sở lý luận của đề tài
2.2.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự
nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức... đất
đai là một thành phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh
đất, miếng đất...) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên
hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ
nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính...) tạo ra
những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Vì
vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao
động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ
và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước
một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội, nhằm lựa
chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất. Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất
là lựa chọn và đưa phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu
của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho
tương lai. Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người
và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý
sử dụng đất.[5]
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kĩ thuật
và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả


6

cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử
dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền
với đất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường .

hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc
dân. Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát
triển của quy hoạch sử dụng đất. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một
phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối
quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và Quan
hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất). Trong quy
hoạch sử dụng đất luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên
(như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế...), cũng như quan hệ giữa người với
người (xác nhận bằng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những
người chủ đất - GCNQSDĐ). Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố
thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ
sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội.
Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất
và quyền lợi của toàn xã hội; Góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở
nông thôn; Nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc
biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất góp phần giải quyết các
mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong
quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất biểu hiện
chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo,
bảo vệ... toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân; Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và


8

xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất
nông, công nghiệp, môi trường sinh thái...
Vì vậy, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng

quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định,
các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước,
theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong
những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp
hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát
triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế
thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp. Việc
chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là
cần thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch. Quy hoạch sử dụng
đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy
hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện...” với chất
lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao.
2.2.3. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng
đất. Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung
như sau: Nhiệm vụ đặt ra đối với quy hoạch; số lượng và thành phần đối
tượng nằm trong quy hoạch; Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ
hành chính) cũng như nội dung và phương pháp quy hoạch. Thông thường hệ
thống quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau (như
loại hình, dạng, hình thức quy hoạch...) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
về sử dụng đất đai (như điều chỉnh quan hệ đất đai hay tổ chức sử dụng đất
như tư liệu sản xuất) từ tổng thể đến thiết kế chi tiết.
Đối với Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003 (Điều 25) quy định: quy
hoạch sử dụng đất được tiến hành theo lãnh thổ hành chính.[4]


10

1. Quy hoạch sử dụng đất cả nước (gồm cả quy hoạch sử dụng đất các

sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành. Quy hoạch
tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng
đất theo ngành. Nói khác đi, quy hoạch ngành là một bộ phận cấu thành trong
quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ.
2.2.4. Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất
Đối với mỗi quốc gia, cũng như từng vùng trong một nước (khác nhau
về không gian), nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất ở các giai đoạn
lịch sử khác nhau (về thời gian) là rất khác nhau:
Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng
đất bao gồm:
1. Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai (đặc biệt là đất
chưa sử dụng);
2. Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản
về sử dụng đất trong kỳ quy hoạch (dựa trên cơ sở dự báo biến động sử dụng
đất đai, nhu cầu đất của các ngành kinh tế quốc dân, khả năng đáp ứng về số
lượng và chất lượng đất đai);
3. Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh (điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất, phân phối hợp lý
nguồn tài nguyên đất đai, xử lý, điều hoà nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành,
đưa ra các chỉ tiêu khống chế - chỉ tiêu khung để quản lý vĩ mô đối với từng loại
sử dụng đất - 3 nhóm đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 2003);
4. Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình, dự án;
5. Xác định các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo
vệ môi trường;
6. Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.


12

Như vậy, nhiệm vụ trọng tâm của quy hoạch sử dụng đất là: Phân phối

2.2.5. Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất
- Theo điều 21 luật đất đai 2003:
Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải đảm bảo các nguyên tắc
sau đây:
1. Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh
tế xã hội, quốc phòng, an ninh;
2. Được lập từ tổng thể đến chi tiết, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên,
kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu
sử dụng đất của cấp dưới;
4. Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
5. Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;
6. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh;
7. Dân chủ và công khai;
8. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định,
xét duyệt trong năm cuối của kỳ trước đó;
Kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Tại Điều 24 Luật Đất đai 2003 quy định về kỳ quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất:
- Kỳ quy hoạch sử dụng đất đai là 10 năm cho tất cả các địa phương và
cả nước.
- Kỳ kế hoạch sử dụng đất đai là 5 năm cho tất cả các địa phương và cả
nước.
2.2.6. Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Theo điều 22 luật đất đai 2003:


14

15

2. Nội dung kế hoạch bao gồm:
a) Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước;
b) Kế hoạch thu hồi diện tích các loại đất để phân bổ cho nhu cầu xây
dựng kết cấu hạ tầng; phát triển công nghiệp, dịch vụ; phát triển đô thị, khu
dân cư nông thôn; quốc phòng, an ninh;
c) Kế hoạch chuyển diện tích đất chuyên trồng lúa nước và đất có
rừng sang sử dụng vào mục đích khác, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong
đất nông nghiệp;
d) Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sử dụng vào các mục đích;
đ) Cụ thể hoá kế hoạch sử dụng đất năm năm đến từng năm;
e) Giải pháp tổ chức thực hiện kế hoạch sử dụng đất.
2.2.8. Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Điều 25 luật đất đai 2003 nêu rõ: lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1. Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của cả nước;
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực
hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương;
3. Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của phường thuộc huyện;
Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất của các đơn vị hành chính cấp dưới, trừ trường hợp quy định tại khoản 4
Điều này;
4. Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị
trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của địa phương;

thường, giải phóng mặt bằng thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng theo


17

mục đích đã xác định trước khi công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nếu
người sử dụng đất không còn nhu cầu sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất và bồi
thường hoặc hỗ trợ theo quy định của pháp luật;
Nhà nước nghiêm cấm mọi hoạt động tự ý xây dựng, đầu tư bất động
sản trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất. Trường hợp có nhu cầu cải tạo, sửa chữa nhà ở, công trình gắn liền với
đất phải thu hồi mà làm thay đổi quy mô, cấp công trình hiện có thì phải được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
3. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải
thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất
mà sau ba năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ và
công bố;
2.2.10. Tìm hiểu công tác đánh giá quy hoạch sử dụng đất và tầm quan
trọng của công tác đánh giá này
Đánh giá là một biện pháp không thể thiếu được trong công tác quản lý
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (QH, KHSDĐ). Đánh giá QH, KHSDĐ)
được thực hiện theo 3 góc độ sau:
1. Đánh giá quá trình lập, quyết định xét duyệt QH, KHSDĐ.Việc này
cần được đánh giá một số vấn đề như sau:
+ Kỳ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Trình tự, phương pháp lập, quyết định xét duyệt QH, KHSDĐ
+ Thẩm quyền lập, quyết định xét duyệt QH, KHSDĐ
+ Nội dung QH, KHSDĐ (Có thể kèm theo báo cáo thuyết minh và bản
đồ)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status