Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật anh Câu hỏi nhận định đúng sai - Pdf 36

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT UEH

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU ÁN LỆ VÀ
NGHỀ LUẬT SƯ
CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ANH

GV hướng dẫn: TS. Đỗ Thị Mai Hạnh
SV thực hiện : Nhóm 6 – Lớp 03 – VB2 Luật
kinh tế

Năm 2014

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 1


LỜI NÓI ĐẦU
Khi nói về nguồn luật của nước Anh người ta thường nói đến hai loại nguồn chính
là luật thành văn và luật bất thành văn. Luật thành văn theo như cách hiểu thông
thường là các đạo luật do nghị viện và các văn bản phụ trợ do Chính phủ ban hành.
Bên cạnh đó thì luật bất thành văn lại bao gồm ba bộ phận là: tập quán phổ biến tư
thời thượng cổ hay chúng ta còn gọi là common law (các phán quyết của tòa án
bao gồm cả án lệ); các tập quán hoặc luật lệ địa phương có ảnh hưởng đến những
người sống ở một vùng địa phương nào đó; và cuối cùng là luật cá biệt.
Phần lớn thì các quy phạm pháp luật chi tiết thường được tìm thấy trong luật thành
văn trong khi hầu hết các nguyên tắc pháp lí tại Anh thì thường là tư án lệ mà ra.
Cho đến tận ngày nay, án lệ và luật thành văn vẫn được xem là hai nguồn luật lớn

-

Vụ việc đã được giải quyết làm cơ sở để ra phán quyết cho những trường hợp có
tình tiết hoặc vấn đề tương tư sau này 2.

Lưu ý rằng điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật Anh là bộ phận quan trọng của luật
thưc định do các cơ quan tư pháp, tức tòa án sáng tạo ra dưa trên cơ sở áp dụng và
phát triển các án lệ hay tiền lệ pháp. Và thêm một điều cần lưu ý nữa rằng là án lệ là
nguồn pháp luật chính của các nước theo dòng họ pháp luật của hệ thống thông luật
(common law).
Tuy nhiên trên thưc tế, theo như tra cứu tư điển luật học thì Án lệ trong tiếng Anh là
“precedent”, có nghĩa là tiền lệ. Nên tư “precedent” có sách còn dịch là tiền lệ pháp
hoặc có sách dịch là án lệ. Thật ra, tư dùng nhiều hơn trong tiếng Anh là “judical
precedent” nghĩa là tiền lệ tư pháp3. Theo giáo sư Peter Cruz đã viết trong cuốn sách:
“Luật so sánh trong thế giới chuyển đổi” thì án lệ được hiểu theo hai nghĩa:
-

Theo nghĩa rộng, là những nguyên tắc không theo luật định được ra tư các quyết
định tư pháp

-

Theo nghĩa hẹp, là việc đưa ra những nguyên tắc làm nền tảng cho những vụ việc
sau này4.

Để có thể hiểu rõ hơn khái niệm án lệ, theo chúng tôi cần phải xem xét nó với các khía
cạnh khác nhau:
-

Khía cạnh thứ nhất: án lệ dưới góc độ là một học thuyết, tức nó bao gồm một hệ

nghĩa là tuân thủ các phán quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm pháp
luật đã thiết lập trong án lệ7.
Nguyên tắc “stare decisis” có thể tóm tắt một cách đơn giản như sau: hai vụ việc
với các tình tiết chính tương tư như nhau sẽ được xét xư như nhau và thuật ngữ
này còn có nghĩa là duy trì lý lẽ của những vụ việc trước 8. Như vậy ở đây có thể
hiểu khái quát án lệ là quyết định của một tòa án có mang ý nghĩa hay đặc trưng
pháp lý. Những đặc trưng pháp lý đó tồn tại trong các phán quyết của tòa án.
Những bản án này trở thành hình mẫu và mang tính bắt buộc cho các tòa án trong
việc giải quyết các vụ việc tương tư xảy ra trong tương lai. Điều này được coi là
nội dung cơ bản nhất của học thuyết về án lệ “the doctrine of precedent” hoặc
“stare decisis”.
-

Khía cạnh thứ hai: án lệ với tư cách là nguồn luật (hình thức pháp luật), tức là
phương thức tồn tại hay dạng tồn tại thưc tế của pháp luật và thông qua đó con
người có thể nhận thức được nội dung của pháp luật 9. Ở khía cạnh này, án lệ được
xem là nguồn luật chủ yếu của các nước thuộc hệ thống pháp luật common law. So
với các nước thuộc hệ thống Civil law thì toàn bộ hệ thống luật xoay quanh các
quy phạm pháp luật. Mà đã là các quy phạm pháp luật thì thường phải do nghị viện
ban hành, các quy phạm pháp luật này tồn tại trong các văn bản pháp luật (Statute)
hoặc trong các bộ luật (Code). Đó chính là lý do mà các văn bản quy phạm pháp
luật được xem là nguồn luật chủ yếu ở các nước thuộc hệ thống Civil law. Ngược
lại, yếu tố nền tảng lý luận cho toàn bộ hệ thống lý luận của hệ thống common
law là án lệ hay nguyên tắc stare decissis, nghĩa là tôn trọng các tiền lệ. Quyết định
toà án không chỉ ràng buộc đối với các bên trong môt vụ việc cụ thể mà nó còn có
ý nghĩa bắt buộc đối với các thẩm phán của tòa án sau này khi xét xư một vụ việc
tương tư.

Một lưu ý quan trọng nữa là, khi đề cập án lệ với tính cách là một nguồn luật người ta
không sư dụng thuật ngữ “precedent” mà sư dụng thuật ngữ “case law”. Theo tư điển



phán quyết của tòa hành chính. Hay nói cách khác, tiền lệ pháp chỉ có thể hình thành
tư các cơ quan tư pháp chứ không tư các cơ quan lập pháp hay hành pháp.
Tiếp theo, chúng ta tìm hiểu thêm về một số đặc điểm cơ bản của án lệ. Xét về nguồn
luật với tư cách là án lệ trong hệ thống pháp luật Anh thì, không phải mọi bản án,
quyết định của các tòa án đều trở thành án lệ. Có các điều kiện cơ bản sau đây để bản
án trở thành án lệ12:
-

Nội dung của bản án có liên quan đến vấn đề pháp luật (a point of law).

-

Trong bản án thể hiện thái độ, quan điểm của thẩm phán về các vấn đề được đặt ra.

-

Án lệ do thẩm phán tạo ra phải xuất phát tư tranh chấp giữa các bên trong vụ án.

-

Hoạt động công bố và hệ thống hóa án lệ.

-

Bản án phải được trích dẫn làm căn cứ pháp lý cho việc giải quyết các vụ việc
tương tư xảy ra sau này (ratio decidendi).

Ở điều kiện thứ nhất, nội dung của vụ án có liện quan đến pháp luật ở đây có thể hiểu


Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr.12.

15

Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Tr. 13.
16
Bài viết “ Nghiên cứu so sánh nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật nước Anh” của Nguyễn Văn Nam, Tr.4,
Một số đặc điểm về nguồn án lệ.
17
Xem: Moorgate Mercantile v Twitchings, [1976], QB, 225, CA.
18

Estoppel là chế định pháp lý đặc thù trong luật Common Law ở nước Anh. Estoppel có nghĩa là “ngăn không cho phủ
nhận” – một nguyên tắc pháp luật khi một người đã khẳng định điều gì thì không được bác bỏ.

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 5


phát sinh tư lời hứa và các hành vi cụ thể nói trên của mình. Quan điểm và thái độ của
thẩm phán đối với vấn đề pháp luật mới phát sinh trong vụ án sẽ được chấp nhận khi
thẩm phán có lập luận đưa ra trong một án lệ phải hợp lý và có lôgic pháp luật.
Đặc điểm này là một đặc trưng cơ bản trong văn hóa pháp lý của các thẩm phán trong
hệ thống pháp luật bị ảnh hưởng bởi truyền thống pháp luật common law.
Ba là, án lệ được tạo ra phải xuất phát tư tranh chấp giữa các bên trong vụ án.
Mỗi vụ án lệ đều hầu như gắn với một tình huống, một câu chuyện, trong đó các bên
tranh chấp với nhau và tòa án là trọng tài giải quyết tranh chấp đó. Đó chính là lý do
tại sao trong tên các bản án lệ thường thấy ký tư “v” (tượng trưng cho versus: kiện).


19

Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay” Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM, Đặc
điểm của bản án được xem là án lệ, Tr.14
20

Trích tư Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của
TS. Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc, Ratio decidende, Tr. 39.
21
Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Giải thích các án lệ, Tr. 90.

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 6


2.1 Ratio decidendi: có nghĩa là lý do đưa ra quyết định, hay là “quy tắc pháp lý
của vụ kiện” do thẩm phán đưa ra để biện luận cho phán quyết của mình 22 trong mỗi
bản án là cơ sở lập luận quan trọng để đi đến phán quyết, là những nguyên tắc, quy
phạm pháp luật dưa vào đó người thẩm phán ra quyết định đối với các đương sư trong
vụ việc đã xư. Bộ phận này trong bản án có giá trị ràng buộc, tuy nhiên, thẩm phán có
thể tư chối áp dụng phần ratio decidendi của một phán quyết trong quá khứ vì một số
lý do:
-

Một là do thẩm phán không đồng ý với phán quyết đó và đã cố gắng tìm ra những
tình tiết khác nhau giữa vụ việc đang xét xư và vụ việc đã xét xư.

-

Loại thứ hai là các quy tắc pháp lý do thẩm phán đưa ra dù đã dưa trên các sư kiện
pháp lý của vụ kiện, nhưng không phải là cơ sở của quyết định tòa án, ví dụ như
quy tắc do thẩm phán thiểu số đưa ra.

Chúng ta cũng cần lưu ý rằng; mặc dù không có tính chất bắt buộc, nhưng nhiều khi
“obiter dicta” vẫn có uy tín như “ratio decidendi” và được áp dụng tùy thuộc vào uy
tín của thẩm phán đưa ra nó, thứ bậc của tòa án, tính chất thuyết phục của nó, và
bối cảnh cụ thể của vụ kiện đang được xem xét.
22

Trích dẫn />nguồn Laurence Boulle
23

Trích dẫn Giáo trình Luật so sánh , ĐH Luật Hà Nội. Nguồn “the English Legal System”, MacDonal and Evans (1979)

24

Trích dẫn nguồn
Laurence Boulle.
25

Trích dẫn Giáo trình Luật so sánh , ĐH Luật Hà Nội. Nguồn “the English Legal System”, MacDonal and Evans (1979).

26

Trích dẫn Richard Ward & Amanda Wragg, English Legal
System, 9th Ed, Oxford University Press, 2005, tr.82.

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh


chịu ảnh hưởng của các hệ thống pháp luật ở châu Âu lục địa.
Trong hệ thống pháp luật Anh, một nguyên tắc ra đời tư khoảng thế kỷ XIII có tên
Latinh là “stare decisis” có nghĩa là tuân thủ các phán quyết trước đây và không phá
vỡ những quy phạm pháp luật đã được thiết lập trong án lệ. Theo nguyên tắc này, các
tòa án cấp dưới chịu sư ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý do các tòa án cấp trên
sáng tạo ra được ghi nhận trong các bản án trong quá trình xét xư các vụ kiện trong
quá khứ. Tòa án cấp trên được hiểu là thượng nghị viện, Tòa phúc thẩm và tòa án cấp
cao. Tuy nhiên, không phải toàn bộ các phán quyết của tòa án này đều trở thành án lệ.
Dù hội đủ các yếu tố về thẩm quyền cũng như nội dung quan điểm xét xư, một phán
quyết vẫn không được xem là án lệ nếu nó không được xuất bản27.
Những quyết định quan trọng của tòa án với tư cách án lệ bắt buộc được in trong cuốn
Law Report (báo cáo Luật), được xuất bản thành nhiều kỳ khác nhau bởi Ủy ban bán
công thuộc Ủy ban báo cáo pháp luật được thành lập năm 1865 bao gồm đại diện của
hai hiệp hội luật sư. Báo cáo về án lệ do biên tập viên là các luật sư bào chữa hiệu
đính. Chỉ có một số các quyết định đã chọn lọc được xuất bản (khoảng 75% các quyết
định của tòa án cấp cao). Vị thẩm phán đã ra quyết định này sẽ duyệt xét báo cáo 28.
27

Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009, Tr. 260.

28

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr. 106.

Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 8


Như vậy khi một vụ án được cơ quan có thẩm quyền ghi chép lại vào những văn bản

lỗi thời hoặc cần thiết phải thay đổi để đáp ứng những thay đổi trong xã hội. Như vậy,
việc bác bỏ trưc tiếp dẫn đến một án lệ kết thúc hiệu lưc và sư xuất hiện của một
nguyên tắc mới thay thế cái cũ. Do đó, án lệ đã bị bác bỏ không được coi là nguồn luật
và không thể áp dụng cho các trường hợp tương tư trong tương lại. Tuy nhiên, cần lưu
ý rằng giá trị của một án lệ có thể được phục hồi khi một tòa án cao hơn kết luận rằng
"nó đã được quyết định một cách đúng đắn”32.
Cuối cùng, sư thay đổi về thời gian, hoàn cảnh hay nói cách khác án lệ không còn phù
hợp với thưc tiễn đây cũng chính là yếu tố dẫn đến sư vô hiệu của án lệ. Trong trường
hợp này, án lệ không được coi là một nguồn luật mà không cần bất kỳ thông báo nào.
29

Morris Cools, Laying Down The Law, fourth Edition, Butter Worth, năm 1996, trang 49.

30

Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009.

31

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer.

32

Án lệ ở các nước />
Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 9


Ví dụ, theo Allen, “án lệ cổ xưa sẽ không còn được áp dụng rộng rãi đối với xã hội

của các bên được in đậm hoặc gạch chân. Đối với các vụ án mà luật pháp không
cho phép viết tên đầy đủ của các đương sư vì lý do bí mật (đặc biệt đối với các vụ
án liên quan đến trẻ em, người tàn tật) thì tên các bên sẽ được viết tắt. Tên của bên
đối kháng được ngăn cách bởi chữ "v" (là chữ viết tắt của chữ Versus, tiếng Latin
có nghĩa là "kiện", "chống lại" nhưng trong vụ dân sư lại dùng chữ "và" 38. Các vụ

33

Trích tư Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law approaches to precedent in Vietnam” của
TS. Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH Wollongong, Úc.
34

Bài viết “ Nghiên cứu so sánh nguồn luật án lệ trong hệ thống pháp luật nước Anh” của Nguyễn Văn Nam, Đặc điểm
về nguồn luật án lệ, Tr.7.
35

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr.106.

36

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr.105.

37

Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, David Rene, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2003.
38

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr. 106.



Nhóm đưa ra một ví dụ về một án lệ: Sharif v Azad [1967] 1QB 605 (CA). Án lệ này
đuợc hiểu là vụ án mang tên Sharif kiện Azad, quyết định đưa ra và xuất bản vào năm
1967, tập 1. (CA) được trích dẫn ở cuối là bản án của tòa phúc thẩm (Court of appoal)
sau khi xem xét kháng cáo đối với bản án được kháng cáo tư tòa cấp dưới – Tòa nữ
hoàng (QB) trưc thuộc tòa cấp cao và vụ việc được bắt đầu tư trang 605 có chữ CA.
Trường hợp [1967] thay bằng (1967) sẽ có nghĩa khác, trường hợp (1967) có nghĩa là
năm xảy ra vụ án.
4.2 Thẩm quyền ghi án lệ:
Ở nước Anh, tư đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX. Việc ghi chép các vụ án do các
cá nhân thưc hiện mà không hề được cơ quan đã xét xư vụ án kiểm tra lại trước khi
công bố. Hơn nữa chất lượng của việc ghi chép này hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng
và trình độ của tưng người ghi chép. Do vậy một số vụ án đã không được áp dụng vì
thiếu tính khoa học của chúng40.
Để giải quyết vấn đề này năm 1965, nước Anh đã thành lập hội đồng ghi chép án lệ có
tên là Incorporated Council of Law Reporting (Ủy ban xuất bản báo cáo pháp luật) với
mục đích ghi lại một cách trung thưc tình tiết của vụ án và quan điểm của thẩm phán
cùng với quyết định của Tòa (đặc biệt là các quyết định của tòa án cấp cao)41.
Về nguyên tắc, sau khi ghi chép những án lệ này phải được tòa án nơi ra phán quyết
kiểm tra lại trước khi xuất bản. Trên thưc tế hầu hết những vụ án quan trọng, điển hình
đặc biệt là những vụ án do các tòa cấp cao xét xư sẽ được ghi lại một cách chi tiết. Sau
đó những người có thẩm quyền theo luật định sẽ quyết định những vụ án nào sẽ được
lưu lại để làm cơ sở cho việc xét xư sau này. Và hiện nay tất cả các nước theo
hệ thống Thông luật đều lập ra một cơ quan chuyên trách ghi chép án lệ.
Như vậy khi một vụ án được cơ quan có thẩm quyền ghi chép lại vào những văn bản
(Law Report) một cách hợp pháp (hay nó đã được hệ thống hóa) thì nó đã trở thành
39

/>
40

Morris Cools, Laying Down The Law, fourth Edition, Butter Worth, năm 1996, trang 49.

43

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr. 106.

44

Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer, Tr. 106.

45

Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại, David Rene, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí
Minh, năm 2003
46

/>
Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 12


4.4 Trích dẫn và đọc án lệ
Án lệ này có tên là: Moorgate Mercantili v Twitchings [1976].1.QB, 225, CA.
Có thể hiểu đây là một vụ án lệ nói về vụ án Moorgate Mercantili kiện Twitchings,
quyết định đưa ra và xuất bản vào năm 1976, tập 1; bản án này được đưa ra bởi Tòa
Phúc thẩm sau khi xem xét bản án bị kháng cáo được tuyên tư Tòa Nữ hoàng (là tòa
cấp dưới). Vụ việc này được bắt đầu tư trang 225.
Cụ thể hơn là: Moorgate Mercantili là tên nguyên đơn; Twitchings là bị đơn; Chữ "v"
là viết tắt của tư "Versus" có nghĩa là "kiện", "chống lại"; [1976] là năm ra phán

2. Luật sư tư vấn (solicitors):
2.1. Điều kiện công nhận luật sư:
Ở Anh, để trở thành luật sư không nhất thiết phải có bằng cư nhân luật.51
Việc đào tạo luật sư ở Anh không chú trọng tính bài bản mà thiên về thưc tiễn,
các luật sư Anh được đào tạo chủ yếu về thủ tục tố tụng và thu thập, xác minh
chứng cứ bởi theo pháp luật Anh, về nguyên tắc, việc thưc hiện quá trình tố
tụng là trách nhiệm của các bên (thông qua luật sư của mình), vai trò của thẩm
phán trong xét xư chỉ là đảm bảo sư tuân thủ các thủ tục tố tụng.
Người muốn được công nhận là luật sư tư vấn phải có đủ các điều kiện sau đây:
(i) Hoàn thành một trong các chương trình đào tạo dưới đây:
- Các khoá học về hành nghề luật để được cấp chứng chỉ luật (exempting law
degree); hoặc
- Chương trình đào tạo tại các trường đại học để cấp bằng cư nhân luật; hoặc

50

/>
51

Đào tạo luật sư một số nước trên thế giới– TS. Lê Thu Hà – TS. Ngô Hoàng Oanh – TS. Phạm Trí Hùng, nguồn
/>
Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 14


- Thi đỗ kỳ kiểm tra nghề nghiệp (Common Professional Examination) nếu
người đó có bằng cư nhân chuyên ngành khác hoặc đã có thời gian công tác pháp luật;
hoặc
- Khoá học do Hiệp hội luật sư tổ chức;

- Làm thuê cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức thương mại.
Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 15


Hiện nay, có khoảng 9.800 hãng luật của luật sư tư vấn được thành lập ở Anh
và xứ Wales.
2.4. Tổ chức nghề nghiệp của luật sư
Hiệp hội luật sư là tổ chức nghề nghiệp của các luật sư tư vấn. Tính đến năm
1995, ở nước Anh có khoảng gần 80.000 luật sư tư vấn hành nghề là thành viên của
Hiệp hội luật sư.
Hiệp hội luật sư Anh được thành lập theo Điều lệ Hoàng gia (Royal Charter)
vào năm 1845. Hiệp hội luật sư chịu trách nhiệm trước Toà án Tối cao về hoạt động
hành nghề của luật sư tư vấn. Hiệp hội luật sư có thẩm quyền ban hành các quy tắc
đạo đức nghề nghiệp, quy tắc ứng xư, các quy định về giáo dục, đào tạo và các tiêu
chuẩn của luật sư tư vấn, bất kể họ hành nghề ở trong hay ngoài nuớc Anh. Hiện nay,
Hiệp hội luật sư có trụ sở chính ở London và các văn phòng khu vưc (regional offices)
tại Preston, Cambridge, Bristol, Cardiff, Wakefield và một văn phòng Brussels.
Nhiệm vụ chính của Văn phòng Brussels là thưc hiện hoạt động hợp tác quốc tế.
*Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội luật sư
Hiệp hội luật sư Anh bao gồm một Hội đồng thường trưc đứng đầu là Tổng thư
ký (Secretary Genneral), Văn phòng giám sát luật sư (Office of the Supervision of
Solicitors – OSS) và Hội đồng kỷ luật (Solicitors’ Disciplinary Tribunal).
Hội đồng thường trưc của Hiệp hội luật sư gồm có 75 luật sư tư vấn được lưa
chọn bằng hình thức bầu cư. Việc bầu cư phải đảm bảo sao cho mỗi khu vưc đều có
luật sư ở trong Hội đồng thường trưc để bảo đảm quyền, lợi ích cho các luật sư ở khu
vưc đó. Các uỷ viên của Hội đồng thường trưc có nhiệm kỳ là 4 năm và Chủ tịch Hội
đồng được lưa chọn hàng năm. Trong số 75 luật sư đó, 14 luật sư hàng đầu được lưa
chọn để quản lý công việc của Hội đồng. Hội đồng thường trưc họp mỗi năm 8 lần ở

- Loại vụ việc, kiến thức được sư dụng và trách nhiệm có liên quan;
- Thời gian thưc hiện công việc;
- Số văn bản được sư dụng và chuẩn bị;
- Giá trị tiền hoặc tài sản có liên quan;
- Mức độ quan trọng của vấn đề đối với khách hàng…
2.6. Quản lý việc hành nghề của luật sư
Nghề luật sư nước Anh được phân chia thành 2 lĩnh vưc: tranh tụng và tư vấn.
Do đó, chế độ quản lý về tổ chức và hành nghề của các luật sư có những đặc điểm
riêng biệt. Hiệp hội luật sư (Law society) có chức năng quản lý hoạt động hành nghề
của các luật sư tư vấn. Hội Luật sư (Law Society) được thành lập tư thế kỷ 18 là tổ
chức tập hợp các luật sư tư vấn. Hội đã ban hành Bộ luật ứng xư (Code of Conduct)
bao gồm các quy tắc điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp của các luật sư tư vấn. Để trở
thành luật sư tư vấn chỉ cần học 9 tháng tại Trường luật của Hội Luật sư (với các môn
học gắn với thưc tế như lập hợp đồng bất động sản, luật thuế, luật thưa kế, luật thương
mại, luật công ty…), thi đỗ kỳ thi chuyên môn do Hội Luật sư tổ chức và trải qua hai
năm tập sư ở một trong những văn phòng luật sư tư vấn với tư cách nhân viên (article
clek).52

3. Luật sư bào chữa (barrister)
3.1. Điều kiện công nhận
Nghề luật sư bào chữa khó và phải cạnh tranh hơn rất nhiều so với luật sư tư vấn.
Do đó, chỉ những sinh viên thưc sư có năng lưc cao mới nên lưa chọn con đường này.
Để trở thành luật sư ở Anh và xứ Wales, chẳng có tiêu chuẩn nào đòi hỏi khi học ở
trường trung học phổ thông. Do đó, người ta khuyên rằng nếu có kế hoạch trở thành
luật sư, người học nên chọn học những môn thiên về viết lách, nghiên cứu và suy nghĩ
logic53. Người học cũng nên đạt được kết quả xuất sắc trong học tập, nhưng yêu cầu
cụ thể phụ thuộc vào tưng trường. một vài trường còn yêu cầu người học luật sư phải
52

Đào tạo luật sư một số nước trên thế giới– TS. Lê Thu Hà – TS. Ngô Hoàng Oanh – TS. Phạm Trí Hùng, nguồn

(Lincoln’s Inn, Middle Temple, Gray’s Inn, or Inner Temple). Sau đó, người học phải
trải qua một năm tập sư trong các phòng luật sư bào chữa hoặc các tổ chức khác được
phê duyệt bởi hội đồng tiêu chuẩn của Đoàn luật sư (The Bar Standard Board) như là
một tổ chức đào tạo tập sư. Sau khi hoàn thành thời gian tập sư thì sẽ được cấp giấy
chứng nhận hành nghề luật sư bào chữa (full practising cirtificate) 57. Sau đó, họ có thể
tham gia vào làm việc ở văn phòng thẩm phán với tư cách là một luật sư bào chữa
trưởng thành và độc lập58.
3.2. Chức năng và quyền của luật sư bào chữa
Luật sư bào chữa có chức năng chính là xuất hiện trước tòa để bảo vệ cho thân chủ.
Họ còn có nghĩa vụ phải tập trung và không được lơ là khi thưc hiện nhiệm vụ 59. Hơn
nữa, họ phải tuân theo “nguyên tắc bến xe taxi” (“cab rank” rule) tức là luật sư bào
chữa có nghĩa vụ chấp nhận bất cứ vụ việc nào đưa đến cho họ, và chỉ được tư chối
một số vụ án hình sư trong những hoàn cảnh giới hạn, ví dụ như giới hạn về kiến thức
chuyên môn trong lĩnh vưc đó.
53

How to Qualify as a Lawyer in England and Wales, International Bar Association.

54

Solicitor or Barristers, Queen Mary University of England.

55

Bản dịch Luật So Sánh. Michael Bogdan. Xuất bản lần 1, năm 1994, tr.104.

56

Solicitor or Barristers, Queen Mary University of England.


Luật sư bào chữa đóng vai trò là người bào chữa cho khách hàng của mình trước thẩm
phán. Họ không tiếp xúc nhiều với khách hàng như luật sư tư vấn. Luật sư tư vấn sẽ
cung cấp thông tin chi tiết về vụ việc cho họ và rồi họ phải bỏ thời gian khá nhiều để
nghiên cứu bằng chứng và chuẩn bị cho những gì họ sẽ nói trong phiên tòa. Họ có
kiến thức chuyên môn về luật và vì vậy thường được mời để đưa ra những lời khuyên
cho pháp luật62. Luật sư bào chữa ở Anh có thể hành nghề dưới 2 hình thức:
Hành nghề với tư cách là người hành nghề độc lập: theo thống kê thì có tới 80% luật
sư bào chữa hành nghề độc lập. Họ có văn phòng luật sư gọi là “chambers” 63. Thông
thường, anh ta thuê chung cơ sở vật chất với các luật sư tư vấn khác nhưng về góc độ
pháp luật họ hoàn toàn độc lập64.
Những luật sư bào chữa hành nghề độc lập nhưng có sư thỏa thuận với các văn phòng
luật sư là sẽ đóng góp chi phí quản lý hành chính cho văn phòng luật sư là sẽ đóng
góp chi phí quản lý hành chính cho văn phòng luật sư mà họ làm việc cho, tương tư
như luật sư bào chữa hành nghề với tư cách là thành viên của văn phòng luật sư đó.
Văn phòng luật sư bào chữa thường chuyên về một lĩnh vưc pháp luật nhất định 65.
Hành nghề với tư cách là người làm thuê: 20% số luật sư còn lại làm thuê trong lĩnh
vưc công nghiệp, kinh doanh thương mại, hoặc làm việc cho chính quyền trung ương
hoặc địa phương. Chính công việc làm thuê của các luật sư tranh tụng cũng vô cùng
đa dạng. Đa số luật sư tranh tụng làm thuê trong những văn phòng pháp lý chuyên
môn, hoặc làm cố vấn cho những tổ chức họ làm việc cho, làm việc cho các công ty
luật66.

60

Bản dịch Luật So Sánh. Michael Bogdan, 1994, tr. 103-104.

61

Bản dịch Luật So Sánh. Michael Bogdan, 1994, tr. 103-104.


quan đến nghề luật sư trong cả nước67. Một luật sư được “gọi ra tòa” là “called to the
bar” tức là được bổ nhiệm. Mỗi luật sư bào chữa phải là thành viên của một trong bốn
câu lạc bộ luật sư bào chữa Inns of court (Lincoln’s Inn, Inter Temple, Middle Temple
và Gray’s Inn). Một trong những điều kiện để trở thành thành viên là anh ta phải tham
dư một số lượng nhất định các bữa ăn tối. Bên cạnh các lữ quán (Inns of Course), luật
sư bào chữa còn có hội đồng chung của hiệp hội (hội đồng hiệp hội) có chức năng
giáo dục và quản lý kỷ luật và một số vấn đề khác.
Nếu như luật sư tư vấn chịu sư quản lý của Hội luật sư (Law Society) thì luật sư bào
chữa bị quản lý bởi các lữ quán (Inns of Course) 68. Hiện nay có khoảng 9000 luật sư
tranh tụng thuộc 4 Inns of court là đang hành nghề ở Anh và xứ Wales. Muốn trở
thành thành viên của Đoàn luật sư, các luật sư tranh tụng phải là thành viên của một
trong 4 Inns of Court. Đoàn luật sư cũng thành lập các Ban nghiên cứu về tưng lĩnh
vưc như xây dưng, thương mại, công ty, hình sư, lao động, môi trường, gia đình,
bồi thường thiệt hại, tài sản, thuế… với nhiệm vụ làm tư vấn cho các luật sư 69.
3.5. Thù lao của luật sư bào chữa
Luật sư bào chữa thường được trả lương cao hơn luật sư tư vấn do tính chất công việc.
Khi luật sư bào chữa bắt đầu làm việc cho một công ty, lương sẽ được trả theo tháng.
Vì tiền lương không nhiều nên rất nhiều luật sư bào chữa bỏ nghề và làm công việc
khác. Tuy nhiên, tiền lương sẽ tăng dần khi luật sư có nhiều kinh nghiệm, và họ được
trả lương rất cao theo vụ việc do chính khách hàng của họ trả 70.
Luật sư bào chữa không đàm phán về giá cả với khách hàng, nhưng thư ký của anh ta
người barrister’s clerk làm việc này. Do đó, năng lưc đàm phán của thư ký của luật sư
bào chữa là vô cùng quan trọng vì anh ta phải cân bằng giữa việc đòi chi phí quá thấp
(làm giảm thu nhập) và việc đòi chi phí quá cao (làm mất khách hàng) 71. Thù lao của
luật sư thường được tính theo các căn cứ như sau72:
- Mức độ phức tạp, khó khăn của vụ việc;
- Loại vụ việc, kiến thức được sư dụng và trách nhiệm có liên quan;
- Thời gian thưc hiện công việc;
- Số văn bản được sư dụng và chuẩn bị;
- Giá trị tiền hoặc tài sản có liên quan;

Nếu như hiệp hội luật sư có chức năng quản lý hoạt động hành nghề của các luật sư
tư vấn thì các luật sư tranh tụng chịu sư kiểm soát của các Inns of Court.
Nghề luật sư ở Anh được coi là nghề tư do, các luật sư hành nghề độc lập theo quy
định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, nghề luật sư là một
nghề dưa trên sư hiểu biết pháp luật và áp dụng pháp luật, mà chức năng cơ bản là
phụng sư công lý và mục đích cao cả của hoạt động tư pháp. Do đó, Toà án với tư
cách là cơ quan thưc thi quyền lưc tư pháp của Nhà nước cũng có vai trò không nhỏ
trong cơ chế quản lý luật sư, đặc biệt là đối với các luật sư tranh tụng. Sau khi được
cấp giấy chứng nhận tư cách luật sư, các luật sư (cả luật sư tư vấn lẫn luật sư tranh
tụng) đều phải ghi tên vào danh sách luật sư do Toà án tối cao quản lý. Đối với các
luật sư tranh tụng, những người có chức năng bảo vệ quyền và lợi ích khách hàng
trước Toà án, thì để được phép hành nghề, họ còn phải thưc hiện tuyên thệ tại Toà án,
nơi họ hành nghề.
Như vậy, việc quản lý nghề luật sư (bao gồm cả luật sư tư vấn và luật sư bào
chữa) không hoàn toàn giao phó cho các tổ chức nghề nghiệp, mà trong một phạm vi
nhất định, cũng có sư can thiệp của quyền lưc nhà nước. Đó là quyền hành pháp hay
quyền tư pháp là phụ thuộc vào phương thức tổ chức quyền lưc của tưng Nhà nước
cụ thể73.

Tài liệu tham khảo:
1. Giáo trình Luật So Sánh – ĐH Luật Hà Nội 2009.
2. “Khái niệm và những nguyên tắc tiền lệ pháp – Hình thức pháp luật đặc thù
trong hệ thống pháp luật Anh – My” – Tạp chí khoa học pháp lý số 5/2006,
ThS. Phan Nhật Thanh – ĐH Luật Tp. HCM.
3. Trích tư Luận Văn Tiến Sĩ “Evaluation of the applicability of common law
approaches to precedent in Vietnam” của TS. Đỗ Thị Mai Hạnh, ĐH
Wollongong, Úc.
4. Luận văn Thạc sỹ “Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt nam hiện nay”
Đỗ Thanh Trung, ĐH Luật TP.HCM.
5. Giáo trình Luật So Sánh – Michael Bogdan, NXB Kluwer.

21. Brightknowledge website < />22. Dư Thảo Online website
23. International Bar Association website
< />ndWales.aspx>
24. Peterjepson website < />%20Byrant-Steeds.htm>
26. Queen Mary University of England website
< />26. The Bar Council website
Tìm hiểu án lệ và nghề luật sư của hệ thống pháp luật Anh

Trang 22


< />27. The Bar Standard Board Hanbook, 1st Edition – January 2014
CÂU HỎI NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI:
Câu 1: Khi đề cập án lệ với tính cách là một nguồn luật người ta sư dụng thuật ngữ
“precedent”?
Trả lời: SAI.
Người ta phải dùng thuật ngữ: Case Law. Việc định nghĩa này có định nghĩa Black’s
Law Dictionary: “là tập hợp các vụ việc đã được xét xư của cơ quan tư pháp trong quá
trình xét xư”
Câu 2: Nguyên tắc “stare decisis” có nghĩa là hai vụ việc với các tình tiết chính tương
tư như nhau sẽ được xét xư như nhau?
Trả lời: ĐÚNG.
“stare decisis” có nghĩa theo tiếng Anh là: “let the decision stand”, nghĩa là tuân thủ
các phán quyết trước đây và không phá vỡ những quy phạm pháp luật đã thiết lập
trong án lệ.
Câu 3: Nội dung của bản án có liên quan đến vấn đề pháp luật?
Trả lời: ĐÚNG
liên quan đến hai vấn đề chính: một là câu hỏi liên quan đến sư kiện thưc tế trong vụ
án (question of fact) và hai là câu hỏi liên quan đến vấn đề pháp luật giải quyết cho vụ
việc (question of law)

(iii) Hoàn thành 2 năm đào tạo tại một hãng luật;
(iv) Hoàn thành khoá học kỹ năng nghề nghiệp. Mục đích của khoá học này là
đảm bảo cho người được đào tạo có được kỹ năng trong 5 lĩnh vưc: kế toán, kinh
doanh đầu tư, quản lý nhân sư, đạo đức nghề nghiệp và biện hộ).
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG:
Trong Bộ luật Hình sư đã sưa đổi theo hướng bổ sung hành vi sư dụng điện thoại khi
lái xe sẽ bị phạt tối đa 10.000 đôla và bị phạt tù không quá ba tháng. Ngoài ra nguời
phạm tội còn có thể bị treo hoặc hủy bằng lái. Nhiều nguời sau đó đã bị tòa án xư
phạt. Nhưng rồi có một tài xế bị tội này đã phản đối vì cho rằng mình chỉ nghe điện
thoại trong lúc xe đang dưng vì kẹt xe không di chuyển được. Lý luận là vậy nhưng
ông ta vẫn bị tòa kết án. Sau khi kháng cáo, tòa tối cao của bang đã lập luận: “Ý nghĩa
của tư đang lái xe là việc mô tả hành vi điều khiển phương tiện theo hướng chuyển
động tiến lên hoặc lùi lại. Vì thế, nếu phương tiện đứng yên thì tài xế không bị coi là
đang lái xe…”. Cuối cùng, tòa bác phán quyết trên, tuyên nguời đàn ông không bị tội.
Bản án này trở thành án lệ để giải quyết cho hon 100 trường hợp tương tư mà các tòa
cấp dưới đang chuẩn bị xư.
Ðược một thời gian thì tháng 7-2003, Tòa án liên bang đã công bố một phán quyết
hoàn toàn nguợc lại. Theo đó, tòa này lập luận: “Không vì một thời điểm nào đó xe
đứng yên mà kết luận người ngồi trên xe không lái xe. Khi đang nói chuyện điện
thoại, nguời đó không thể kiểm soát đuợc tình hình. Nếu các xe khác tiến lên thì xe
của anh ta cũng phải tiến nhưng lúc này anh ta đang nghe điện thoại nên có thể đưa ra
hành động sai lầm, dễ gây tai nạn. Chẳng hạn vì mải nghe điện nên tài xế vào số mạnh
quá khiến xe đâm vọt lên, tông vào xe phía truớc, gây tai nạn. Do đó phải hiểu khái
niệm đang lái xe với nghĩa rộng như vậy thì mới đảm bảo được mục đích của luật”.
Tư đó, bản án này lại trở thành án lệ và phủ quyết án lệ trước đó.
Ít lâu sau, một tài xế bị cảnh sát bắt vì lái xe bằng một tay còn tay kia thì đang bấm
điện thoại nhắn tin. Hỏi tài xế này có bị phạt hay không? Vì sao?
Trả lời
Tại tòa, ông này không nhận tội vì cho rằng mình không có hành vi nghe điện thoại
như luật quy định. Thẩm phán thấy lập luận này có lý nên tuyên ông ta vô tội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status