ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
TÊN ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
HUẾ, 06/2016
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
KHÓA 37
TÊN ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ.
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Th.S NGUYỄN SƠN HÀ
quy định rất rõ ràng về vấn đề này nhưng thực tế áp dụng thì số lượng hàng hóa
được bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Việt Nam vẫn còn chưa nhiều, đặc biệt là vấn
đề bảo hộ chỉ dẫn điạ lý cho hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài vẫn đang là một
thách thức rất lớn. Điển hình rõ nét nhất, đó là sự việc “Cà phê Buôn Ma
Thuột” bị đăng ký và dùng tại thị trường Trung Quốc vào năm 2011 - một bài
học rất đắt về các chỉ dẫn địa lý của Việt Nam bị đánh cắp ở nước ngoài.
Vì thế, trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam cần quan tâm
sâu sắc tới vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói chung và bảo hộ chỉ
dẫn địa lý nói riêng cả về mặt pháp lý lẫn thực thi quyền nhằm đảm bảo và
tăng cường tính cạnh tranh của hàng hóa dịch vụ. Đó cũng là lý do tác giả
chọn đề tài “ Pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thực tiễn áp dụng tại Việt
Nam” làm đề tài niên luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.1.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng ta hiểu rõ hơn những quy định
của pháp luật liên quan đến chỉ dẫn địa lý như: thế nào là chỉ dẫn địa lý, điều
5
kiện để được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, cơ chế bảo hộ và trình tự thủ tục xác lập
quyền đối với chỉ dẫn địa lý… theo quy đinh của pháp luật Việt Nam và điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, qua đó tìm ra những khó khăn, vướng
mắc trong quá trình thực hiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý tại Việt Nam.
Cũng thông qua việc nghiên cứu chỉ dẫn địa lý, đề tài này nhằm tìm ra
giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả bảo hộ chỉ dẫn địa lý, tránh tình
trạng vi phạm các quy định pháp luật về bảo hộ chỉ dẫn địa lý.
2.2.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
1.1.
Khái quát chung về chỉ dẫn địa lý
1.1.1. Khái niệm về chỉ dẫn địa lý
Chỉ dẫn địa lý là một đối tượng sở hữu cụ thể, đặc biệt. Hiện nay, pháp
luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới và pháp luật quốc tế đều có quy
định về Bảo hộ chỉ dẫn địa lý. Điều này dẫn đến có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về Chỉ dẫn địa lý:
Theo quy định của Hiệp định TRIPS tại Điều 22-1 thì: “Chỉ dẫn địa lý
là những chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc
từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc
tính nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”. Chính nhờ những chỉ
dẫn về hàng hóa này mà người tiêu dùng có thể nhận biết và lựa chọn các sản
phẩm phù hợp với thị hiếu của mình và điều này đồng nghĩa với việc mang lại
lợi nhuận cho nhà sản xuất.
Mới đây nhất, khi Việt Nam tham gia vào Hiệp định đối tác thương mại
xuyên Thái Bình Dương (TPP), thì theo nội dung của Hiệp định này, chỉ dẫn
địa lý được định nghĩa như sau: “Chỉ dẫn địa lý là một dấu hiệu để nhận biết
một mặt hàng có xuất xứ tại lãnh thổ của một bên, hoặc một vùng hoặc địa
phương trong lãnh thổ đó, mà chất lượng, danh tiếng hoặc các đặc tính khác
của mặt hàng đó chủ yếu do xuất xứ địa lý tạo nên.” (Điều 18.1, Mục A, Hiệp
định TPP).
Còn theo quy định của pháp luật Việt Nam tại Khoản 22 - Điều 4 Luật
sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) thì “Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu
dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ
hay quốc gia cụ thể”. Khái niệm này cho thấy nó có những điểm chưa thật sự
đồng nhất so với định nghĩa về chỉ dẫn địa lý của Hiệp định TRIPS khi chưa
hóa mang yếu tố con người do kỹ năng hoặc truyền thống sản xuất của một
vùng. Ví dụ như khi trên hàng hóa có ghi Thụy Sỹ, người mua hàng biết được
rằng hàng hóa được sản xuất ở Thụy Sỹ, nhưng họ thường nghĩ tới Thụy Sỹ
như một đất nước của đồng hồ hơn là các hàng hóa khác.
8
1.1.3. Ý nghĩa của bảo hộ chỉ dẫn địa lý
Từ việc phân tích khái niệm và đặc điểm nêu trên, thì Bảo hộ chỉ dẫn địa
lý mang một ý nghĩa hết sức quan trọng:
Thứ nhất, nó tạo ra tính ổn định, khuyến khích phát triển các sản phẩm
có tính chất đặc trưng, khôi phục và bảo tồn đa dạng hóa sinh học, đồng thời
nâng cao thu nhập cho người nông dân.
Thứ hai, chống lại sự lạm dụng thương mại trên thị trường . Bởi lẽ bảo
hộ chỉ dẫn địa lý sẽ trao cho bạn quyền được ngăn cấm những người không có
thẩm quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, hoặc đối với những sản phẩm không có
nguồn gốc từ khu vực địa lý đã nêu, hoặc loại trừ những mặt hàng thuộc cùng
một khu vực địa lý nhưng sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu về chất
lượng. Mặt khác, bảo hộ chỉ dẫn địa lý để chúng không trở thành một tên gọi
chung, làm mất đi tính phân biệt với các hàng hóa thông thường khác.
Thứ ba, thông tin rõ ràng cho người tiêu dùng về sản phẩm, từ đó có thể
cung cấp sản phẩm thật đến người tiêu dùng, chống hàng giả;
Thứ tư, là giá trị kinh tế mà nó có thể mang lại. Một điều mà bất kỳ ai
cũng không thể phủ nhận đó là những sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý thì
thường được biết đến như những thương hiệu nổi tiếng và giá trị kinh tế mà
nó mang lại bao giờ cũng cao hơn những sản phẩm cùng loại thông thường.
Chẳng hạn như gà Gresse đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý của Pháp được bán
với giá đắt gấp 5 lần so với những con gà bình thường nhưng lượng khách
hàng tìm đến với nó thì không ngừng tăng lên. Do đó, bảo hộ chỉ dẫn địa lý
cũng đồng nghĩa với việc lợi nhuận bạn thu được sẽ nhiều hơn trước.
Tên gọi xuất xứ hàng hoá (Appllations of orgin) thuật ngữ này cũng
xuất hiện lần đâu tiên trong công ước Paris nhưng mãi đến hiệp định Lisbon
được kí kết thì khái niệm tên gọi xuất xứ hàng hoá mới được chuẩn hoá. Có
thể thấy rằng, Công ước Paris 1883 cũng như Thoả ước Madrid 1891 đều
không nhắc tới thuật ngữ chỉ dẫn địa lý mà chỉ nhắc tới hai thuật ngữ chỉ dẫn
nguồn gốc (Indication of Source) và tên gọi xuất xứ (Apellations of Origin).
Tuy nhiên cả Công ước và Thoả ước kể trên không đưa ra được khái niệm về
hai thuật ngữ này mà chỉ nhắc tới chúng với tư cách là đối tượng sở hữu công
nghiệp được bảo hộ. Đến năm 1958, Thoả ước Lisbon về bảo hộ và đăng ký
quốc tế tên gọi xuất xứ của hàng hoá ra đời đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm
về tên gọi xuất xứ hàng hoá.
10
Ở Việt Nam tên gọi xuất xứ hàng hoá lần đầu tiên được xác định theo
pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1989) và sau đó được đưa vào
Điều 786 Bộ luật dân sự 1995. “Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của
nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của hàng hoá từ nước, địa phương đó
với điều kiện mặt hàng này có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều
kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết
hợp cả hai yếu tố đó.”
Theo Bộ luật dân sự năm 1995 thì tên gọi xuất xứ hàng hoá cần có 4 điều
kiện:
Thứ nhất, là tên gọi xuất xứ hàng hoá phải là tên chính thức và đang
được sử dụng tại một quốc gia, một địa phương xác định trên bản đồ địa lý.
Ví dụ: Năm 2000 INAC( trung tâm bảo hộ rượu vang của Pháp) yêu cầu Việt
Nam bảo hộ hai sản phẩm rượu vang Champagne và Cognac. Nhà nước Việt
Nam chỉ bảo hộ cho sản phẩm rượu vang Cognac vì Champagne là một địa
danh cổ nay không còn một địa phương nào mang tên này Champagne.
Thứ hai, hàng hoá mang tên gọi xuất xứ phải có xuất xứ từ nước, địa
quan tới việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn rằng hàng hoá nói trên có
nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất
lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có
được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.
2. Nếu chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hoá thì việc bảo hộ được
thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tên gọi xuất xứ hàng
hoá.”
Như vậy tên gọi xuất xứ hàng hoá chỉ dùng ở Việt Nam từ khi có pháp
lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1989) đến khi Luật sở hữu trí tụê có
hiệu lực.
Trong khoảng thời gian này, từ khi Nghị định 54/2000/CP-NĐ được ban
hành và có hiệu lực, khái niệm chỉ dẫn địa lý cũng được sử dụng. Theo đó, chỉ
dẫn địa lý có thể là tên gọi xuất xứ hàng hoá mà cũng có thể không, và theo
quy định của bộ luật dân sự năm 1995 thì tên gọi xuất xứ muốn được bảo hộ
thì phải đăng ký, còn theo Nghị định 54/2000/CP-NĐ chỉ dẫn địa lý không
cần phải đăng ký.
13
Có thể thấy trong giai đoạn này các quy định của pháp luật không thống
nhất gây nên sự khó phân biệt hai thuật ngữ chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ
hàng hoá . Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã bỏ thuật ngữ tên gọi xuất xứ hàng
hoá thống nhất chỉ sử dụng thuật ngữ chỉ dẫn địa lý: “Chỉ dẫn địa lý là dấu
hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh
thổ hay quốc gia cụ thể”. Khái niệm này tiếp tục được kế thừa trong Luật sở
hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009). Mặc dù có những điểm chưa thật sự
đồng nhất so với định nghĩa về chỉ dẫn địa lý của Hiệp định TRIPS khi chưa
nêu được tính có chất lượng và uy tín của sản phẩm gắn chỉ dẫn địa lý trên thị
trường. Tuy nhiên kết hợp giữa khái niệm về chỉ dẫn địa lý được nêu tại
Khoản 22 - Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) với các
của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý là do điều kiện địa lý quyết định, điều này
được quy định tại Điều 81 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009):
“1. Danh tiếng của sản phẩm được xác định bằng mức độ tín nhiệm của
người tiêu dùng đối với sản phẩm thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng
biết đến và lựa chọn sản phẩm.
2. Đặc tính của sản phẩm được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu
định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hóa học, vi sinh và các chỉ
tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc
chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp.”
•
Thứ ba, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý phải có tính chất, chất lượng đặc thù và
chúng do điều kiện địa lý quyết định. Tính chất, chất lượng của sản phẩm
mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng các chỉ tiêu cảm quan, định tính, định
lượng về vật lý, hóa học, sinh học, có khả năng kiểm tra được bằng phương
tiện kỹ thuật hoặc bằng chuyên gia theo một phương pháp thử xác định.Ví dụ,
người tiêu dùng biết đến nước mắm Phú Quốc với các đặc trưng như: Có màu
cánh dán đậm, trong tinh khiết, có mùi thơm nhẹ, không có mùi tanh và
ammoniac do được sản xuất từ cá tươi, có mùi mặn ngọt, kèm theo vị béo tự
•
nhiên…
Thứ tư, phải có mối quan hệ hữu cơ giữa tính chất, chất lượng và danh tiếng
của sản phẩm với điều kiện địa lý. Trong đó, điều kiện tạo nên tính chất, chất
lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý bao gồm các yếu
tố tự nhiên độc đáo như khí tượng, thủy văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và
các điều kiện tự nhiên khác; và các yếu tố về con người như kỹ năng, kỹ xảo
của người sản xuất bao gồm các quy trình sản xuất truyền thống của địa
2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) và các văn bản hướng dẫn thi hành, quyền sở
hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở có quyết định
của Cục Sở hữu trí tuệ thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn
địa lý cho tổ chức quản lý chỉ dẫn địa lý.
1.3.2.2.
Trình tự, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp
đối với chỉ dẫn địa lý
•
Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý và cách thức nộp đơn xác lập quyền:
Theo quy định tại Điều 88 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung
2009) thì quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về nhà nước. Nhà
nước cho phép tổ chức, cá nhân tổ chức sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa
lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức cá nhân đó hoặc cơ quan quản ký
hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền chỉ dẫn địa lý
•
Thủ tục đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý:
-
Nộp đơn và các tài liệu liên quan:
17
Đơn đăng ký có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện tới trụ sở Cục
các công đoạn, từ sản xuất nguyên liệu, chế biến nguyên liệu đến tạo ra sản
phẩm và có thể gồm cả công đoạn đóng gói sản phẩm, nếu công đoạn đó có
ảnh hưởng đến tính chất/chất lượng, danh tiếng của sản phẩm), nếu quy trình
đó là nhân tố tạo ra và duy trì tính chất/chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý, trong đó có các thông tin rõ ràng và chi tiết đến
mức có thể kiểm tra được (nếu trong các thông tin nêu trên có các thông tinbí
mật, bí quyết kỹ thuật chưa được bộc lộ hoặc chưa được biết đến một cách
3 (Xem mẫu 05-CDĐL quy định tại Phụ lục A của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN đã được sửa đổi, bổ
sung theo Thông tư số 12/2010/TT-BKHCN và thông tư số 18/2011/TT-BKHCN)
19
rộng rãi bên ngoài địa phương thì người nộp đơn có quyền từ chối cung cấp
các thông tin chi tiết về bí mật, bí quyết đó nếu không được cam kết bảo mật
cácthông tin đó theo yêu cầu của mình);
Bốn là, mối quan hệ hữu cơ giữa tính chất/chất lượng đặc thù, danh tiếng
của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý với điều kiện địa lý.
+ Bản đồ khu vực địa lý tươngứng với chỉ dẫn địa lý (02 bản);
Bản đồ khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý phải thể hiện đầy đủ
thông tin tới mức có thể xác định chính xác vùng địa lý hội đủ các điều kiện
tự nhiên tạo nên tính chất/ chất lượng đặc thù, danh tiếng của sản phẩm. Bản
đồ có thể được nộp kèm theo tài liệu mô tả về khu vực địa lý tương ứng với
chỉ dẫn địa lý.
+ Chứng từ nộp phí, lệ phí4.
-Thẩm định hình thức, công bố đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý:
Việc thẩm định hình thức đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý được tiến hành theo
trình tự tại Điểm 13 của Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN.
Thẩm định hình thức đơn là việc kiểm tra việc tuân thủ các quy định về
hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay
cho người nộp đơn thực hiện các công việc đó. Đối tượng nêu trong đơn được
chấp nhận đăng ký và được ghi vào sổ đăng ký quốc gia về chỉ dẫn địa lý nếu
đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 79 của Luật sở hữu trí tuệ
2005 (sửa đổi, bổ sung 2009) và không thuộc các trường hợp quy định tại
Điều 80 của Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009), cụ thể là phải
chứng minh được đầy đủ ba điều kiện sau:
Một là, tồn tại một vùng địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý nêu trong đơn;
Hai là, sản phẩm đó có nguồn gốc từ vùng địa lý nói trên;
Ba là, sản phấm đó có tính chất, chất lượng đặc thù và/hoặc danh tiếng
quyết định bởi điều kiện địa lý của vùng địa lý nói trên theo quy định tại Điều
82 của Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009).
21
Như vậy, nếu chủ thể nộp đơn không chứng minh được các điều kiện cần
thiết nói trên hoặc không tuân thủ các quy định khác do pháp luật quy định thì
cơ quan chức năng sẽ gửi thông báo chấm dứt thẩm định nội dung trước thời
hạn và ra thông báo từ chối cấp giấy chứng nhận đăng ký, chỉ dẫn địa lý. Nếu
đối tượng nêu trong đơn đáp ứng điều kiện bảo hộ hoặc người nộp đơn đã sửa
chữa thiếu sót đạt yêu cầu hoặc có ý kiến giải trình xác đáng trong thời hạn do
pháp luật quy định thì Cục sở hữu trí tuệ ra thông báo dự định cấp văn bằng
bảo hộ, lệ phí công bố quyết định cấp văn bằng bảo hộ, lệ phí đăng bạ5.
- Cấp văn bằng bảo hộ, đăng bạ và công bố quyết định cấp văn bằng
bảo hộ chỉ dẫn địa lý:
Việc này được tiến hành theo trình tự tại Điểm 18.1 và Điểm 19 của
Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày chủ thể nộp đơn nộp đầy đủ và đúng
hạn các khoản phí và lệ phí, Cục sở hữu trí tuệ tiến hành thủ tục cấp văn bằng
bảo hộ là Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý và vào Sổ đăng ký quốc gia
về sở hữu công nghiệp. Sau khi được cấp văn bằng bảo hộ, nếu chủ văn bằng
Thông báo nộp phí cấp bằng.
hiệu.
Thông báo từ chối cấp GCNĐK nhãn
CẤP BẰNG ĐĂNG BẠ
VÀ CÔNG BỐ
Gia hạn hiệu lực.
1.4.
Quy định của pháp luật quốc tế về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
1.4.1. Quy định của pháp luật quốc tế về bảo hộ Chỉ dẫn địa lý
*Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, năm 1883
Đây được coi là công ước đa phương đầu tiên đưa “các chỉ dẫn nguồn
gốc hoặc các tên gọi xuất xứ” vào như các đối tượng bảo hộ của pháp luật sở
hữu công nghiệp.
Điều 10 của công ước quy định như sau:
23
“Chỉ dẫn sai lệch: Thu giữ khi nhập khẩu hàng hoá có chỉ dẫn sai lệch
về nguồn gốc hoặc về người sản xuất
(1) Các quy định của Điều trên đây cũng được áp dụng trong trường
hợp sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc của
hàng hoá hoặc về nhà sản xuất, nhà công nghiệp, hoặc thương gia.
(2) Bất kỳ nhà sản xuất, nhà công nghiệp, hoặc thương gia nào, dù là
cá nhân hay pháp nhân, mà tham dự vào việc sản xuất, chế tạo hoặc buôn
-
quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
Định nghĩa và phạm vi:
Điều 22 định nghĩa về chỉ dẫn địa lý như sau: “Chỉ dẫn địa lý là những
chỉ dẫn về hàng hoá bắt nguồn từ lãnh thổ của một Thành viên hoặc từ khu
vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính
nhất định chủ yếu do xuất xứ địa lý quyết định”.
Định nghĩa này mở rộng khái niệm về tên gọi xuất xứ của Thỏa ước
Lisbon nhằm bảo hộ những hàng hóa chỉ có danh tiếng bắt nguồn từ nơi xuất
xứ mà không có chất lượng hoặc các đặc tính khác có do nơi đó mang lại.
Ngoài ra, theo Hiệp định TRIPS, một chỉ dẫn địa lý được bảo hộ phải là một
chỉ dẫn nhưng không nhất thiết là tên một địa danh trên thế giới. Ví dụ,
“Basmati” được sử dụng như một chỉ dẫn cho gạo đến từ tiểu lục địa Ấn Độ
mặc dù không có tên địa danh như vậy. Chỉ dẫn địa lý phải xác định hàng hóa
có nguồn gốc từ lãnh thổ của thành viên, một vùng hoặc một địa điểm của
lãnh thổ đó. Định nghĩa này cũng chỉ ra rằng hàng hóa được bảo hộ phải bắt
nguồn từ lãnh thổ, vùng hoặc khu vực có liên quan. Điều này ngụ ý rằng các
hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng các Chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ
-
theo Hiệp định TRIPS.
Điều kiện để được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý theo quy định của Hiệp định
Theo quy định của Hiệp định TRIPS để được coi là chỉ dẫn địa lý cần có
ba điều kiện sau:
Thứ nhất là các chỉ dẫn này có thể là dấu hiệu bất kì (từ ngữ, hình ảnh)
miễn là qua đó có thể chỉ ra được hàng hoá mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
bắt nguồn từ lãnh thổ của quốc gia nào hoặc thuộc khu vực địa phương nào
của lãnh thổ quốc gia đó. Tuy nhiên dấu hiệu trên hàng hoá phải liên quan đến