ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
----- -----
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN XÃ HỒNG
LỘC, HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CƠ
GIỚI HÓA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
NGUYỄN THỊ LAM
Huế 05/2016
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
----- -----
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG NÔNG THÔN XÃ HỒNG
LỘC, HUYỆN LỘC HÀ, TỈNH HÀ TĨNH DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CƠ
GIỚI HÓA TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn:
Hồng Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp số liệu cần
thiết.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
khoá luận tốt nghiệp này.
Do hạn chế về thời gian cũng như khả năng của bản
thân nên khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong sự thông cảm và đóng góp ý kiến của thầy, cô và
các bạn sinh viên để khoá luận này được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Huế, tháng 5 năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Lam
SVTH: Nguyễn Thị Lam
3
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Việc làm và thu nhập của lao động nông thôn luôn là vấn đề được quan tâm trong từng
giai đoạn phát triển của đất nước. Rất nhiều chủ trương, chính sách đã và đang dần
được thực hiện để tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, trong đó có
việc thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.
Hồng Lộc là một trong những xã đi đầu trong công tác thực hiện cơ giới hóa trong sản
xuất nông nghiệp của toàn huyện. Dưới tác động của cơ giới hóa, thu nhập của người
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- CGH: Cơ giới hóa
-
UBND: Ủy ban nhân dân
-
NN&PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
-
SXKD: Sản xuất kinh doanh
-
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
-
CN-TTCN-XD: Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp – xây dựng
-
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
SVTH: Nguyễn Thị Lam
7
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
ĐƠN VỊ QUY ĐỔI
1 sào = 500 m2
1ha = 20 sào
SVTH: Nguyễn Thị Lam
8
Khóa luận tốt nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Lam
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
9
với bản thân người lao động nông thôn. Khi máy móc làm thay cho con người nhiều
việc, tình trạng nông nhàn tăng, lao động nông thôn dễ lao vào các tệ nạn xã hội. Thêm
nữa, ở nước ta đất đai còn manh mún, đất sản xuất nhiều nơi còn là dạng ruộng bậc
SVTH: Nguyễn Thị Lam
10
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
thang, gồ ghề, không bằng phẳng, giao thông nội đồng còn nhỏ hẹp, bê tông hóa chưa
đồng bộ… Mặt khác, việc cơ giới hóa còn yếu và thiếu đồng bộ, còn tùy thuộc rất lớn
vào trình độ và nguồn vốn của nông hộ. Cơ sở sản xuất công nghiệp phục vụ nông
nghiệp còn yếu, trong khi máy móc nhập từ nước ngoài thường không phù hợp trong
sản xuất, hoặc quá cồng kềnh hoặc quá đắt tiền so với qui mô sản xuất với khả năng
của người nông dân trong vùng. Lực lượng lao động qua đào tạo nghề ở nông thôn còn
thấp… cũng là một trong những trở ngại trong việc ứng dụng cơ giới hóa trong sản
xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn. Vì vậy việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất
còn hạn chế, năng suất lao động thấp, chi phí đầu tư cao, các dịch vụ cơ khí đi theo
hoạt động này kém phát triển, đời sống của bà con nông dân ở nông thôn còn nhiều
khó khăn.
Hồng Lộc là một trong những xã đi đầu trong công tác thực hiện việc cơ giới hóa
nông nghiệp nông thôn của huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Cho đến nay, công tác cơ
giới hóa đã được thực hiện ở các khâu: làm đất, thu hoạch, vận chuyển. Nhờ vậy, lao
động dôi thừa cũng như thời gian nông nhàn có thể chuyển sang làm ngành nghề - dịch
vụ hoặc đi xuất khẩu lao động nhằm nâng cao thu nhập cho người dân phát triển kinh
tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, bộ mặt nông
động của cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp.
Đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập của lao động nông thôn xã Hồng Lộc dưới
-
tác động của cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp giai đoạn (2012 – 2014)
Đề xuất giải pháp nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn xã
Hồng Lộc cho giai đoạn (2017 – 2020).
3. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự thay đổi việc làm, nâng cao thu nhập của hoạt động trồng
lúa là chính có gắn với các hoạt động sản xuất chung của hộ tại thời điểm trước CGH
(2006) và sau CGH (2015)
4. Phạm vi nghiên cứu
•
•
-
Phạm vi thời gian
Số liệu thứ cấp:
Các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hồng Lộc từ năm 2012
– 2014.
Số liệu sơ cấp: điều tra năm 2015
Phạm vi không gian: xã Hồng Lộc, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
5. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp thu thập thông tin
-
Phương pháp thống kê mô tả
Được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ
nghiên cứu thực trạng cơ giới hóa của xã Hồng Lộc qua việc thu thập số liệu, tóm tắt,
trình bày, tính toán các đặc trưng khác nhau để phản ánh một cách tổng quát về việc
làm và thu nhập của lao động nông thôn.
SVTH: Nguyễn Thị Lam
13
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ
LAO ĐỘNG NÔNG THÔN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CƠ GIỚI HÓA
NÔNG NGHIỆP
1.1. Lý luận về việc làm và thu nhập của lao động nông thôn
1.1.1. Một số khái niệm
-
Khái niệm về nông thôn
Cho đến nay, có thể nói chưa có định nghĩa chuẩn xác và được chấp nhận một
cách rộng rãi về nông thôn.
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
Việc làm là một hình thức hoạt động kinh tế - xã hội. Hoạt động đó không đơn
thuần là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nó còn bao gồm cả những
yếu tố xã hội. Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển, phải tạo ra được
sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng lao động với tư liệu sản xuất, trong một môi
trường kinh tế - xã hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra.
Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những nơi làm việc cụ thể mà ở
đó lao động diễn ra, là điều kiện cần thiết nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội về lao động,
là hoạt động của lao động con người. Dưới góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương
quan giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất hay giữa sức lao động và tư liệu sản
xuất trong quá trình sản xuất vật chất.
Theo bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 thì việc làm được định nghĩa như sau:
“Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được
thừa nhận là việc làm”.
Trên thực tế, việc làm nêu trên được thể hiện dưới ba hình thức. Thứ nhất đó là
làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó; thứ hai,
làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở
hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó; thứ ba, làm các
công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền
lương, tiền công cho công việc đó, bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế
phi nông nghiệp cho chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử
dụng, sở hữu hoặc quản lý.
Theo quan điểm của Max, “việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa
sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử
dụng sức lao động đó.”
Tùy theo các mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta phân chia việc làm
thành nhiều loại. Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc ta có việc làm chính và việc
SVTH: Nguyễn Thị Lam
điểm như sau: thứ nhất là thu nhập của lao động nông thôn là rất thấp và có khoảng
cách khá xa so với thành thị. Sự chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị là do
cơ hội việc làm ở thành thị là lớn hơn, năng suất lao động và hiệu quả công việc cao
hơn. Và đây cũng là lý do chính hình thành nên luồng di dân từ nông thôn ra thành thị
với mức độ ngày càng tăng. Thứ hai đó là thu nhập của lao động nông thôn không ổn
định và phụ thuộc lớn vào điều kiện tự nhiên. Nông nghiệp nước ta cơ bản vẫn là nền
nông nghiệp sản xuất nhỏ, trình độ canh tác cũng như cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc
SVTH: Nguyễn Thị Lam
16
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
hậu, quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn chưa đạt hiệu quả cao.
Trong những năm qua, bị tác động lớn bởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu nên các hiện
tượng thiên tai, lũ lụt, hạn hán diễn ra phức tạp và ngày càng nghiêm trọng hơn, tình
hình sâu bệnh cũng nhiều.
-
Đặc điểm về thu nhập của lao động nông thôn
Thu nhập bấp bênh, không ổn định qua các tháng (đặc điểm này được quyết định bởi
-
đặc điểm “sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao”).
Thu nhập được tạo ra từ nhiều ngành nghề khác nhau, không riêng về một ngành nghề
-
đoạn này là mới sử dụng các chiếc máy lẻ tẻ.
Cơ giới hóa tổng hợp là sử dụng liên tiếp các hệ thống máy móc vào tất cả các giai
đoạn của quá trình sản xuất. Đặc trưng của giai đoạn này là sự ra đời hệ thống máy
SVTH: Nguyễn Thị Lam
17
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
trong nông nghiệp, đó là những tổng thể máy bổ sung lẫn nhau và hoàn thành liên tiếp
-
tất cả các quá trình lao động sản xuất sản phẩm ở địa phương, từng vùng.
Tự động hóa là giai đoạn cao của cơ giới hóa, sử dụng hệ thống máy với phương tiện
tự động để hoàn thành liên tiếp tất cả các quá trình sản xuất từ lúc chuẩn bị đến lúc kết
thúc cho sản phẩm. Đặc trưng của giai đoạn này là một phần lao động chân tay với lao
động trí óc, con người giữ vai trò giám sát, điều chỉnh quá trình sản xuất nông nghiệp.
Cơ giới hóa trong sản xuất lúa: Sản xuất lúa là một lĩnh vực trong sản xuất nông
nghiệp, việc áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất lúa chính là việc đưa các máy móc,
tiến bộ kỹ thuật vào trong các khâu làm đất, tưới tiêu, gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch
và sau thu hoạch. Trong đó, các khâu làm đất, gieo cấy và thu hoạch chiếm nhiều công
sức lao động hơn so với các khâu còn lại. Như vậy, cơ giới hóa trong sản xuất lúa là
quá trình sử dụng máy móc vào trong sản xuất lúa nhằm thay thế một phần hoặc toàn
kết quả đầu ra mang tính chất thời vụ.
Phạm vi hoat động của máy móc rộng lớn, phức tạp bởi vì hoạt động sản xuất
tiến hành ngoài trời trên phạm vi rộng lớn. Dẫn đến tuyệt đại bộ phận máy móc, công
cụ hoạt động dễ hoen gỉ và nhanh hư hỏng.
Do vậy, để việc sử dụng máy móc thực sự hiệu quả cần lưu ý đến một số vấn đề
kinh tế sau:
+ Thứ nhất, mọi tác động của quá trình cơ giới hóa trong nông nghiệp cần phải
phù hợp với quy luật sinh học của các loại cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, chúng ta cần
qua tác dụng cơ giới hóa để hướng quá trình sinh học theo mục đích, hiệu quả nhằm
giảm đi tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp.
+ Thứ hai, về số lượng và chủng loại khi trang bị phải phù hợp với điều kiện tự
nhiên, lịch sử xã hội của từng ngành, từng vùng trong nền nông nghiệp hàng hóa, đặc
biệt chú ý tới cơ khí nhỏ khi điều kiện sản xuất nông nghiệp nước ta còn manh mún,
phân tán.
+ Thứ ba, về mặt sản xuất và trang bị phải đảm bảo đồng bộ cả hệ thống máy, cả
tập đoàn công cụ hoặc kết hợp giữa hệ thống máy móc với tập đoàn công cụ, tăng
thêm máy vạn năng và công cụ có công suất lớn, tốc độ nhanh trong điều kiện cho
phép. Phải đảm bảo quy cách thống nhất và đầy đủ phụ tùng, chú ý các loại máy móc
bền, nhẹ rẻ, hiệu quả khi mà điều kiện về vốn của ta chưa có.
+ Thứ tư, về việc sử dụng phải lựa chọn và quy hoạch địa bàn sử dụng tổng hợp
các loại máy móc và công cụ, kết hợp chặt chẽ máy móc với công cụ cải tiến, cơ giới
hóa với biện pháp kỹ thuật nông nghiệp, tăng cường quản lý và bảo quản máy móc.
+ Thứ năm, đi đôi với quá trình cơ giới hóa cần đẩy mạnh quá trình phân công
lao động trong công nghiệp và phát triển nông thôn một cách tổng hợp. Việc cơ giới
SVTH: Nguyễn Thị Lam
19
Khóa luận tốt nghiệp
Cơ giới hóa nông nghiệp làm giảm lao động nặng nhọc, giảm số lượng lao động, tăng
thời gian nông nhàn. Từ đó, người lao động có thêm thời gian tham gia vào các hoạt
động tạo thu nhập khác, góp phần cải thiện cuộc sống.
1.2.4. Tác động của cơ giới hóa nông nghiệp đối với việc làm và thu
nhập của lao động nông thôn
Những năm qua, cùng với sự tăng trưởng của sản xuất nông nghiệp, nhiều loại
máy móc thiết bị cũng đã được đưa vào sử dụng trong sản xuất nông nghiệp. Nhiều
khâu trong sản xuất nông nghiệp hiện nay đã được cơ giới hóa, điều này đã có tác
động lớn đến tình hình sản xuất cũng như việc làm và thu nhập của người nông dân.
Có thể nói, cơ giới hóa đóng vai trò quyết định trong sản xuất nông nghiệp như giảm
SVTH: Nguyễn Thị Lam
20
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
lao động thủ công, góp phần giải quyết khâu lao động nặng nhọc, tính thời vụ, giảm
tổn thất sau thu hoạch, làm tăng năng suất, chất lượng. Bên cạnh đó, việc áp dụng cơ
giới hóa vào sản xuất nông nghiệp còn giúp cho nông dân giảm chi phí đầu vào, tăng
chất lượng sản phẩm, góp phần tăng lợi nhuận khoảng 30% so với không áp dụng cơ
giới hóa. Sản xuất nông nghiệp trong điều kiện thời tiết khí hậu khắc nghiệt như hiện
nay và tình trạng thiếu lao động cao do di dân ra thành phố việc cơ giới hóa trong nông
nghiệp sẽ giải quyết được tình trạng thiếu lao động nông nghiệp chuyển sang hoạt
động phi nông nghiệp, đảm bảo được lịch thời vụ gieo trồng.. Không những vậy, sử
dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp làm giảm thời gian, ngày công làm việc, tăng thời
gian nông nhàn. Người dân có thêm nhiều thời gian để tham gia vào các hoạt động
tất cả thời gian người lao động (hộ) sử dụng để tiến hành sản xuất, chăm sóc, thu
hoạch. Công lao động bình quân 1ha diện tích gieo trồng được tính theo công thức sau:
Công lao động bình quân 1ha = Công lao động làm đất + Công lao động gieo
trồng, chăm sóc + Công lao động thu hoạch
b. Tỷ suất sử dụng sức lao động
Tỷ suất sử dụng thời gian làm việc của lao động trong năm là tỷ số giữa số ngày
lao động bình quân của một lao động đã sử dụng vào sản xuất so với số ngày người lao
động có thể làm việc được trong năm (tính bình quân cho một lao động nông thôn )
Tỷ suất sử dụng thời gian lao động được tính theo công thức sau:
Tq = Nlv/Tng x 100
Trong đó:
Tq : tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm (%)
Nlv: số ngày lao động bình quân của một lao động trong năm (ngày)
Tng: số ngày làm việc có thể huy động trong năm của một lao động nông thôn
(ngày). Trong luận văn chúng tôi lấy bình quân 24 công/tháng.
Quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm là số ngày trung bình
một lao động có thể sử dụng trong năm vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và các
ngành nghề dịch vụ khác.
Tỷ suất sử dụng thời gian lao động trong năm nói lên mức độ sử dụng thời gian
lao động theo ngày và từ đó chúng ta có thể thấy được tỷ lệ quỹ thời gian chưa sử
dụng hết cần phải huy động trong năm.
c. Số lao động được giải phóng ra khỏi hoạt động nông nghiệp
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi thu nhập
a. Tổng thu của hộ.
SVTH: Nguyễn Thị Lam
22
- Tiền lương, tiền công từ các hoạt động kinh tế ngoài sản xuất nông nghiệp.
- Thưởng và các khoản khác.
- Các khoản trợ cấp.
SVTH: Nguyễn Thị Lam
23
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS Phùng Thị Hồng Hà
* Các khoản thu khác được tính vào thu nhập của hộ
- Giá trị hiện vật của người ngoài gửi về, biếu mừng.
- Lương hưu, trợ cấp mất sức.
c. Thu nhập bình quân 1 ha đất gieo trồng.
Thu nhập bình quân cho 1ha đất gieo trồng là các khoản thu từ kết quả sản xuất
trên đơn vị diện tích 1ha trừ đi chi phí để sản xuất trên diện tích đó. Thu nhập bình
quân 1ha đất gieo trồng được tính như sau:
Thu nhập bình quân 1ha đất gieo trồng = Thu nhập từ các sản phẩm chính làm ra
trên 1ha + Thu nhập từ các sản phẩm phụ làm ra trên 1ha – Chi phí bỏ ra để tiến hành
sản xuất
Chi phí sản xuất = Chi phí vật chất + chi phí dịch vụ + các khoản chi khác + các
khoản đã nộp.
Để đảm bảo tính chất có thể so sánh của các chỉ tiêu thu nhập, chúng tôi tiến hành
điều tra các chỉ tiêu hiện vật, sau đó dùng giá tại thời điểm nghiên cứu để tính toán.
1.4. Cơ sở thực tiễn về việc làm và thu nhập của lao động nông thôn dưới
tác động của cơ giới hóa nông nghiệp
1.4.1. Tình hình việc làm và thu nhập của lao động nông thôn trong
Năm
2014
Quý
II
năm
2015
59,24
58,34
58,13
Công nghiệp và xây dựng
19,83
20,22
20,04
Dịch vụ
20,93
21,43