KINH NGHIỆM DẠY HỌC TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG KHI DẠY HỌC MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ CỦA CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC LỚP 11 CƠ BẢN - Pdf 36

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
I.1. Lý do chọn đề tài
Môn Hóa học trước hết là một môn thuộc nhóm khoa học tự nhiên, điều đó nói
lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, thái độ khoa học
cho học sinh đối với các hiện tượng khoa học, tự nhiên,…
Môn Hóa học là một môn khoa học, những kiến thức của bộ môn nhiều khi rất
trừu tượng, khó hiểu, cứng nhắc, cần khả năng tư duy, khả năng liên hệ kiến thức của
chính nó và với các môn học khác, khả năng liên hệ thực tế tốt từ học sinh, điều này
đã làm cho nhiều em học sinh sợ và không muốn học Hóa học hoặc một số em học
sinh có tư duy tốt, thuộc bài nhưng khả năng vận dụng để giải thích các hiện tượng,
các bài tập thực tế chưa cao.
Do việc phân bố thời gian không hợp lý trong một tiết học theo phân phối
chương trình hiện tại, nhiều giáo viên chỉ cung cấp hết kiến thức cơ bản theo yêu cầu
của chuẩn kiến thức kỹ năng mà không chủ động xây dựng theo chủ đề, chuyên đề cụ
thể phù hợp hơn với điều kiện của từng lớp, từng trường để có thời gian, phân bố hoạt
động hợp lí hơn nhằm lồng ghép, tích hợp các môn học khác hoặc giải thích được các
hiện tượng, bài tập trong thực tế nên tiết học trở nên nhàm chán, thiếu tính ứng dụng
của một môn khoa học.
Việc lồng ghép giải thích các hiện tượng thực tế vào bài học giáo viên phải hết
sức khéo léo. Có thể dẫn dắt tạo tình huống ngay khi bắt đầu vào bài mới, hoặc có thể
tích hợp các kiến thức liên môn để giải thích, tích hợp vấn đề môi trường, giáo dục ý
thức, trách nhiệm bảo vệ môi trường, đưa các tình huống giả định bằng các hiện tượng
và bài tập thực tiễn, thiết lập liên hệ giữa nội dung học với nội dung thực tiễn.
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Hóa học nói chung và môn
Hóa học lớp 11 nói riêng, đồng thời, để phát huy cao hơn nữa hiệu quả giảng dạy theo
tinh thần đổi mới thì dạy học theo chủ đề, tích hợp là vấn đề cần được quan tâm nhất
hiện nay.
Bởi dạy học theo chủ đề, chuyên đề và tích hợp là một xu thế phổ biến trong
dạy học hiện đại. Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu
quả nhận thức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời phương diện kiến
thức, đồng thời phát triển tư duy biện chứng, logic, hệ thống, khoa học và vận dụng

(Năm học 2015–2016).
I.6. Lịch sử của đề tài
Vấn đề dạy học tích hợp trong môn Hóa học đã có nhiều đề tài nghiên cứu. Nhưng
bản thân tôi, chưa tìm thấy tài liệu có liên quan đến việc dạy học tích hợp được lồng
ghép vào dạy trong các chuyên đề của Hóa học lớp 11, cụ thể: Chuyên đề Nito và hợp


chất của Nito, Chuyên đề Cacbon và hợp chất của Cacbon, Chuyên đề Đại cương về
Hóa hữu cơ.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
II.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
II.1.2. Môn Hóa học
Môn hoá học trong trường THPT giữ một vai trò quan trọng trong việc hình thành và
phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho học sinh hiểu đúng
đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế giới, con
người thông qua các bài học, giờ thực hành,...
Học hoá để hiểu, giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên
tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng phản ứng hoá học,...
Hóa học là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ
trong đời sống của con người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch
làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người,...
II.1.3. Dạy học theo chủ đề, chuyên đề
Dạy học chủ đề là hình thức tìm tòi những khái niệm, tư tưởng, đơn vị kiến thức, nội
dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên cơ sở các mối
liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các nội dung của các môn học
khác nhau hoặc các phần của môn học đó làm thành nội dung học trong một chủ đề có
ý nghĩa cao hơn, thực tế hơn, phù hợp hơn, nhờ đó học sinh có thể tự hoạt động nhiều
hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn.
Dạy học theo chủ đề là một mô hình mới cho hoạt động lớp học thay thế cho lớp học
truyền thống bằng việc chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan

Dạy học liên môn là cho người học nhận thức được sự thống nhất, thấy được mối liên
hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được tính toàn diện của các hiện
tượng, khắc phục được tính tản mạn trong kiến thức.
Vậy tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề và tích hợp trong tiến trình
đổi mới giáo dục hiện nay?
Hiện nay, có ba lý do quan trọng cần lưu tâm và đặt chúng ta phải nghĩ đến một giải
pháp làm thế nào để đáp ứng và giải quyết được ba vần đề này, chính là: Một là,
trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục – trong đó chú trọng đổi mới
phương pháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực của học
sinh.


Hai là, tính giới hạn về định lượng nội dung trong sách giao khoa và quá trình bùng
nổ thông tin, tri thức kèm theo đó là nhu cầu cập nhật kiến thức vô hạn đối với sự học
của người học.
Ba là, với cách tiếp cận giảng dạy truyền thống hiện có, liệu chúng ta đủ khả năng để
thực hiện các mục tiêu dạy học tích cực như: tăng cương tích hợp các vấn đề cuộc
sống, thời sự vào bài giảng; tăng cường sự vận dụng kiến thức của học sinh sau quá
trình học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn; rèn luyện các kĩ năng sống phong phú
vốn rất cần cho người học hiện nay.
Thực tế trên cho thấy, khi giải quyết một vấn đề trong thực tiễn, bao gồm cả tự nhiên
và xã hội, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức tổng hợp hoặc liên quan đến
nhiều môn học. Vì vậy, dạy học cần phải tăng cường theo hướng tích hợp đa chiều,
liên môn. Do đó, hệ quả là buộc chúng ta phải xây dựng các chủ đề để tiến hành dạy
học. Tất nhiên, việc xây dựng các chủ đề trong dạy học cũng không tham vọng sẽ
giải quyết việc đưa toàn bộ thực tiễn vào chương trình, nhưng quan trọng hơn hết
chính là nó mở đường cho giáo viên và học sinh tiếp cận với kiến thức theo một
hướng khác. Không phải là sự thụ động mà là chủ động của học sinh. Không phải là
sự tiếp nhận kiến thức sau khi học mà có thể là ngay khi làm nhiệm vụ học.
Ngoài ra, một thực tế khác cũng đáng quan tâm: hiện nay, ít nhiều trong chương trình

mặt nhằm hỗ trợ nhau, bổ sung làm nổi bật cho nhau. Phần này sẽ củng cố, hệ thống
hóa lại kiến thức cho phần khác và đều hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao
trình độ nhận thức nói chung và kiến thức của môn học nói riêng cho học sinh.
Hình thức tích hợp được các giáo viên vận dụng và hiện đang được đẩy mạnh là
tích hợp liên môn. Đây là quan điểm tích hợp mở rộng kiến thức trong từng bài học,
trong từng chủ đề với các kiến thức của các bộ môn khác, các ngành khoa học, nghệ
thuật khác, cũng như các kiến thức đời sống mà học sinh tích lũy được từ cuộc sống
cộng đồng, qua đó làm giàu thêm vốn hiểu biết và phát triển nhân cách cho học sinh.
II.3. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Thực tế cho thấy, áp dụng hình thức tích hợp kiến thức liên môn trong khi dạy
học theo chuyên đề, học sinh rất hào hứng với nội dung bài học, vốn kiến thức tổng
hợp của học sinh được bổ sung nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả. Mặt khác, các
kiến thức liên môn thông qua hình thức tích hợp này còn giúp học sinh có thêm căn
cứ, cơ sở để củng cố kiến thức đã học.
Tích hợp kiến thức liên môn trong khi dạy học theo chuyên đề sẽ giúp cho học sinh
tìm hiểu, hệ thống kiến thức một cách khoa học, logic hơn, tạo hứng thú, khơi dậy
niềm đam mê cho môn học nói riêng và nghiên cứu khoa học nói chung; học sinh hiểu
được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học hoá học.


II.3.1. Để thực hiện được điều này, tôi đã:
* Xây dựng chuyên đề dạy học
Thay cho việc dạy học đang được thực hiện theo từng bài/tiết trong sách giáo khoa
như hiện nay, tôi đã căn cứ vào chương trình và sách giáo khoa hiện hành, lựa chọn
nội dung để xây dựng các chuyên đề dạy học phù hợp với việc sử dụng phương pháp
dạy học tích cực trong điều kiện thực tế của lớp, của nhà trường.
Trên cơ sở rà soát chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình hiện hành và
các hoạt động học dự kiến sẽ tổ chức cho học sinh theo phương pháp dạy học tích
cực, tôi đã xác định các năng lực và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong
mỗi chuyên đề đã xây dựng.

- Tiết 1: Tính chất hóa học và ứng dụng của N2, NH3
- Tiết 2: Tính chất hóa học và ứng dụng của HNO3
- Tiết 3: Tính chất hóa học và ứng dụng của muối amoni, muối nitrat * Luyện tập (2
tiết)
- Tiết 1: Các dạng bài tập của N2, NH3, muối amoni
- Tiết 2: Các dạng bài tập của HNO3, muối nitrat
2. Tổ chức dạy học chuyên đề
- Theo phân phối chương trình: Tiết 11: Nito; Tiết 12, 13: Amoniac và muối amoni;
Tiết 14, 15: Axit nitric và muối nitrat; Tiết 19: Luyện tập. 3. Mục tiêu tích hợp
a. Môn Vật lí
- Biết được trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan của N 2, NH3, HNO3, NO, NO2, muối
amoni, muối nitrat.
- Củng cố cách pha loãng dung dịch axit.
- Quan sát thí nghiệm, hình ảnh..., rút ra được nhận xét về tính chất vật lí và hóa học
của nito và các hợp chất của nito;
- Cũng cố cách pha loãng dung dịch axit;
- Phân biệt được muối amoni, muối nitrat với một số muối khác. b. Môn Sinh học
- Biết được hoạt tính sinh học của N 2, NH3, HNO3, muối amoni, muối nitrat đối với con
người và động thực vật. c. Toán
- Tính thể tích khí ở đktc trong phản ứng hoá học, tính % thể tích trong hỗn hợp khí,
tính thể tích khí amoniac sản xuất được ở đktc theo hiệu suất.phản ứng - Tính % về
khối lượng của muối amoni trong hỗn hợp.
- Tính thành phần % khối lượng của hỗn hợp kim loại tác dụng với HNO3.
- Tính thành phần % khối lượng muối nitrat trong hỗn hợp; nồng độ hoặc thể tích dung
dịch muối nitrat tham gia hoặc tạo thành trong phản ứng .


d. Sinh học: Biết tác hại của dung dịch axit để cẩn thận hơn khi tiếp xúc;
e. Văn học: Vận dụng kiến thức để phân tích, giải thích một số câu ca dao, tục ngữ theo
quan điểm của môn Hóa học, như:

Môn Sinh học: Tính độc hại của một số Oxit của Nito đối với môi trường, với sức
khỏe con người;
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS; + Giải
thích được hiện tượng thực tế:
- Vì sao trong không khí, vẫn tồn tại khí O2, mặc dù N2 chiếm gấp 4 lần khí O2 và N2 có
thể phản ứng được với O2?
- Nitơ phản ứng với nhiều kim loại nhưng tại sao trong vỏ Trái Đất không gặp một
nitrua kim loại nào cả?
* Trong phần tìm hiểu tính chất hóa học, ứng dụng của N2:
GV bổ sung kiến thức liên môn:
+ Môn Toán: Củng cố các kỹ năng tính toán;
+ Môn Sinh học: Hoạt tính sinh học của NH3 đối với môi trường, với con người;
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS;
+ Môn Văn: Câu ca dao, tục ngữ “Không có lửa làm sao có khói” theo quan điểm Hóa
học đúng hay sai?
+ Giải thích 1 số hiện tượng thực tế:
- Nước tiểu có mùi khai.
- Vì sao trong phòng thí nghiệm, nếu lỡ để thoát khí Cl 2 bay ra ngoài thì ta có thể dùng
khí NH3 là tốt nhất để làm sạch khí Cl2?
- Tại sao khi đi gần các sông, hồ bẩn vào ngày nắng nóng, thường ngửi thấy mùi khai?
c. Tiết 13: Tính chất hóa học và ứng dụng của HNO 3 * GV bổ sung kiến thức liên
môn:
+ Môn Vật lí: Củng cố về trạng thái, màu sắc của NO, NO2, N2;
+ Môn Sinh học: Củng cố về kiến thức tính độc hại của NO, NO 2 và axit đối với môi
trường, với sức khỏe con người;
+ Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho HS;
d. Tiết 14: Tính chất hóa học, ứng dụng của muối amoni và muối nitrat
* Trong phần tìm hiểu về tính chất hóa học và ứng dụng của muối amoni
GV vận dụng kiến thức liên môn:
+ Môn Vật lí: Củng cố trạng thái, màu sắc của muối Amoni và các chất có liên quan.

- Phân biệt được muối cacbonat với một số muối khác. b. Môn Sinh học và môi
trường


- Biết được hoạt tính của CO, CO2 đối với con người, động thực vật và môi trường.
+ Tìm hiểu hiệu ứng nhà kính;
+ Giải thích vì sao không nên đóng kín cửa khi trong nhà có nhiều cây xanh hoặc đốt
than sưởi ấm vào mùa đông?
+ Làm thế nào để biết dưới giếng có khí độc (CO) hoặc nhiều khí thiên nhiên (CH 4)
và không có khí O2 để tránh khi xuống giếng bị ngạt?
+ Vai trò của C trong mặt nạ phòng độc.
- Biết được ứng dụng của một số muối cacbonat trong dược phẩm, ẩm thực. c. Môn
Văn học
- Giải thích được câu “Nước chảy đá mòn” theo quan điểm của môn Hóa học. d. Môn
Địa lý
- Giải thích hiện tượng tạo thành thạch nhũ ở các hang động. e. Toán
- Củng cố, rèn luyện kỹ năng thực hiện các phép tính. f. GD KNS
- Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường sống xung quanh.
- Giáo dục về ý chí, tính kiên trì của con người.
- Rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, thuyết trình trước đám đông,...
g. Giải thích được một số hiện tượng thực tế khác trong cuộc sống
- Vì sao khi nấu cơm bị khê, người ta thường bỏ vào nồi cơm một ít mẫu than củi?
- Vì sao than đá chất thành đống lớn có thể tự bốc cháy?
- Thành phần chính của đá khô? Chất được sử dụng làm khói trong biểu diễn nghệ thuật
hay được dùng trong các ly rượu cưới?
4. Cụ thể trong từng tiết
a. Tiết 23: Cacbon và Cacbon oxit
* Trong phần tìm hiểu về C
GV vận dụng kiến thức liên môn
- Môn Vật lí: Củng cố kiến thức về trạng thái, màu sắc, … của C và CO

- Tiết 2: Dựa vào sản phẩm cháy
* Xác định CTCT hợp chất hữu cơ (2 tiết)
- Tiết 1: Thuyết cấu tạo hóa học
- Tiết 2: Đồng đẳng, đồng phân
* Luyện tập (1 tiết)


3.2. Tổ chức dạy học chuyên đề
- Theo PPCT: Tiết 28: Mở đầu về Hóa hữu cơ; Tiết 29, 30: Công thức phân tử hợp
chất hữu cơ; Tiết 31, 32: Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ; Tiết 33: Luyện tập.
3.3. Mục tiêu tích hợp
a) Môn Toán: Củng cố các kiến thức về Toán học nhằm vận dụng để giải các bài toán
Hóa học có liên quan.
b) Môn Lí: Củng cố các kiến thức về trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan của một chất
nhằm vận dụng để giải các bài toán Hóa học có liên quan.
c) Môn Sinh: Cung cấp cho học sinh một số kiến thức về vai trò sinh học của một số
chất có trong thực tế.
3.4. Cụ thể trong từng tiết
Tiết 28: Các khái niệm cơ bản về hóa hữu cơ và phép phân tích nguyên tố *
GV vận dụng kiến thức môn Sinh học:
- Để bổ sung về � –�������:
+ -caroten là gì?
+ Thiếu -caroten thì như thế nào?

+ Tác dụng của -caroten
+ Cần ăn bao nhiêu một ngày?

+ Bổ sung như thế nào?

+ Thực phẩm nào nhiều

SL
2

Khá
%
5,7

SL
5

TB
%
14,3

SL
24

Yếu
%
68,6

SL
4

%
11,4

II.5. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Với nội dung nghiên cứu và đưa vào áp dụng cụ thể sáng kiến kinh nghiệm
trên, bản thân rút ra được những bài học kinh nghiệm cụ thể như sau:

Phương pháp dạy học theo chủ đề và có tích hợp liên môn không phải là mới,
nhưng nếu biết vận dụng hợp lý, người giáo viên sẽ làm cho bài giảng có tính hệ
thống, xâu chuỗi, thêm sinh động, có tính hấp dẫn với học sinh.
Qua kết quả thực nghiệm của bản thân, tôi thấy việc chủ động xác định phân
phối chương trình dạy nhằm đáp ứng chuẩn kiến thức kỹ năng và vận dụng nguyên
tắc liên môn trong dạy học Hóa học theo phương pháp tích hợp đã giúp học sinh hệ
thống kiến thức một cách khoa học, kích thích hứng thú học tập trong học sinh, giúp
các em lĩnh hội bài tốt nhằm nâng cao hiệu quả của bài học.
Việc vận dụng phương pháp trên kết hợp với các hình thức dạy học tích cực
khác sẽ làm học sinh thêm yêu thích môn học, truyền cho các em lòng say mê khoa
học, thích khám phá, tìm hiểu các hiện tượng trong tự nhiên, biết cách tự nghiên cứu,
hệ thống kiến thức một cách khoa học.
Với bản thân, đề tài này tuy chưa phải là hoàn thiện, còn nhiều thiếu sót, đặc biệt là
về phần tích hợp kiến thức liên môn – thực chất đây mới chỉ là lồng ghép các môn học
khác nhau để giúp học sinh củng cố, khắc sâu hơn những kiến thức đã học. Muốn
hoàn thiện hơn nữa, cần phải có sự chỉ đạo về thay đổi chương trình, sách giáo
khoa,... và đặc biệt là sự phối hợp giữa nhiều giáo viên trong cùng chuyên môn hay
khác chuyên môn để xác định các phần mình sẽ dạy nhằm tránh sự trùng lặp giữa các
môn học, có thể gây nhàm chán đối với học sinh vì phải học đi học lại lượng kiến
thức đó.
Trên đây là kết quả nghiên cứu và thực nghiệm bước đầu của đề tài sáng kiến
kinh nghiệm: Tích hợp kiến thức liên môn trong khi dạy học một số chuyên đề
của chương trình Hóa học lớp 11 cơ bản (Cụ thể: Chuyên đề Nito và hợp chất của
Nito, Chuyên đề Cacbon và hợp chất của Cacbon, Chuyên đề Đại cương về Hóa hữu


cơ). Trong đề tài này, chắc chắn tôi chưa thấy hết được những ưu điển và tồn tại trong
tiến trình áp dụng, tôi rất mong muốn được sự góp ý của các đồng nghiệp để đề tài
ngày càng hoàn thiện hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status