LỜI CẢM ƠN
Qua bốn năm học tập và rèn luyện tại trường Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, được sự chỉ bảo và giảng dạy nhiệt tình của quý thầy cô, đặc biệt là quý thầy
cô khoa Lý luận Chính Trị - Giáo dục công dân đã truyền đạt cho em những kiến
thức về lý thuyết và thực hành trong suốt thời gian học ở trường. Trong thời gian
làm khoá luận tốt nghiệp em đã có cơ hội áp dụng những kiến thức học ở trường
vào thực tế ở mỗi tiết dạy trên lớp. Đồng thời học hỏi được nhiều kinh nghiệm thực
tế tại trường thực tập. Cùng với sự nổ lực của bản thân, em đã hoàn thành khoá
luận tốt nghiệp của mình.
Từ những kết quả đạt được này, em xin chân thành cám ơn:
Quý thầy cô trường Trường Đại học Sư phạm, đã truyền đạt cho em những
kiến thức bổ ích trong thời gian qua. Đặc biệt, là TS. Trần Thị Thu Huyền đã tận
tình hướng dẫn em hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.
Trường Trung học phổ thông Thạch Thất đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
em trong thời gian thực tập và làm khoá luận
Do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những thiếu sót trong cách
hiểu, lỗi trình bày. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và
Ban lãnh đạo, các bạn học sinh, sinh viên để khoá luận tốt nghiệp đạt được kết quả
tốt hơn.
Hà Nội, tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Thu Huyền
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
(1)
(2)
GDCD
THPT
: Giáo dục công dân
: Trung học phổ thông
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập và phát triển chung của xã hội đã tạo ra điều kiện
phát triển của cá nhân, mặt khác cũng đặt ra những thách thức và nhiệm vụ đòi hỏi
mỗi cá nhân phải trang bị cho mình không chỉ hành trang tri thức mà còn là những
kỹ năng hành động để chung sống và phát triển. Cuộc sống hiện đại đòi hỏi mỗi cá
nhân phải không ngừng cập nhật giá trị và hoàn thiện giá trị của mình. Trong đó,
kỹ năng sống đóng vai trò vô cùng quan trọng. Kỹ năng sống giúp cho con người
phát triển toàn diện, hoà đồng với các cá nhân khác trong xã hội. Đồng thời giúp
con người ứng phó linh hoạt với mọi hoàn cảnh sống khác nhau.
Việc đưa kĩ năng sống vào giáo dục bắt buộc tại các trường trung học phổ
thông hiện nay ở Việt Nam chưa được chú trọng. Các nhà giáo dục, thậm chí là
phụ huynh học sinh thường cũng ít quan tâm đến giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh, họ chỉ tập trung vào các môn được gọi là môn chính (như văn, sử, địa, toán,
lý, hóa, ngoại ngữ) – các môn phục vụ cho thi tốt nghiệp và thi đại học. Bên cạnh
đó, các môn như giáo dục công dân, thể chất, ki thuật công nghiệp, kĩ năng sống…
chưa được quan tâm thậm chí bị coi thường. Với cách hiểu sai lầm và lệch lạc như
trên, một số người đang có xu hướng biến quá trình học tập của con em mình thành
quá trình học tập theo trào lưu, theo xu hướng mà không phải học với mục đích:
học để sống, học để làm, học để vận dụng và học để thành người.
Trên thực tế, trong những năm gần đây, có rất nhiều trường hợp học sinh bị
khủng hoảng tâm lý trầm trọng, nguyên nhân là do: Nhiều gia đình chỉ quan tâm
đến việc kiếm tiền, đáp ứng nhu cầu vật chất cho con em mà lãng quên việc dạy
bảo con em những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống như: Kỹ năng ứng xử, giao
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào môn
giáo dục công dân. Điều tra nhu cầu dạy học thực tế đối với môn giáo dục kỹ năng
sống và giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường THPT Thạch Thất, Hà Nội,
6
đưa ra quy trình và phương pháp dạy học tích hợp, tiến hành thực nghiệm và đưa
ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tích hợp giáo dục kỹ năng sống
và giáo dục công dân.
2.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn
giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường THPT.
- Khảo sát thực trạng dạy học môn giáo dục kĩ năng sống và thực trạng dạy học
môn giáo dục công dân.Từ đó đưa ra quy trình và phương pháp dạy học tích cực,
tiến hành thực nghiệm và đưa ra một số kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả
dạy học tích hợp.
3.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào giáo dục công dân
cho học sinh lớp 10
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khối lớp 10 trường Trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản
Phương pháp thực nghiệm
Là một phương pháp thu thập thông tin được thực hiện bởi những quan sát
trong điều kiện gây biến đổi đối tượng khảo sát và môi trường xung quanh đối
tượng khảo sát một cách có chủ định. Phương pháp thực nghiệm được áp dụng phổ
biến không chỉ trong nghiên cứu tự nhiên, kỹ thuật, y học mà cả trong xã hội và
các lĩnh vực nghiên cứu khác
4.
Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, mục lục, danh mục tài liệu tham
khảo, phần nội dung luận văn được kết cấu gồm 2 phần lớn:
8
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào
môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trườngtrung học phổ thông Thạch
Thất, Hà Nội.
Chương 2: Khảo sát thực trạng dạy học tích hợp và tiến hành thực nghiệm dạy
học tích hợp kĩ năng sống vào môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường
trung học phổ thông Thạch Thất, Hà Nội.
9
NỘI DUNG
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về việc tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào
môn giáo dục công dân cho học sinh lớp 10 trường
hoàn thiện mình, UNCIEF phân loại kỹ năng sống theo các mối quan hệ cá nhân
với các nhóm KNS:
+ Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác, với các kỹ năng thành
phần: kỹ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp
lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả
+ Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kỹ năng: tư duy
phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề[Những kỹ năng sinh
viên cần biết – Báo Tuổi trẻ].
Những cách phân loại trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị trong
nghiên cứu phát triển lý luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối. Trên thực tế,
các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống
cụ thể, con người cần phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau. Ví dụ khi cần quyết
định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kỹ năng như: kỹ năng tự nhận
thức, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo và kỹ năng kiên định,….
Từ các khái niệm nêu trên, ta có thể rút ra nhận xét: Có nhiều cách biểu đạt
khái niệm kỹ năng sống với quan niệm rộng hẹp khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận
vấn đề. Khái niệm kỹ năng sống được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những
năng lực tâm lý xã hội (TLXH). Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng
lực TLXH mà còn bao gồm cả kỹ năng vận động.
11
Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau nhưng điểm thống nhất
trong các quan niệm về KNS là: Khẳng định KNS thuộc về phạm trù năng lực, chứ
không thuộc về phạm trù kỹ thuật của hành động, hành vi.
Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về kỹ năng sống
đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại
ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè. Tuy nhiên cần phân biệt giữa những
kỹ năng để sống còn (livelihood skills, survival skills) như học chữ, học nghề, làm
toán, bơi lội… với khái niệm kỹ năng sống đã được đề cập ở các định nghĩa nêu
Giáo dục KNS được áp dụng theo nhiều cách khác nhau và nhiều lĩnh vực
khác nhau, tuỳ từng địa phương. Ở một số nơi, KNS được hướng vào giáo dục vệ
sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh. Một số nơi khác, giáo dục KNS nhằm vào giáo
dục hành vi ứng xử, giáo dục an toàn trên đường phố, giáo dục bảo vệ môi trường,
giáo dục phòng chống HIV/AIDS hay giáo dục lòng yêu hoà bình…
Giáo dục KNS là cách giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là
xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực
trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và kỹ năng thích hợp.
Giáo dục KNS có mục đích là thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ
động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực chuyển thành những hành vi
mang tính xây dựng, tích cực và có hiệu quả để nâng cao chất lượng cuộc sống cá
nhân và góp nhần phát triển bền vững cho xã hội.
1.1.3. Vai trò của giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường THPT
13
Một là, giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh hình thành được các kĩ năng cần
thiết để tham gia tích cực vào các hoạt động học tập và cuộc sống sinh hoạt hàng
ngày của các em.
Đây là yếu tố cơ bản giúp học sinh trung học phổ thông có thể tham gia các
hoạt động phong phú, đa dạng, phức tạp của chương trình giáo dục trung học phổ
thông và thích ứng tốt với các hoạt động sinh hoạt đời thường. Bởi vì ở lứa tuổi
này, học sinh trung học phổ thông là giai đoạn đã trưởng thành về mặt thể lực,
nhưng sự phát triển cơ thể còn chưa vững chắc, các em bắt đầu thời kỳ phát triển
tương đối êm ả về mặt sinh lý. Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi
quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát
triển, cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế
bào não của người lớn, số lượng dây thần kinh liên hợp tăng lên, liên kết các phần
khác nhau của vỏ đại não, điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hoá hoạt
có những kĩ năng cần thiết để xây dựng và mở rộng các mối quan hệ với những
người xung quanh (gia đình, bạn bè, xã hội…).
1.2. Lý luận về việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn giáo dục công
dân cho học sinh THPT
1.2.1. Dạy học tích hợp – xu hướng tất yếu của thời đại
Tích hợp là một khái niệm rộng, không chỉ dùng trong lĩnh vực lí luận dạy
học. Tích hợp (Tiếng Anh, tiếng Đức: Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh:
Integration với nghĩa là xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở
những bộ phận riêng lẻ.
15
Tích hợp là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực
khoa học giáo dục (GD), khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để
chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con
người phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại
hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn
có.
Trong dạy học (DH) các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các
nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (Theo cách hiểu truyền thống
từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết
vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số,
GD môi trường, GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt
hay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống.
Tích hợp là một trong những quan điểm GD đã trở thành xu thế trong việc xác
định nội dung DH trong nhà trường phổ thông và trong xây dựng chương trình
môn học ở nhiều nước trên thế giới. Quan điểm tích hợp được xây dựng trên cơ sở
những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học.
Thực tiễn ở nhiều nước đã chứng tỏ rằng, việc thực hiện quan điểm tích hợp
+ Xây dựng môn học về giáo dục KNS đưa vào chương trình học tập cho
học sinh.
+ Lồng ghép vào các nội dung giáo dục KNS vào các môn học có ưu thế và
các hoạt động giáo dục khác.
17
+ Tích hợp giáo dục KNS vào các môn học và các hoạt động giáo dục trong
đó có hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Tôi cho rằng, cần xác định giáo dục tích hợp KNS là mục đích của giáo dục,
theo đó tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường phải hướng
đến giáo dục KNS cho học sinh. Có như vậy, giáo dục tích hợp KNS cho học sinh
mới được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục cả về thời gian và không gian.
Nhờ đó mà các mục tiêu về giáo dục KNS cho học sinh mới đạt được ở mức độ
cao. Đây cũng là lý do tôi chọn phương thức tích hợp là phương thức giáo dục
KNS cho học sinh trong trường THPT.Như vậy, theo phạm vi giới hạn của khoá
luận, vấn đề giáo dục tích hợp KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy
học tích hợp vào môn GDCD chính là thực hiện việc giáo dục KNS theo phương
thức tích hợp.
Tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn GDCD cho học sinh THPT là việc
giáo viên tổ chức các hoạt động đa dạng phong phú nhằm kích thích học sinh tham
gia một cách tích cực, chủ động vào các quá trình hoạt động và học tập môn
GDCD ở trên lớp, thông qua đó, giúp học sinh hình thành được những kĩ năng
sống cần thiết và những tri thức cơ bản của môn GDCD để các em hoàn thiện và
phát triển nhân cách toàn diện.
Giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục dạy học tích hợp vào môn
GDCD là quá trình thiết kế, vận hành đồng bộ các thành tố của hoạt động dạy học
môn GDCD và giáo dục kỹ năng sống trong một chỉnh thể để thực hiện mục tiêu
của giáo dục KNS. Về bản chất, giáo dục KNS thông qua hoạt động dạy học
GDCD là thực hiện tích hợp hoạt động giáo dục kỹ năng sống lồng ghép vào môn
với cảm xúc, v.v… Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phải thực sự là
phương pháp tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức, rèn luyện KNS cho học
sinh làm cho hoạt động dạy học GDCD nói chung và hoạt động giáo dục tích hợp
KNS cho học sinh nói riêng trở thành hoạt động cùng nhau của cả giáo viên và học
sinh trong nhà trường THPT.
-Giáo dục tích hợp KNS cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy học
môn GDCD phải đảm bảo xuất phát từ quyền và bổn phận học sinh.
Mọi phương pháp biện pháp và hình thức giáo dục KNS cho học sinh THPT
đều hướng tới thay đổi hành vi cho các em và phù hợp với khả năng tiếp nhận của
các em, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh. Vì vậy phương pháp và
hình thức tổ chức phải đa dạng và phong phú đều hướng tới người học:
+ Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, giáo viên cần phải phát huy
tích cực, tính tự chủ của học sinh trong việc sử dụng quyền và bổn phận của trẻ em
để giải quyết các nhiệm vụ của hoạt động, đồng thời giáo dục cho học sinh kỹ năng
giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng ứng phó với
xúc cảm, kỹ năng giao tiếp, v.v….
+ Gắn nội dung dạy học GDCD với thực tế cuộc sống để học sinh kiểm
nghiệm quyền và bổn phận của mình, từ đó giúp các em có nhận thức đúng, có thái
độ hành vi phù hợp để thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em, kỹ năng ra quyết
định trong cuộc sống hàng ngày.
-Phát huy thế mạnh của môn GDCD để giáo dục tích hợp KNS cho học sinh
THPT.
Hoạt động dạy học tích hợp vào môn GDCD là hoạt động được tổ chức theo
mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục THPT dưới sự hướng dẫn của giáo viên
chủ nhiệm lớp hay nhà sư phạm. Thông qua đó, tạo cơ hội cho học sinh biến quá
20
có thể tích hợp vào bài sau: Bài 10: Quan niệm về đạo đức; Bài 11: Công dân với
một số vấn đề cấp thiết của nhân loại; Bài 16: Tự hoàn thiện bản thân.
22
-
Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả:
Là khả năng tạo dựng mối quan hệ và khả năng ứng xử của con người trong
mối quan hệ với người khác đạt được kết quả cao nhất theo mục tiêu đã định. Kỹ
năng giao tiếp có hiệu quả bao hàm trong nó cả kỹ năng lắng nghe và hiểu được
người khác. Đồng thời, kỹ năng này là sự phối hợp của nhiều KNS khác như: Kỹ
năng tự nhận thức, kỹ năng thương lượng, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng chia
sẻ, kỹ năng kiềm chế.Với kỹ năng này, ta có thể tích hợp vào các bài học cụ thể
như: Bài 12:Công dân với tình yêu hôn nhân và gia đình; Bài 16: Tự hoàn thiện
-
bản thân.
Kỹ năng đương đầu với cảm xúc căng thẳng:
Là khả năng kiềm chế xúc cảm và tự giải thoát khỏi trạng thái căng thẳng.
Kỹ năng đương đầu với cảm xúc căng thẳng giúp học sinh nhận biết được một số
tình huống tạo nên căng thẳng nhận biết được những biểu hiện của sự căng thẳng
và tác động của nó đến cuộc sống.Với kỹ năng này, ta có thể tích hợp vào các bài
học cụ thể như: Bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc; Bài
-
Phương pháp đàm thoại là phương pháp mà giáo viên căn cứ vào nội dung
bài học khéo léo đặt ra câu hỏi, để học sinh căn cứ vào kiến thức đã có kết hợp với
sự hướng dẩn của giáo viên qua các thiết bị giảng dạy để làm sáng tỏ vấn đề, tìm ra
những tri thức mới ;nhằm củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức đã tiếp thu
được, từ đó tổng kết hệ thống hóa tri thức.
Để thực hiện phương pháp này giáo viên cần phải:
+ Phải làm cho học sinh ý thức được mục đích của toàn bộ hay một phần lớn
của cuộc đàm thoại. Hệ thống câu hỏi phải được lựa chọn và sắp xếp hợp lý, gắn
bó với nhau thành một thể thống nhất.
24
+ Các câu hỏi được chia thành đơn giản và phức tạp.Số lượng và tính chất
phức tạp của câu hỏi phụ thuộc vào tính phức tạp của đối tượng nghiên cứu, kiến
thức cần thiết để tiếp thu tài liệu mới, trình độ phát triển của học sinh. Sau khi giải
quyết xong một vấn đề cần tổng kết lại kết quả của việc giải quyết vấn đề nêu ra.
+ Phải đảm bảo nguyên tắc đàm thoại với cả lớp và không bị động “theo
đuôi” lớp.Muốn vậy cần đặt câu hỏi cho cả lớp suy nghĩ rồi mới chỉ định một học
sinh trả lời, không chiều theo ý muốn của học sinh đi lệch khỏi trọng tâm vấn đề.
- Phương pháp tổ chức thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp được yêu thích và sử dụng
thường xuyên trong hoạt động dạy - học tích cực. Mỗi giáo viên phải nắm vững
phương pháp, có kỹ năng trong tổ chức, điều khiển các hoạt động này.
-Phương pháp xử lý tình huống
Trong lĩnh vực giáo dục,người thầy không chỉ truyền đạt kiến thức cho học
sinh mà còn phải đối mặt với một số tình huống sư phạm nan giải.Trước những
tình huống đó mỗi người sẽ có một cách giải quyết khác nhau.
-Phương pháp tổ chức một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) nhằm định hướng, tạo điều kiện
cho học sinh quan sát, suy nghĩ và tham gia các hoạt động thực tiễn, qua đó tổ chức