ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN MỨC SẴN LÒNG TRẢ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG CHO THỰC PHẨM HỮU CƠ Ở ARGENTINA - Pdf 37

ĐÁNH GIÁ NGẪU NHIÊN MỨC SẴN LÒNG TRẢ CỦA
NGƯỜI TIÊU DÙNG CHO THỰC PHẨM HỮU CƠ Ở
ARGENTINA
Rodríguez E.1, Lacaze V.2 và Lupín B3
123

Đại học quốc gia Mar del Plata / Khoa Kinh tế và Khoa học xã hội, Mar del Plata,
Argentina

Tóm tắt
Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ hay thực phẩm sạch (organic agriculture) đã trải qua
sự phát triển đáng chú ý so với các sản phẩm khác trong những năm qua, điều đó
thể hiên qua ý thức của người tiêu dùng về an toàn thực phẩm.
Bài nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá mức sẵn lòng trả (WTP) cho thực phẩm
sạch ở thị trường nội địa Argentina nhằm cung cấp những thông tin hữu ích để gain
support và đề ra những chiến lược chiêu thị, tiếp thị và gắn nhãn cho thực phẩm
sạch
Một mô hình hồi quy logistic với biến nhị phân (Binomial Multiple Logistic
Regression?) được dùng để ước lượng qua nguồn dữ liệu từ một cuộc điều tra tiêu
thụ thực phẩm được thực hiện ở thành phố Buenos Aires thuộc Argentina vào
tháng 4 năm 2005.
Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) được chọn để tính mức sẵn lòng trả cho 5
loại thực phẩm sạch sau đây: sữa thường regular milk (ít nutrition hơn “sữa hữu
cơ” organic milk), rau sống leafy vegetables, bột nguyên cám Whole Wheat Flour
(xay từ nguyên hạt lúa mỳ), thịt gà tươi Fresh chicken và thảo mộc có mùi Arometic
Herbs.
Từ khóa: Sự sẵn lòng trả, Food attribute, hữu cơ
I.

GIỚI THIỆU


A. Sự sẵn lòng chi trả (WTP):

Những nghiên cứu khoa học gần đây phát hiện ra rằng mối quan tâm của người tiêu
dùng về an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm đang tăng lên, đưa ra các thông tin
mới về mối quan hệ giữa chế độ ăn và sức khỏe, công nghệ thực phẩm mới lạ và truyền
thông đại chúng (novel food technology and mass communications). Tuy nhiên, có nhiều
biến khoa học-kinh tế (scientific and economic variables) liên quan đến an toàn thực
phẩm và chất lượng thực phẩm rất khó để đo lường. Một phương pháp được sử dụng để
xác định lợi ích của một cải tiến trong an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm là ước
lượng mức sẵn lòng trả của người tiêu dùng (WTP) cho thực phẩm giảm rủi ro (riskreduced food).
Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả có thể được định nghĩa là số tiền đại diện bởi sự
khác biệt giữa thặng dư của người tiêu dùng trước và sau khi thêm hoặc cải tiến một
thuộc tính của một thực phẩm nhất định. Một số nỗ lực trước đây nhằm phát triển mô
hình WTP về sự thay đổi của các thuộc tính được cũng tìm thấy trong một số bài báo.
Những mô hình này đều dựa trên Lý thuyết Lancaster Demand, theo đó, người tiêu dùng
được đưa ra giả thuyết để nhận được hữu dụng không trực tiếp từ hàng hóa mà từ một
nhóm các đặc tính hoặc thuộc tính của hàng hóa đó mà họ đang sở hữu.
B. Yếu tố quyết định WTP cho thực phẩm hữu cơ :


Hầu hết các nghiên cứu gần đây được tiến hành tại các thị trường phát triển nông
nghiệp hữu cơ đã cố gắng thiết lập mối liên hệ giữa WTP của các sản phẩm và lối sống
của người tiêu dùng. Phân khúc người tiêu dùng dựa trên những biến đã đưa ra mô tả sơ
lược về những người tiêu dùng hữu cơ tiềm năng. Mặc dù rõ ràng là có sự mơ hồ trong
các mô tả sơ lược về nhân khẩu học xã hội, người tiêu dùng cũng cho thấy thái độ hướng
tới một cuộc sống cân bằng, ăn thức ăn lành mạnh, và giảm tác động của nông nghiệp
đến môi trường.
Kết quả các thực nghiệm được thực hiện ở những nước có mức độ tiêu thụ thực phẩm
hữu cơ cao cho thấy lý do chủ yếu tại sao các sản phẩm này được mua là vì chăm sóc sức
khỏe, vì bị bệnh hoặc phòng bệnh. Bên cạnh đó, do hàm lượng dư lượng thuốc trừ sâu


Hiệu quả của các chương trình điều chỉnh về sự sẵn long chi trả cho các sản phẩm hữu
cơ chưa qua chế biến là thấp hơn so với các sản phẩm hữu cơ đã chế biến.
IV.
SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
A. Số liệu

Bộ dữ liệu trong nghiên cứu được lấy từ một cuộc khảo sát về tiêu thụ thực phẩm
được thực hiện ở Buenos… và tháng tư năm 2005 bằng cách sử dụng một dạng câu hỏi
bán cấu trúc (A semi-structured questionnaire is a mix of unstructured and structured
questionnaires).
Một mẫu thuận tiện (convenience sample) với xác suất được lựa chọn không biết
trước, mẫu được lựa chọn một cách khó khăn để phát hiện ra nhóm mục tiêu, nói cách
khác là lựa chọn những cá nhân thường mua sắm thực phẩm hữu cơ. Những phỏng vấn
viên được huấn luyện đã hoàn thành 301 cuộc khảo sát đối với các đáp viên ở một số
chuỗi siêu thị lớn nhất như Coto, Disco, Jumbo, Norte, Wall Mart và ở một cửa hàng
chuyên về sản phẩm hữu cơ (La Esquina de las Flores).
Mẫu dựa trên tuổi và giới tính của người dân địa phương căn cứ theo tài liệu Thống
kê dân số ở Argentina (National Population Census in Argentina), cho những đáp viên ở
tuổi 18 hoặc lớn hơn với mức độ kinh tế-xã hội ở mức trung bình cao (được mô tả bởi tổ
chức Marketing Argentine (AAM), ). Bảng 1 cung cấp đại diện
của mẫu về mặt cơ cấu dân số của thành phố Buenos phân theo giới tính và độ tuổi:


Câu hỏi bán cấu trúc bao gồm cả các câu hỏi đóng và mở được thể hiện qua 3 phần.
Phần thứ nhất, các câu hỏi đề cập đến mức tiêu thụ thực phẩm hữu cơ, tự nhiên và
thực phẩm tươi, số lần mua và lý do chọn mua các loại sản phẩm đó.
Phần thứ hai được thiết kế để thu thập ý kiến của người tiêu dùng liên quan đến nhiều
vấn đề về mối liên hệ giữa chế độ ăn và sức khỏe. Các câu hỏi về thói quen ăn uống, lý
do đằng sau việc chăm sóc các bữa ăn, mối đe dọa bắt nguồn từ hormone, thuốc trừ sâu,

họ vẫn chưa tốt nghiệp. 29% có trong tay bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học. Tỉ lệ
cao nhất của những đáp viến có bằng đại học hoặc sau đại học cũng bao gồm nhóm người
tiêu dùng hữu cơ (36%).
B. Phương pháp

Trong số các lựa chọn thay thế phương pháp luận khác nhau để đánh giá người tiêu
dùng WTP, các đánh giá ngẫu nhiên (CV) tiếp cận đã được lựa chọn. Mặc dù CV được
sử dụng chủ yếu cho việc đánh giá tiền tệ của các sở thích người tiêu dùng đối với hàng
hóa phi thị trường, nó cũng được áp dụng cho thị trường hữu cơ ở Argentina cũng như nó
vẫn còn là một phân khúc nhỏ có quy mô, và các sản phẩm hữu cơ thường không có sẵn
trong tất cả các cửa hàng bán lẻ.
CV có xu hướng để xác định số lượng người tiêu dùng định giá hàng hóa được gán
cho các sản phẩm bằng cách đối mặt với một tình huống giả định mua, trong đó họ phải
trả lời bao nhiêu tiền họ sẽ sẵn lòng trả cho một sản phẩm nhất định, hoặc nếu họ sẽ sẵn
lòng chi trả giá cao nhất.
Trong cuộc khảo sát CV, một trong những phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để
tìm ra thông tin về WTP của người trả lời được gọi là định dạng lựa chọn nhị phân. Các
định dạng lựa chọn nhị phân ràng buộc đơn, được lựa chọn ở đây, đòi hỏi yêu cầu người
trả lời liệu họ sẽ sẵn lòng trả giá cao cho mỗi sản phẩm hữu cơ được chọn hay không. Nó
có thể được giả định rằng câu trả lời của người trả lời có có điều kiện bởi các giá hữu cơ
và thường họ thấy khi lựa chọn các chất hữu cơ thay vì các sản phẩm thông thường.
Để có được các thông số ước tính cho mỗi sản phẩm được lựa chọn, mô hình lý thuyết
phải được ước tính bằng cách sử dụng một Binomial Multiple Logistic Regression đưa ra
như sau:
WTPij = α +β1Pjk +β2Yi +β3πi +F(Zi) [1]
Chú Thích:


WTPij: Nếu trả lời có sẵn lòng chi trả giá cao cho các sản phẩm thực phẩm j được chọn
hay không; j = 1 Regular Milk; j = 2 Leafy Vegetables; j = 3 Whole Wheat Flour ; j = 4

hormone trong nội dung thịt gà tươi thông
thường
Nếu người trả lời nhận ra những rủi ro cao của
thuốc trừ sâu trong nội dung các loại rau lá
thông thường
Nếu người trả lời nhận ra những rủi ro cao của
thuốc trừ sâu trong nội dung toàn bộ lúa mì
bột mì thông thường
Nếu người trả lời cho rằng không có rủi ro
đáng kể khi tiêu thụ thực phẩm thông thường
Nếu người trả lời sẽ sẵn lòng để mua các chất
hữu cơ nếu chúng mới có trên thị trường
Nếu người trả lời cho rằng có nên tồn tại một
hệ thống quy chuẩn chất lượng thực phẩm
Nếu người trả lời được sử dụng để đọc nhãn

Phân loại
1 = Yes,
Otherwise
Phân loại
1 = Yes,
Otherwise
1 = Yes,
Otherwise

0

=

0


=

0

=

0

=

0

=


thực phẩm khi mua
Otherwise
DIFORCON
Nếu người trả lời cho rằng không có sự khác 1 = Yes, 0 =
biệt giữa các sản phẩm thực phẩm hữu cơ và Otherwise
thông thường
Các biến giải thích định lượng
RMPP
Hữu cơ thông thường có giá cao hơn giá sữa thông thường
LVPP
Hữu cơ giá cao hơn giá các loại rau lá thông thường
WWFPP
Toàn bộ hữu cơ có tính phí giá bột mì trên giá bột mì thông thường
FCPP

giải thích ý nghĩa. Mức tiêu thụ các chất hữu cơ cũng giải thích WTP cho sữa hữu cơ
thông thường (CONSUMP)

Mặt khác, các biến PRESERV không có ý nghĩa thống kê (có ý nghĩa ở mức 10%)
cho các mô hình. Điều này được giải thích bằng sự tin tưởng ở mức độ cao của người tiêu
dùng Argentina có trong các sản phẩm sữa cả sữa hữu cơ và sữa thông thường. 65% số
người được hỏi (n1a = 146) trả lời có liên quan rất lớn đến thương hiệu mà họ đã mua, vì
đó một yếu tố đáng tin tưởng khi nói đến quyết định mua sắm.


Trong số những người trả lời có thu nhập hàng tháng là trên 500 đô la , WTP cho rau
sống (leafy vegetatbles) được giải thích chủ yếu bởi sự thiếu hụt sản phẩm này trên thị
trường (AVAILABLE), bởi vì đáp viên sẽ mua các loại rau sống hữu cơ nếu chúng có
sẵn. Những kết quả này đồng ý với những kết quả trong những nghiên cứu trước đây.
Hơn nữa sự tiêu thụ thực phẩm hữu cơ (CONSUMP) cũng góp phần để người tiêu dùng
sẵn lòng có được loại rau hữu cơ.
Thật vậy, những người tiêu dùng lựa chọn các loại rau tùy vào sự khác biệt về đóng
gói, sắp xếp trong container, kích thước, và nguồn gốc đều có mức thu nhập tương đối
cao. Một tỷ lệ cao số người được hỏi (78% của n 2 = 143) trong phân tích này, người có
trình độ học vấn cao đề cập rằng biết được nguồn gốc cung cấp rau làm họ chắc chắn hơn
khi quyết định mua sắm.
Nhận thức rủi ro sức khỏe liên quan đến thuốc trừ sâu trong các giống thông thường
của các sản phẩm này làm biến PESTICIDEV trở nên đáng kể. Thực nghiệm cho thấy kết
quả này phù hợp với kết quả của Weaver và các đồng nghiệp và Baker.
WTP cho Bột nguyên cám (Whole Wheat Flour) được giải thích chủ yếu bằng cách
đọc nhãn thông thường khi thực hiện quyết định mua sắm (LABELS). Bên cạnh đó, 78%
số người được hỏi (n3 = 139) thường xuyên tìm kiếm thông tin về chất lượng thực phẩm,
và tin rằng cần phải có một hệ thống quy chuẩn chất lượng thực phẩm (REGULATION).
Sự khan hiếm của sản phẩm này trên thị trường cũng đáng chú ý (AVAILABLE). Những
kết quả này phù hợp với tài liệu của Michelson, Richman và Pearson. Người tiêu dùng

Sau khi chạy mô hình, cả hai bị đơn của trình độ học vấn và thu nhập hàng tháng gia đình
không có ý nghĩa thống kê như là các biến giải thích. Vì thế, họ đã bỏ qua khi ước lượng
các mô hình.
Hiệu suất các mô hình 'đã được thử nghiệm với Chi bình phương Thống kê của Pearson,
mà chỉ ra rằng tất cả các mô hình phù hợp đầy đủ. Các hình thức thay thế của R 2 cho nhị
thức Logit. Các mô hình được Cox & Snell của R2 và R2 của Nagelkerke. Các giá trị cao
nhất của sự thay thế R2 được mang lại trong mô hình 1.b cho Sữa (0,325 và 0,454 tương
ứng) [33] và [34].
Quyền lợi dự đoán tổng thể là trên 73% cho tất cả các mô hình. Liệt kê sự phù hợp, trong
đó ước tính các dự đoán và kết quả xác suất của sự phù hợp, mang lại giá trị trên 0.50 cho
tất cả các mô hình ước tính, chỉ ra rằng những dự đoán là tốt hơn so với phỏng đoán ngẫu
nhiên [35].
B. Tính WTP

Bằng cách áp dụng các biểu hiện [2] đã mô tả trong Phần 4.2, Bảng 5 dưới đây trình bày
trung bình cho mỗi lựa chọn sản phẩm của WTP, tức là, người được hỏi thêm phí bảo
hiểm sẵn lòng trả cho mỗi sản phẩm hữu cơ so với giá của các sản phẩm thông thường.
Những giá trị này được thể hiện trong % / kg hoặc % / l. Như đã đề cập trong phần 5.1,
tất cả các mô phỏng là làm cho mức thu nhập cao hơn (hơn U $ S 500) trừ sữa được ước
tính cho cả mức thu nhập.
Bảng này cũng bao gồm các trung bình phí thêm tính cho các sản phẩm hữu cơ tại các
cửa hàng xem xét trong khảo sát. Cuối cùng, sự khác biệt giữa người trả lời ' tính WTP
[A] và phí bảo hiểm hiệu quả [B] là trình bày.
Trong khi được hỏi mức thu nhập cao hơn (mô hình 1.a) là sẵn lòng trả nhiều tiền hơn
12,2% cho sữa hữu cơ hơn sữa thông thường, người trả lời mức thu nhập thấp (mô hình
1.b) sẽ chỉ phải trả hơn 11,6% cho các hữu cơ đa dạng. Tuy nhiên, sẽ không có sự khác


biệt đáng chú ý giữa cả hai giá trị WTP, mà là dưới sữa hữu cơ cao cấp sẽ có giá thực tế
(1,64% trong Mô hình 1.and 2,24% trong Mô hình 1.b).

4.Gà tươi
20
24.6
-4.61
5.Các loại thảo mộc
110
298.3
-188.33
thơm
Ghi chú: (1) Dự toán cho mức thu nhập thấp; (2) Tính theo tỷ lệ phần trăm theo đó giá
của
sản phẩm hữu cơ cao hơn mức giá của một sản phẩm thông thường tương tự. Phí bảo
hiểm có nguồn gốc từ bộ sưu tập giá thực hiện trong các cửa hàng, nơi các cuộc khảo sát
diễn ra; (3) Bày tỏ trong% / lt.
Tỷ giá hối đoái: 1 U $ S = 3 Argentina peso ($)
Nguồn: Tính toán của tác giả. Khảo sát tiêu thụ, Buenos Aires Thành phố / 200.
Theo Mô hình 2 kết quả, người trả lời sẵn lòng trả cho loại rau lá hữu cơ nhiều hơn 87%
so với các loại rau lá thông thường. Giá trị này cao hơn 2,46% hơn phí bảo hiểm tích giá
hữu cơ của các cửa hàng bán lẻ.
WTP cho bột nguyên cám là cao hơn 7,5% nếu so với giá phải trả cho bột nguyên cám
thông thường.Đây là WTP hơi cao hơn bột nguyên cám cao cấp nhiều như giá thực tế
1,59%.
Các kết quả thu được từ mô hình 4 cho thấy WTP cho gà tươi hữu cơ là cao hơn 20% nếu
so với giá phải trả cho gà tươi thông thường. Giá trị WTP này là giá gà tươi hữu cơ cao
cấp thực sự nhiều như 4,61%.
Cuối cùng, WTP cho thảo mộc hữu cơ là 110% cao hơn nếu so với giá phải trả thông
thường. Các loại thảo mộc thơm; WTP này là thảo mộc hữu cơ thơm cao cấp có giá nhiều
như 188%.
Tóm lại, điều đáng nói là yếu tố then chốt trợ giúp để giải thích WTP hữu cơ cho các sản
phẩm được chọn là tiêu thụ các sản phẩm hữu cơ, rủi ro sức khỏe nhận thức nội dung liên

WTP hữu cơ cho tổng số bột mì là hầu như không cao hơn mức hữu cơ có phí bảo hiểm
trên thị trường.
VI.

NHẬN XÉT CHUNG

Kết quả ước tính WTP thu được đối với các sản phẩm được chọn chỉ ra rằng các sản
phẩm hữu cơ tích cực có giá trị trong Argentina, kể từ khi người tiêu dùng sẵn sàng trả
phí bảo hiểm mức giá để có được những sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Kết quả như
vậy chắc chắn có điều kiện bởi phí bảo mức giá hiệu quả tính tại thị trường trong nước,
trong đó, lần lượt, được quy định bởi tỷ lệ của giá xuất khẩu, như các thị trường nước
ngoài là điểm đến chính của sản xuất các sản phẩm hữu cơ ở Argentina.


Điều này cũng đáng nói đến là các giá trị WTP cho mỗi sản phẩm hữu cơ được chọn
sẽ được giải thích bởi việc tiêu thụ các sản phẩm hữu cơ, rủi ro sức khỏe được lý giải liên
quan đến hormone và hàm lượng thuốc bảo vệ thực vật, mối lo ngại các quy định, nhận
thức của các chất hữu cơ có sẵn bất thường trong thị trường nội địa, và các nhãn hiệu từ
ngữ. Tuy nhiên, tầm quan trọng tương đối của các yếu tố này là khác nhau khi WTP được
giải thích cho mỗi sản phẩm.
Nghiên cứu này kiểm chứng rằng những người tiêu dùng có thu nhập trên U$S 500
đang lo lắng về chất lượng sản phẩm cũng như về nguy cơ sức khỏe liên hệ với thuốc bảo
vệ thực vật dư thừa liều lượng và sản phẩm hormone qua xử lý. Mức giá phí bảo hiểm
hiệu quả cao là điều kiện cho việc mua những sản phẩm lành mạnh được nhận thức, ngay
cả khi được hỏi bày tỏ mong muốn của họ để đạt được chúng. Những người tiêu dùng
biết cái gì là viết tắt của chất hữu cơ, họ cảm nhận được sản phẩm khan hiếm và sự sẵn
có bất thường trên thị trường, và họ sẽ sẵn sàng để gia tăng tiêu thụ các sản phẩm rẻ hơn.
Mức giá phí bảo hiểm trên thị trường phụ thuộc trên các loại sản phẩm nhưng, liên quan
đến các sản phẩm phân tích, dao động trong khoảng từ 6% đến 298%.
Hiệu quả của các chương trình quy định về WTP của người tiêu dùng có thể dường

hạn cho ngành hữu cơ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
2
3
4
5

6

7

8
9
10
11

12

Henson, S. (1996). Consumer willingness to pay for reductions in the risk of food
poisoning in the UK. Journal of Agricultural Economics, 47(3): 403-420.
Antle, J. (1999). Benefits and costs of food safety regulation. Food Policy 24
(1999): 605-623.
SENASA (2007). Situación de la producción orgánica en Argentina durante el año
2006, available at />Kinsey, J. (1993). GATT and the Economics of food safety. Food Policy, (April):
163-176.
Goldberg, I. & Roosen, J. (2005). Measuring consumer willingness to pay for a
health risk reduction of salmonellosis and campylobacterosis. Paper prepared for
presentation at the 11th Congress of the European Association of Agricultural
Economist, Copenhagen, Denmark, August 24-27, 2005.

19

20
21

22

23

24
25

26
27

Market segments, consumer characteristics, and marketing opportunities. Journal
of Agricultural and Resource Economics, 24 (1): 80-97.
Farina, T. & de Almeida, S. (2003) Consumer Perception on Alternative Poultry.
International Food and Agribusiness Management Review, 2(5).
Rodríguez, E.; Lupín, B. & Lacaze, V. (2006). Consumers’ perceptions about food
quality attributes and their incidence in Argentinean organic choices.
International Association of Agricultural 12th Congress of the European
Association of Agricultural Economists – EAAE 2008 Economists Conference,
Gold
Coast,
Australia,
August
12-18,
2006,
available

30

31

32

33
34
35

Población y Vivienda 2001. Resultados definitivos por Provincias, para la ciudad
de
Buenos
Aires,
available
at
/>Lohr, L. (2001). Factors affecting international demand and trade in organic food
products. Economic Research Service/USDA/WRS-01-1
Hanemann, W. (1984). Welfare evaluations in contingent valuation experiments
with discrete responses. American Journal of Agricultural Economics, 66(3): 332341.
Carmona-Torres, M. & Calatrava-Requena, J. (2006). Bid design and its
influence on the stated willingness to pay in a contingent valuation study.
Contributed paper prepared for presentation at the International Association of
Agricultural Economists Conference, Gold Coast, Australia, August 12-18, 2006,
available
at
/>paperid=22558&ftype=.pdf
Pearson, D. (2001). How to increase organic food sales: Results from research
based on market segmentation and product attributes. Australasian Agribusiness
Review, 9, paper 8.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status