PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Dân tộc và nhân loại đang bước sang thế kỷ XXI- thế kỷ với những
bước chuyển biến lịch sử vĩ đại- với sự phát triển như vũ bão của khoa học
kỹ thuật. Thế giới đang bước vào thời kỳ hội nhập và xu thế hoá toàn cầu mà
không nước nào có thể cưỡng lại được. Trong xu thế chung đó,
ViệtNamđang đứng trước những cơ hội và thách thức. Để tiến kịp với xu thế
chung ,đòi hỏi giáo dục phải phát triển bởi giáo dục có một ý nghĩa quan
trọng nó là ngành sản xuất cơ bản của nền kinh tế tri thức. Nó tạo ra tri thức
nhân lên vốn tri thức tạo ra một nguồn lực mới. Giáo dục đồng nghĩa với sự
phát triển. Ngày nay sự phát triển giáo dục được thừa nhận như một tiền đề
quan trọng của sự phát triển tất cả các lĩnh vực.
Đặc biệt hiện nay đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoáhiện đại hoá (CNH-HĐH), muốn tiến hành CNH-HĐH thắng lợi thì phải
phát triển mạnh giáo dục .Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã khẳng
định: “Giáo dục là nền tảng, là động lực thúc đẩy CNH-HĐH đất nước”. Để
thực hiện được vai trò lớn lao đó đòi hỏi giáo dục phải phát triển , phải nâng
cao chất lượng giáo dục .
Thực tế trong những năm qua, giáo dục đào tạo của chúng ta đã có
những thành tựu đáng kể. Mạng lưới trường học rộng khắp, chất lượng giáo
dục có tiến bộ , đa dạng hoá về các loại hình trường lớp, tạo cơ hội học tập
cho toàn dân. Song bên cạnh đó có một số mặt chưa đạt được: quy mô cơ
cấu , chất lượng hiệu quả còn nhiều bất cập. Đặc biệt là chất lượng và hiệu
giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Đội ngũ giáo viên còn
thiếu, chưa đồng bộ. Từ đó chúng ta thấy: để nâng cao chất lượng giáo dục,
để thực hiện được chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH-HĐH
đất nước, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là phải quan
tâm đến xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên . Đó là một trong những
vấn đề cấp bách và quan trọng.
Trường THPT Ninh Châu – Quảng Bình , trong những năm học qua
lượng đội ngũ giáo viên của trường THPT Ninh Châu –Quảng Bình (cơ sở
lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở pháp lý).
3.2. Phân tích thực trạng của việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên trường THPT Ninh Châu –Quảng Bình.
3.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ giáo viên của trường THPT Ninh Châu – Quảng Bình.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Là một số biện pháp quản lý bồi dưỡng nhằm nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên của trường THPT Ninh Châu- Quảng Bình.
5. Phương pháp nghiên cứu :
Để thực hiện đề tài này tôi xin được sử dụng một số phương pháp
sau :
5.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Gồm các văn kiện của
Đảng, Luật giáo dục năm 2005, Điều lệ trường phổ thông, chỉ thị về thực
hiện nhiệm vụ năm học 2006-2007 của Bộ giáo dục và đào tạo. Nghị quyết
chi bộ của trường THPT Ninh Châu.
Tham khảo giáo trình và bài giảng của các Thầy cô ở Học viện quản
lý giáo dục, nghiên cứu các Tạp chí, các tài liệu, các tiểu luận của các khoá
trước. . .
5.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn .
- Quan sát các hoạt động của giáo viên.
- Trao đổi trực tiếp với giáo viên .
- Nghiên cứu hồ sơ sư phạm.
- Những tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm bản thân trong một số
năm làm quản lý tại trường.
5.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu hỗ trợ.
- Biểu bảng , sơ đồ thống kê .
- Phương pháp điều tra xử lý số liệu.
học, giáo dục học, người giáo viên phải năng động sáng tạo, yêu nghề và
phải có nhân cách. Nhân cách là một trong những phương tiện giáo dục của
người thầy , Bác Hồ đã từng nói : “Nghề dạy học trước hết phải đem cả con
người và cuộc đời của mình ra mà dạy sau đó mới dùng lời để dạy” . Như
vậy, chỉ có người Thầy có thật tâm và thành thạo về phương pháp thì lao
động sư phạm của người Thầy mới có hiệu quả. Hiệu quả và sản phẩm lao
động sư phạm của người giáo viên là chất lượng để thực hiện mục tiêu đào
tạo. Nó biểu hiện cụ thể ở nhân cách của người học sinh. Đặc điểm này đòi
hỏi nhà trường được phép sản xuất ra sản phẩm chứ không cho phép sản
xuất ra “phế phẩm”. Học sinh tốt nghiệp THPT phải đáp ứng được những
nhu cầu của bản thân, gia đình và xã hội. Đây là nét khác biệt nổi bật giữa
lao động sư phạm và các loại lao động khác. Lao động của giáo viên vừa
mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật và có tính nhân đạo là lao
động vừa phức tạp, vừa tinh tế .Vì vậy, đòi hỏi giáo viên phải có đạo đức,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng yêu cầu mới của
thời đại, đòi hỏi người giáo viên phải hội đủ mọi yếu tố: nhân cách, năng
lực, sức khoẻ, khả năng ứng xử mọi tình huống… là những người vừa hồng
vừa chuyên.
2. Cơ sở pháp lý.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được
thể hiện trong các Nghị quyết trung ương Đảng , trong Luật giáo dục , trong
điều lệ trường phổ thông, trong Chỉ thị của Bộ trường Bộ giáo dục và đào
tạo về nhiệm vụ năm học cũng như các văn bản thực hiện nhiệm vụ năm
học.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương
Đảng khoá VIII đã nêu:“Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo
dục và được xã hội tôn vinh, giáo viên phải có đủ đức tài”. Nghị quyết của
rõ: “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục” cụ thể là: “Các địa phương hoàn thành việc rà soát phân
loại giáo viên theo quy chế đánh giá xếp loại giáo viên .. . đồng thời thực
hiện nghiêm túc các chính sách chế độ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục , đề cao phương án nâng cao thu nhập cải thiện đời sống của nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2006-2007 của Sở giáo
dục và đào tạo Quảng Bình cũng đã khẳng định: “Tổ chức triển khai kế
hoạch bồi dưỡng giáo viên để đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, chương
trình giáo dục phổ thông”.
Nghị quyết đại hội đại biểu của Tỉnh Quảng Bình lần thứ XIII
có ghi: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả của từng cấp học, bậc học. . .đầu
tư cơ sở vật chất , bồi dưỡng đội ngũ giáo viên để từng bước đạt chuẩn và
vượt chuẩn đào tạo”.
Tất cả đó là những căn cứ pháp lý để thực hiện đề tài : “Một số
biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường
THPT Ninh Châu- Quảng Bình”.
3. Cơ sở thực tiễn.
Trong những năm qua, giáo dục đã đạt được một số thành tựu
đáng kể, song bên cạnh đó còn một số yếu kém. Hội nghị Trung ương 2
khoá VIII đã chỉ ra những yếu kém trong giáo dục của nước ta hiện nay,
trong đó có sự yếu kém của đội ngũ giáo viên: “Giáo dục và đào tạo nước
ta còn nhiều yếu kém, bất cập cả về quy mô cơ cấu và nhất là về chất lượng
giáo dục và hiệu quả giáo dục, chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi lớn và
ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế- xã hội, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, thực hiện CNH-HĐH đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa”.
Hiện nay đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, cơ cấu không
triển giáo dục của Huyện nhà. Đặc biệt các bậc phụ huynh rất quan tâm đến
việc học tập của con em. Tuy nhiên, Quảng Ninh với ngành nghề chủ yếu là
nông nghiệp thu nhập thấp nên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, sự hỗ trợ cho giáo dục về mặt vật chất có hạn chế. Điều kiện học tập
của con em chưa được đáp ứng nhiều .
1.2. Đặc điểm của trường THPT Ninh Châu- Quảng Bình.
Trường THPT Ninh Châu thành lập đến nay đã được 10 năm. Những
năm đầu cơ sở vật chất còn nghèo nàn, nhưng được sự quan tâm của Sở giáo
dục và đào tạo, các cấp uỷ Đảng và chính quyền đại phương, của Hội cha mẹ
học sinh, đặc biệt là sự nỗ lực của Thầy và Trò , đến nay trường đã có bước
phát triển mạnh.
- Về quy mô trường lớp: trường có 32 lớp với 1442 học sinh.
Khối 10:
11 lớp với 519 học sinh.
Khối 11:
11 lớp với 484 học sinh.
Khối 12:
10 lớp với 439 học sinh.
- Về cơ cấu tổ chức :
+ Chi bộ Đảng nhà trường: có 33 Đảng viên, sinh hoạt trong 3 tổ
Đảng. Cấp uỷ Đảng có 5 đồng chí.
+ Đoàn thể gồm có : Công đoàn, Đoàn thanh niên , Hội Liên hiệp
Tổ hành chính:
9 cán bộ- nhân viên.
- Về cán bộ giáo viên : tổng số 71 người , trong đó cán bộ quản lý: 3;
giáo viên 63 ; nhân viên: 3; ngoài ra trường có hợp đồng ngắn hạn 2 nhân
viên làm công tác bảo vệ.
- Về cơ sở vật chất: Trường có 16 phòng học (10 phòng kiên cố , 6
phòng cấp 4) đủ cho học sinh học 2 ca. Khuôn viên trường có tường bảo vệ.
Hệ thống sân chơi bãi tập cơ bản đáp ứng yêu cầu vui chơi và tổ chức hoạt
động tập thể cũng như dạy và học quân sự và thể thao. Trang thiết bị , thư
viện, máy tính cơ bản đủ để dạy và học . Tuy nhiên , hiện tại trường vẫn còn
thiếu các phòng chức năng, phòng học bộ môn, phòng làm việc , phòng hội
họp. Nên việc dạy và học cũng gặp nhiều khó khăn.
Những đặc điểm trên đã tác động đến công tác chỉ đạo nâng cao chất
lượng đội ngũ giáo viên của trường THPT Ninh Châu - Quảng Bình có thuận
lợi và khó khăn .
2. Một số kết quả đạt được trong công tác chỉ đạo nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên trường THPT Ninh Châu - Quảng Bình.
Thực tế trong mấy năm qua chất lượng đội ngũ giáo viên ở
trường THPT Ninh Châu – Quảng Bình cũng có những bước chuyển rõ rệt.
Về số lượng, năm học qua là năm đầu tiên cơ bản trường đã có đủ giáo viên
để giảng dạy. Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuẩn hoá đội ngũ đã
được coi trọng hơn trước. Hoạt động chuyên môn của các tổ đã được đổi
mới. Công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của giáo viên đã được nâng cao.
Chất lượng giảng dạy và giáo dục có bước tiến hơn so với năm học trước.
Có được thành tích đó phải kể đến vai trò của cán bộ quản lý mà trước hết là
s
học
T
ố GV
2003
-2004
Trình độ đào tạo
ổng
hạc sĩ ại học
6
0
4
2004
-2005
6
0
5
C
STĐ
STĐ cơĐ
Tỉnh
sở
giỏi
3
5
0
7
2
4
0
8
2
83
,34
u
9,5
4
75,
3
16
,34
Yế
74,
15
0,
76
TB
14
0,
0,27
0,14
3. Một số tồn tại trong việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
giáo viên ở trường THPT Ninh Châu –Quảng Bình.
Trong những năm qua, trường THPT Ninh Châu đã đạt được một số
thành tích đáng khích lệ như trên , tuy nhiên công tác quản lý nhằm nâng cao
chất lượng đội ngũ của nhà trường còn một số tồn tại sau:
- Công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã
được đề ra trong kế hoạch song do điều kiện về mặt thời gian và do kinh
nghiệm cho nên việc tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra chưa thật bài bản.
- Công tác tuyển chọn bổ sung nhân sự chưa đáp ứng yêu cầu thực tế
của nhà trường . Đội ngũ giáo viên đủ biên chế nhưng không đồng đều giữa
các bộ môn nên có sự thiếu công bằng trong phân công lao động. Tình trạng
có môn dạy nhiều nhưng có môn giáo viên dạy ít tiết.
- Đội ngũ cán bộ cốt cán còn mỏng ở một số bộ môn chưa có giáo
viên đầu đàn, chưa có kiến thức vững vàng để làm nòng cốt cho đổi mới
phương pháp dạy và học, cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi văn hoá, cho việc
dạy phân ban ở các môn nâng cao .
- Nhận thức về nâng cao chất lượng, về phẩm chất và năng lực sư
phạm cũng như về chuyên môn của một số giáo viên chưa thật sâu sắc, chưa
trở thành nhu cầu thường xuyên, hoạt động còn mang tính chiếu lệ nên hiệu
quả chưa cao. Một số giáo viên tuổi đời cao thường hay thoả mãn với những
gì đã có , ít quan tâm đến vấn đề bồi dưỡng. Số giáo viên trẻ mới ra trường
nhiều, do chi phối bởi cơ chế thị trường nên chưa thật say mê với nghề
nghiệp. Việc đổi mới phương pháp dạy và học thực hiện chưa đồng đều giữa
các bộ môn, giữa các giáo viên . Giáo viên còn ngại làm đồ dùng dạy học và
làm thí nghiệm trong quá trình giảng dạy .
giáo viên ngoại ngữ).
+ Năng lực tin học của giáo viên là vấn đề đáng báo động. Trong tổng
số 63 giáo viên thì chỉ có 2 Đại học tin học và 8 giáo viên có chứng chỉ A
Tin học, còn lại là không có kiến thức về tin học.
+ Năng lực làm công tác chủ nhiệm của nhiều giáo viên còn yếu.
Chưa biết ứng phó, xử lý các tình huống sư phạm.
+ Năng lực công tác xã hội giáo dục của giáo viên phần lớn còn yếu,
nhất là sự phối hợp giáo dục giữa nhà trường , gia đình và xã hội.
4. Một số vấn đề đặt ra trong việc quản lý đội ngũ giáo viên trường
THPT Ninh Châu-Quảng Bình.
Từ việc xác định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, phân tích thực trạng của
nhà trường trong việc quản lý nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên,
tôi nhận thấy có 6 vấn đề đặt ra :
- Cần chú trọng công tác lập quy hoạch nhân sự.
- Cần phân công bố trí giáo viên hợp lý.
- Cần tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên
về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ .
- Cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên một cách khoa
học, Tổ chức chỉ đạo một cách thường xuyên.
- Cần đa dạng hoá nội dung và hình thức bồi dưỡng giáo viên .
- Cần đẩy mạnh biện pháp động viên kích thích vật chất và tinh thần
cho đội ngũ giáo viên .
Giải quyết được những vấn đề trên mới nâng cao được chất lượng đội
ngũ giáo viên, mới thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ năm học. Điều đó sẽ
được giải quyết bằng các biện pháp nêu ở chương III.
CHƯƠNG
2. Phân công và bố trí giáo viên .
Việc sử dụng và bố trí hợp lý đội ngũ giáo viên có vai trò to lớn trong
việc nâng cao chất lượng dạy và học, vì thế cần tiến hành với những bước
sau:
- Yêu cầu cá nhân đề đạt nguyện vọng.
- Tổ chuyên môn trao đổi bàn bạc trên cơ sở đánh giá năng lực giáo
viên của năm học trước.
- Hiệu trưởng dựa trên cơ sở dự kiến của tổ để hội ý Ban giám hiệu
và ra quyết định phân công.
Khi phân công giáo viên giảng dạy cần phải đảm bảo công bằng khách
quan, đảm bảo định mức lao động của nhà nước. Chọn giáo viên có năng lực
chuyên môn, có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu, vững vàng, có kinh
nghiệm giảng dạy và uy tín để bố trí làm các nhiệm vụ : tổ trưởng chuyên
môn, thư ký hội đồng.
Khi phân công giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài việc căn cứ vào phân
công chuyên môn , hiệu trưởng cần đua ra những tiêu chí để lựa chọn những
giáo viên làm công tác chủ nhiệm như : kinh nghiệm uy tín, năng lực . .
.đồng thời thăm dò nguyện vọng của học sinh và cha mẹ học sinh.
3. Tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên về
vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ.
3.1. Nội dung tổ chức nâng cao nhận thức.
Đây là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đội ngũ .Trước
hết người quản lý và giáo viên phải nhận thức được rằng việc nâng cao năng
lực chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao phẩm chất đạo đức vừa là yêu cầu thực
tế của việc giảng dạy trong giai đoạn hiện nay đồng thời vừa uy tín vừa là
trách nhiệm của mỗi nhà giáo. Giáo viên phải hiểu được mình vừa là đối
tượng vừa là chủ thể của việc bồi dưỡng nâng cao năng lực phẩm chất. Mỗi
giáo viên phải tự giác tích cực chủ động trong việc thực hiện chương trình
giáo viên , và cũng là tiêu chí để đánh giá giáo viên .
Hiệu trưởng cần thường xuyên đôn đốc kiểm tra việc xây dựng các kế
hoạch tác nghiệp của các tổ và cá nhân, đồng thời thành lập ban chỉ đạo bồi
dưỡng đội ngũ do hiệu trưởng, phó hiệu trưởng chuyên môn , các tổ trưởng
và một số giáo viên cốt cán thực hiện để kiểm tra công tác bồi dưỡng. Công
tác kiểm tra bồi dưỡng phải được tiến hành hàng tháng, hàng kỳ , hàng năm
và phải có đánh giá xếp loại.
5. Đa dạng hoá các nội dung và hình thức bồi dưỡng giáo viên .
5.1. Đa dạng hoá nội dung bồi dưỡng giáo viên .
a) Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức.
- Bồi dưỡng giáo viên nhận thức về các chủ trương chính sách của
Đảng và nhà nước về vai trò, vị trí của đội ngũ giáo viên, về mục tiêu, nội
dung, chương trình SGK, đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Bồi dưỡng tư tưởng chính trị nhằm nâng cao nhận thức về thế giới
quan, nhân sinh quan của người giáo viên , tạo ra sự nhạy bén , mẫn cảm và
khả năng thích ứng về mặt xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước hiện
nay. Những phẩm chất đó tạo nên sức mạnh , niềm tin về lý tưởng của từng
giáo viên để từ đó thấm vào từng bài giảng, từng hoạt động giáo dục của họ.
Trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, phẩm chất chính trị của giáo viên là thái
độ tích cực với công cuộc đổi mới đất nước, là sự trung thành với lý tưởng
Mác –Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng đi theo con đường xây
dựng Chủ nghĩa Xã hội với mục tiêu: ôDân giàu ,nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minhằ. Giáo dục đào tạo thế hệ trẻ thành những con
người vừa hồng, vừa chuyên, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong tương lai vì sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Đồng thời có tinh thần
đấu tranh phê và tự phê nghiêm khắc , bài trừ những tư tưởng lệch lạc, thái
độ bàng quan , chống lại chính sách của Đảng và nhà nước.
- Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm cho giáo viên . Đây là một nội
c) Bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn :
Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đòn bẩy của năng lực sư phạm.
Muốn có năng lực sư phạm tốt cần có năng lực chuyên môn vững vàng.
Năng lực chuyên môn hay trình độ chuyên môn bao gồm nhiều yếu tố như :
kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan, phương pháp
giảng dạy bộ môn với từng bài , kiểu bài. Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và
phổ biến kinh nghiệm, khả năng tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về
chuyên môn cho mình và cho đồng nghiệp, chất lượng bài dạy, giờ dạy, chất
lượng học tập của học sinh. Do đó bồi dưỡng năng lực chuyên môn là bồi
dưỡng những nội dung sau: thường xuyên cung cấp những tư liệu, tài liệu,
các thiết bị cần thiết liên quan đến nội dung kiến thức và phương pháp dạy
bộ môn. Phát huy sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy . Đặc biệt là đổi
mới phương pháp giảng dạy , tạo điều kiện để giáo viên đúc rút kinh
nghiệm. Bồi dưỡng khả năng nắm bắt mục đích yêu cầu của từng bài dạy,
kiểu bài.
d) Bồi dưỡng năng lực kiến thức bổ trợ: Bồi dưỡng năng lực sử dụng
ngoại ngữ , tin học và sử dụng các TBDH hiện đại. Hiện nay, với sự bùng nổ
của thông tin và xu thế hoá toàn cầu đang được mở rộng, đất nước ta đang
thực hiện công cuộc đổi mới, đang mở cửa giao lưu với các nước trên thế
giới nên người giáo viên phải biết sử dụng ngoại ngữ. Nắm vững ngoại ngữ
giáo viên có đủ điều kiện để đọc tham khảo sách nước ngoài phục vụ cho
việc giảng dạy và còn giúp cho giáo viên có điều kiện để học tốt môn tin học
một khi đã nối mạng internet toàn cầu . Đó là một kho tri thức vô tận cho
giáo viên để nâng cao trình độ của mình. Nhà trường đã có giáo viên dạy
tiếng anh và tin học. Đây là một điều kiện tốt để tiến hành bồi dưỡng tiếng
anh và tin học cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường. Việc học thêm ngoại
ngữ và tin học được coi là yêu cầu bắt buộc và đưa vào tiêu chí đánh giá thi
đua của mỗi giáo viên.
giáo viên
5.2. Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên :
Để thực hiện được những nội dung bồi dưỡng trên tôi xin đề xuất các
hình thức bồi dưỡng như sau:
5.2.1. Tổ chức c�