BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ,THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
––––––––––––––––––––––––––
LƯU THẾ SƠN
NGHIÊN CỨU BÀI TẬP THỂ DỤC THỂ THAO NHẰM
NÂNG CAO THỂ LỰC VÀ NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG
CHO TRẺ KHIẾM THỊ(6-9 TUỔI)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2016
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO
––––––––––––––––––––––––––
LƯU THẾ SƠN
NGHIÊN CỨU BÀI TẬP THỂ DỤC THỂ THAO NHẰM
NÂNG CAO THỂ LỰC VÀ NĂNG LỰC ĐỊNH HƯỚNG CHO
Để người khuyết tật có thể sẵn sàng với cuộc sống và lao động trong tương lai thì
việc chuẩn bị về thể lực và năng lực vận động cần bắt đầu ngay từ trong trường học.
Trong đó nội dung giáo dục thể lực, năng lực vận động nói chung và năng lực định
hướng (NLĐH) trong không gian có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Trên cơ sở đó phân tích ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề, tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu bài tập thể dục thể thao nhằm nâng cao thể lực và
năng lực định hướng cho trẻ em khiếm thị (6-9 tuổi) ”
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thể lực, NLĐH và hiện trạng tập luyện thể dục thể
thao của trẻ em khiếm thị, đề tài tiến hành nghiên cứu một số bài tập thể dục thể thao
phù hợp nhằm nâng cao thể lực và NLĐH cho trẻ em khiếm thị.
Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, để tài giải quyết các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng thể lực, NLĐH và hiện trạng tập luyện thể dục
thể thao của trẻ em khiếm thị.
Mục tiêu 2: Nghiên cứu lựa chọn một số bài tập thể dục thể thao nâng cao thể
lực và NLĐH cho trẻ em khiếm thị.
Mục tiêu 3: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập thể dục thể thao nâng cao
thể lực và NLĐH cho trẻ em khiếm thị.
2. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
4
1. Đề tài đánh giá được thực trạng trẻ em khiếm thị đang được giáo dục tại một
số trường và trung tâm khiếm thị. Đồng thời đánh giá được thực trạng thể lực, năng
lực định hướng của trẻ em khiếm thị tại các đơn vị này.
Đề tài lựa chọn được 31 test đánh giá thể lực và năng lực định hướng của trẻ
khiếm thị gồm: 4 test hình thài, 2 test chức năng, thể lực 5 test và 20 test năng lực định
hướng vận động.
có chính sách cho vay với lãi suất thấp để người khuyết tật tự tạo việc làm và tự ổn
định đời sống.
1.2 Khiếm thị
1.2.1 Vai trò của mắt
Thị giác là giác quan quan trọng hàng đầu trong ngũ quan của con người. Nhờ
vào đôi mắt sáng con người có thể dễ dàng tự do đi đứng, tư duy và sáng tạo. Cũng
nhờ cặp mắt con người có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp muôn màu muôn vẻ của thiên
nhiên. Mất đi thị giác mọi hoạt động căn bản con người đều bị đình trệ Mất đi thị giác
mọi hoạt động căn bản con người đều bị đình trệ. Nhưng ngay cả những máy móc tinh
vi nhất cũng chưa thể thay thế khả năng thu nhận, tổng hợp và phân tích của cặp mắt
tự nhiên
1.2.2 Khái niệm khuyết tật, khiếm thị
Người khuyết tật: là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh
thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt
động, sinh hoạt hàng ngày. Các dạng khuyết tật: Khuyết tật vận động; Khuyết tật trí
tuệ; Khuyết tật cơ quan cảm giác
Khái niệm trẻ em khiếm thị: là trẻ em không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình
bằng mắt do bị mù lòa hoặc nhìn kém, nhìn thấy không rõ ràng vì có tật về mắt, như
hỏng mắt, tật thị giác.
1.3 Đặc điểm sinh lý trẻ em khiếm thị
1.3.1 Đặc điểm thị giác của trẻ em khiếm thị:
Việc đi lại cũng như quan sát một sự vật hiện tượng trở lên rất khó khăn. Người
khiếm thị khó khăn tiếp cận và hòa nhập trong một môi trường mới.
Cảm giác thị giác về thế giới quan tác động mạnh tới tâm lý con người. Do bị
thiếu đi đôi mắt nên người khiếm thị trong đó có trẻ em khiếm thị không thể quan sát
được không gian xung quanh. Lúc này, các em sử dụng các giác quan khác để bù đắp
lại sự thiếu hụt đó như sử dụng thính giác, sử dụng xúc giác
1.3.2 Đặc điểm thính giác của trẻ em khiếm thị
Cảm giác là các thông tin đơn lẻ phản ánh từng tính chất của sự vật và hiện tượng
được cơ quan cảm giác thu nhận (giác quan); Thính giác là cơ quan cảm giác âm
1.3.7 Cảm giác thăng bằng của trẻ em khiếm thị
Là cảm giác phản ánh sự cảm nhận cơ thể trong không gian.
Đối với trẻ em khiếm thị, cảm giác thăng bằng được hình thành và phát triển từ
rất sớm. Nó giúp cho các em có thể định hướng được vị trí, tư thế của cơ thể trong
không gian sống. Cảm giác thăng bằng của trẻ em khiếm thị tốt hơn so với người bình
thường nếu như người bình thường bị bịt mắt.
1.3.8 Đặc điểm tri giác của trẻ em khiếm thị
Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh trọn vẹn thuộc tính của sự vật và hiện
tượng khi chúng tác động trực tiếp vào các giác quan của ta. Hiệu quả tri giác sờ chỉ
7
được phát huy khi trẻ bị mù hoàn toàn. Đó là điều lý giải vì sao người sáng mắt khi bị
bịt mắt để sờ đọc và viết chữ nổi không hiểu quả như người mù.
1.4 Đặc điểm tâm lý của trẻ em khiếm thị
Ở trẻ khiếm thị, do ảnh hưởng của khuyết tật, tất cả các quá trình tâm lý đều có
khiếm khuyết, trong đó ảnh hưởng nhiều nhất là hoạt động tư duy. Bởi tư duy của con
người liên hệ chặt chẽ với quan sát. Hình ảnh, hiện vật, sự vật là cái vỏ bọc vật chất
đặc biệt của tư tưởng. Trẻ khiếm thị tiếp nhận sự vật, sự kiện muộn hơn so với trẻ bình
thường, chính vì thế trong hoạt động tư duy người ta thấy nhiều nét đặc thù. Những
nét đặc thù này cũng quy định một số đặc điểm trong học tập của trẻ khiếm thị, phân
biệt với những trẻ khác.
1.5 Nhu cầu người khiếm thị - trẻ em khiếm thị
1.5.1 Nhu cầu sinh lý
Đây là nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại như ăn uống, không khí,
nhà ở, đường đi, đồ đạc,…Nhu cầu về tình dục, kết hôn, sinh con. Người khiếm thị
luôn mong muốn có một cuộc sống khỏe, sống có ích.
Vậy để đáp ứng được với những mong ước của người khiếm thị về mặt sinh lý,
cộng đồng cần phải chung tay quan tâm giúp đỡ họ, tạo cho họ sự bình đẳng cả về vật
tuổi mà trước hết là quyền được hưởng một cuộc sống đầy đủ, càng bình thường và
trọn vẹn càng tốt.
1.5.5 Nhu cầu hòa nhập cộng đồng
Nhu cầu hòa nhập cộng đồng là nhu cầu lớn nhất đối với người khuyết tật. Hòa
nhập cộng đồng là một quá trình tạo điều kiện và cơ hội cho người khuyết tật bình
thường hóa các mối quan hệ để họ có thể tham gia,hòa nhập vào cộng đồng nơi họ cư
trú với tư cách một công dân, một thành viên của gia đình, cộng đồng, xã hội .
Cũng như những dạng khuyết tật khác, người khiếm thị luôn mong muốn được
hòa nhập cộng đồng để tự lập, đảm bảo cuộc sống và giúp ích cho xã hội.
1.6 Hoạt động vận động người khiếm thị
1.6.1 Năng lực vận động:
Năng lực vận động của trẻ em khiếm thị thể hiện ở việc nhanh chóng xác định
phương hướng của chuyển động. Để từ đó thực hiện một cách có hiệu quả các hành
động vận động nói chung và NLĐH trong không gian nói riêng. Phát triển tốt các năng
lực này sẽ giúp cho người khiếm thị thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác, hợp
lý các hoạt động vận động trong đời sống, lao động và sản xuất.
1.6.2 Năng lực định hướng
Phát triển năng lực vận động cho trẻ em khiếm thị cần quan tâm phát triển toàn
diện các năng lực phối hợp vận động nói trên, đặc biệt là NLĐH vận động, vì đối với
người khiếm thị việc xác định phương hướng là tiền đề vận động quan trọng nhất. Nói
một cách hình ảnh đó là chìa khóa để mở cánh cửa vận động của trẻ em khiếm thị.
9
Giáo dục định hướng vận động cho trẻ em cần phải trở thành nhiệm vụ quan
trọng của giáo dục thể chất trong trường học, trong gia đình và trong cộng để giúp trẻ
em khiếm thị điều kiện thuận lợi trong đời sống, trong học tập, lao động và hòa nhập
xã hội.
1.7 Định hướng GDTC cho trẻ em khiếm thị
7. Phương pháp quan sát sư phạm
8. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
9. Phương pháp Toán học thống kê
2.3 Tổ chức nghiên cứu
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu: Trường Nguyễn Đình Chiểu- Hà Nội; Trường Đại học
Thể dục thể thao Bắc Ninh; Viện khoa học Thể dục thể thao; Trung tâm trẻ em mù Hải
Phòng, Thái Nguyên, Thái Bình; Trường Nguyễn Đình Chiểu Hồ Chí Minh.
2.3.2 Tổ chức nghiên cứu: Luận án được tiến hành từ 1/2010 đến tháng 4/2015
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Thực trạng thể lực, năng lực định hướng và tập luyện TDTT của TEKT.
3.1.1 Thực trạng số lượng người khuyết tật và KT ở Việt Nam
Theo số liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (kết quả điều tra năm 1994,
1995 và năm 1998), hiện nay ở nước ta có trên 5,1 triệu người khuyết tật và trẻ mồ côi
(chiếm7% dân số), trong đó người KT chiếm 15,7%
Phân tích kết quả trình bày tại biểu đồ 3.1 cho thấy, người khuyết tật cơ quan VĐ
chiếm tỉ lệ cao nhất 35,46% sau đó là thị giác: 15,07%, thần kinh chiếm 13,93%.
3.1.2 Thực trạng TEKT lứa tuổi 6-9 tuổi tập trung tại một số trung tâm,
trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số tỉnh thành Miền Bắc
Bảng 3.3 TEKT 6-9 tuổi tại một số trung tâm, trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số
tỉnh thành Miền Bắc
Tuổi
Nam
Nữ
Tỷ lệ %
Tổng cộng
6 tuổi
31
25
21%
trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số tỉnh thành Miền Bắc là 266 em, tỷ lệ nam và nữ
không có sự chênh lệch rõ, cụ thể số lượng các em nam là 141 em và các em nữ là 125
em.
3.1.3 Thực trạng điều kiện sống, học tập của TEKT lứa tuổi 6-9 tuổi tập trung tại
một số trung tâm, trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số tỉnh thành Miền Bắc
3.1.3.1 Thực trạng cơ sở vật chất
Qua quan sát sư phạm kết hợp với số liệu của Hội Người mù Việt Nam và các
công trình khoa học đã công bố, tôi đã tập trung đánh giá thực trạng cở sở vật chất, đội
ngũ GV Thể dục ở một số trung tâm lớn: Trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội, Trường
nuôi dạy TEKT Hải Phòng và Trường PTĐB Nguyễn Đình Chiểu Thành phố Hồ Chí
Minh, kết quả được trình bày tại bảng 3.4
Bảng 3.4: Thực trạng cơ sở vật chất
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
Nội dung
Tổng số HS
Tổng số GV
Diện tích sân tập thể thao (m2)
Phòng tập GDTC
Sân bóng rổ
Bóng lục lạc
Dây nhảy
0
Nhiều
Nhiều
Nhiều
Nhiều
0
0
Phân tích số liệu khảo sát cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục TEKT trên cho thấy:
tỷ lệ HS trên GV từ 45 HS/1 GV đến 78 HS/1 GV. Như vậy số lượng GV trên tổng số HS
là quá nhỏ, khó có thể hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục, nhất là đối tượng
TEKT. Diện tích sân bãi dành cho việc rèn luyện thể chất khá đầy đủ, sân bãi rộng, bẳng
phẳng, nhưng dụng cụ tập luyện còn thiếu, đơn giản. Những dụng cụ bổ trợ chuyên dụng
12
giúp các em di chuyển, đi lại, hòa nhập cộng đồng thì hầu như không có. Các loại sách,
tài liệu định hướng về GDTC để GV sử dụng giảng dạy TEKT còn thiếu. Vì vậy GV gặp
nhiều khó khăn trong việc thực hiện nội dung chương trình GDTC nhằm giúp TEKT hòa
nhập với HS sáng mắt.
3.1.3.2. Thực trạng điều kiện sống, học tập của TEKT
Đối tượng đầu tiên được tôi phỏng vấn là 46 TEKT. Các em sống tập trung tại
một số trung tâm, trường, câu lạc bộ nuôi dạy ở một số tỉnh thành Miền Bắc, cụ thể là
Hà nội, Thái Bình và Hải Phòng. Với TEKT, khi phỏng vấn, tôi đọc câu hỏi cho các
em suy nghĩ, sau đó điền câu trả lời vào các mẫu phiếu có ghi sẵn tên. Trong quá trình
phỏng vấn, tôi sử dụng máy ghi âm để hỗ trợ. Nội dung và kết quả phỏng vấn được
trình bày tại bảng 3.6 và 3.7
TT
Mục đích hỏi
Nội dung hỏi
người
%
1
Cuộc sống hiện tại
2
Dạng KT
3
Nguyên nhân
Rất tốt
Tốt
Bình thường
Còn nhiều khó khăn
Không nhìn thấy gì
Nhìn quá kém
Nhìn kém vừa
Do bẩm sinh
Do bệnh tật
Do tai nạn
4
8
vào mức độ khuyết tật của thị giác. Trẻ em mù nhận biết thế giới bên ngoài không
phải bằng mắt. Do đó, hình ảnh của sự vật và hiện tượng thường không rõ ràng, thiếu
chính xác, đôi khi sai lệch. Mức độ khó khăn trong đời sống mà TEKT thường gặp
được trình bày tại biểu đồ 3.3
Qua biểu đồ 3.3 cho thấy, 100% các em được hỏi trả lời rằng vấn đề là khó khăn nhất
trong cuộc sống của các em là việc di chuyển, đi lại. Việc học tập và vui chơi TDTT cũng là
những trở ngại đối với TEKT với 89,1% và 84,8% ý kiến trả lời khẳng định. Chính vì ít
được vận động, vui chơi, tập luyện TDTT nên có 76.1% các em thấy sức khỏe của mình
yếu trình bày tại bảng 3.8
Bảng 3.8. Kết quả điều tra hiện trạng, nhu cầu tập luyện thể dục thể thao của trẻ
em khiếm thị (n=46)
Số
Tỷ lệ
TT
Mục đích hỏi
Nội dung hỏi
người
%
1
Thường xuyên
Tập luyện TDTT thường
Thỉnh thoảng
xuyên
Không tập
Để có sức khoẻ như mong muốn
2
19
27
4
3
25
39
30
58.7
8.7
6.5
54.3
84.8
65.2
38
82.6
0
30
15
1
0
65.2
32.6
2.2
Bảng 3.8 cho thấy: Do thiếu các thông tin thị giác nên việc tập luyện TDTT đối
với các em rất khó khăn. Chỉ có 4.3 % các em trả lời là thường xuyên tập luyện, còn
nhanh và sức bền để các em có thể dễ dàng và thuận lợi hơn trong hoạt động sống,
hoạt động học tập và lao động. Chỉ như vậy các em có thể hòa nhập với xã hội.
Phân tích kết quả phỏng vấn 29 chuyên gia và GV chuyên làm việc với TEKT,
được trình bày ở bảng 3.10 và biểu đồ 3.4 cho thấy, hiện nay có chương trình GDTC
bắt buộc dành cho trẻ em khuyết tật nhưng còn các hình thức, phương tiện và phương
pháp giáo dục khác giúp TEKT dễ dàng hòa nhập với cộng đồng (62,1% ), 31% ý kiến
trả lời khẳng định không có hình thức nào khác. Nội dung tập luyện các thầy cô
thường sử dụng là trò chơi (100%), thể dục rèn luyện tư thế cơ bản (62,1%). Các nội
dung ít được sử dụng hơn là đội hình đội ngũ (31%), bài tập phát triển chung (24,1%).
16
Sức khỏe và thể lực của TEKT kém so với tiêu chuẩn quy định (65,5%). Theo GV
và chuyên gia, trong quá trình dạy Thể dục cho TEKT họ gặp rất nhiều khó khăn như:
không có tài liệu GDTC dành riêng cho TEKT (100%), thiếu trang thiết bị giảng dạy
và tập luyện (93,1%), sức khỏe, thể lực của TEKT yếu, tiếp thu chậm (89,7%).
Các GV, các chuyên gia cho rằng các năng lực quan trọng và cần thiết đối với
TEKT là: sức mạnh (89,7%), sức nhanh (96,6%), sức bền (93,1%,) năng lực mềm dẻo
(79,3%), năng lực thăng bằng (86,2% ) và đặc biệt 100% GV khẳng định năng lực xác
định phương hướng là quan trọng nhất và rất cần thiết đối với TEKT. Theo họ, cần có
một chương trình GDTC dành riêng cho TEKT (93,1%).
3.1.4 Nghiên cứu, lựa chọn hệ thống test đánh giá thể lực và năng lực định
hướng cho trẻ khiếm thị (6-9 tuổi).
Tham khảo các tài liệu nghiên cứu trong nước tôi nhận thấy, hiện nay nước ta hầu
như chưa có các test đánh giá năng lực phối hợp vận động, đặc biệt là test đánh giá
NLĐH của TEKT. Vì vậy tôi đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu xây dựng một số test
phù hợp với đặc điểm cuae TEKT để đánh giá NLĐH và thể lực của các em.
Phân tích kết quả trình bày tại bảng 3.13 tôi nhận thấy:
- Về hình thái có 4 test được lựa chọn là: Chiều cao đứng (cm) 96,6%, cân nặng
6
7
8
9
Tuổi
6
7
8
9
Chỉ số
1.76
1.87
2.07
2.44
Chỉ số
15.3
15.68
16.45
18.48
XẾP LOẠI
Hết sức gầy
Hết sức gầy
Hết sức gầy
Hết sức gầy
BMI
Kém cân đối
Kém cân đối
Kết quả trình bày tại bảng 3.16 cho thấy: hình thái TEKT từ 6 đến 9 tuổi ở mức
kém cân đối: chỉ số BMI từ 14.56 đến 18.48 (TE bình thường 18.5 ≤ BMI ≤ 20). Với
chỉ số Quetelet đều cho thấy các em ở mức từ rất gầy đến hết sức gầy. Các em bị thiếu
cân so với chiều cao của mình. Thực tế này cho thấy TEKT còn thiếu dinh dưỡng để
phát triển cơ thể.
Ngoài yếu tố dinh dưỡng thì việc chưa có chế độ tập luyện TDTT phù hợp cũng
làm ảnh hưởng đến sự phát triển HT của các em. Do thiếu các thông tin thị giác nên
việc tập luyện TDTT đối với các em rất khó khăn. Các em không có hình ảnh về môi
trường xung quanh mình và chưa hiểu được ý nghĩa của tập luyện thể thao nên hầu hết
TEK chưa tham gia rèn luyện TDTT.
18
Bảng 3.17.
Thực trạng chức năng của TEKT (6-9 tuổi)
Tuổi
Chỉ số HW (công năng tim)
NAM
6
7
8
9
Kém
Kém
Kém
Kém
NỮ
XẾP LOẠI
Kém
Kém
Trung bình
3.8 cm
4.1cm
3.3 cm
XẾP LOẠI
Kém
Kém
Kém
19
9
4.1cm
Kém
5.2 cm
Qua bảng 3.28; 3.29 cho thấy: Đối với nam: Ở cả 4 lứa tuổi TEKT nam đều có
cân nặng thấp hơn so với các em nam sáng mắt (P
Mục đích phỏng vấn của tôi là tham khảo quan điểm của chuyên gia về lựa chọn
các dạng bài tập nhằm nâng cao thể lực và năng lực vận động của TEKT. Phiếu hỏi
đưa ra 5 dạng bài tập khác nhau. Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 3.36
Bảng 3.36: Kết quả phỏng vấn lựa chọn các dạng bài tập TDTT nhằm
nâng cao thể lực và năng lực vận động của TEKT (n = 29)
Các dạng bài tập TDTT nhằm nâng cao thể lực và
Đồng ý
TT
năng lực vận động của TEKT
Số
Tỷ lệ %
người
1
Bài tập sử dụng tín hiệu âm thanh
29
100
2
Bài tập sử dụng lời nói đề ra các nhiệm vụ cụ thể
29
100
3
Bài tập xác định khoảng cách
29
100
4
Bài tập điền kinh
25
86.2
5
giá.
23
Nội dung cụ thể của các dạng bài tập được lựa chọn phát triển NLĐH trong không
gian được trình bày cụ thể tại phụ lục 6 của đề tài.
Kết quả phỏng vấn được trình bày ở bảng 3.38
Như vậy trong 45 bài tập mà đề tài đưa ra phỏng vấn, tôi đã lựa chọn được 37 bài
tập có sự thống nhất cao về mức độ ưu tiên của các chuyên gia (tổng điểm từ 120
đến 145 điểm). Tuy nhiên qua nghiên cứu thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy trò chơi
“Người đi thẳng nhất” tuy có số điểm lựa chọn cao (141 điểm) nhưng lại có nhiều
điểm tương đồng với test “ Xác định khoảng cách” . Vì vậy tôi quyết định chỉ sử
dụng 36 bài tập có mức độ ưu tiên cao và không trùng lặp với test kiểm tra để đưa
vào sử dụng.
3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập TDTT nâng cao thể lực và
năng lực định hướng của TEKT.
Để kiểm tra, đánh giá hiệu quả các bài tập TDTT nhằm mục đích nâng cao thể
lực và NLĐH của TEKT, tôi đã tiến hành thực hiện các bước sau:
3.3.1 Tổ chức nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
Trong quá trình thực nghiệm cả hai nhóm đối chứng và thực nghiệm đều áp
dụng chung cơ cấu một giờ lên lớp gồm 3 phần: phần mở đầu, phần cơ bản: và phần
kết thúc. Số giờ học ngoại khóa như nhau (2 buổi/tuần). Điểm mới trong thực nghiệm
là đưa nội dung các bài tập TDTT có tác dụng nâng cao thể lực và bồi dưỡng NLĐH
vận động của TEKT.
Thời điểm tập: 16h00 đến 16h30: là thời gian sinh hoạt tự chọn của các em
39
40
41
42
0
2
0
0
2
125
125
141
135
145
143
133
24
Thời gian 1 buổi tập 30phút/buổi tập; 1 tuần 2 buổi vào các ngày thứ 3 và thứ 5
hàng tuần theo tiến trình đã được trình bày rõ ở phụ lục 5 của đề tài.
Nội dung:
Nhóm đối chứng : thực hiện theo các nội dung của giờ học ngoại khóa đang tiến
hành.
Nhóm thực nghiệm: thưc hiện những tổ hợp bài tập đã lựa chọn theo tiến trình
được nhóm nghiên cứu xây dựng. Các em được tham gia chơi các trò chơi, thực hiện
các bài tập và NCTL chung.
Như vậy có thể thấy đặc thù cơ bản trong buổi tập của nhóm TN được thể hiện ở
nội dung tập luyện khác biệt và phong phú hơn so với nhóm ĐC.
3.3.2 Phân bổ thời gian và đối tượng TN
Đề tài TN trong 10 tháng: Từ tháng 9/2012 đến tháng 6/2011 (Lấy khoảng thời
gian năm học làm thời gian nghiên cứu). Đề tài đã sử dụng phương pháp TN sư phạm
Về NLĐH vận động: cho thấy các dạng bài tập phát triển NLĐH vận động có tác
dụng tốt. Kết quả thu được ở 20 test kiểm tra, đánh giá năng lực này ở nam và nữ cả 4
độ tuổi dều có sự khác biệt rõ. Cả nam và nữ nhóm thực nghiệm đều có sự phát triển
NLĐH vận động tốt hơn hẳn các em nam và nữ nhóm đối chứng có cùng lứa tuổi
(P