SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Mã số: ................................
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
Áp dụng hình thức dạy học theo chủ đề
để nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Hà, Trần Thị Châu Thưởng,
Bùi Thanh Tường, Nguyễn Thị Thanh Phương, Ngô Đình Vân Nhi,
Trương Thu Hường, Nguyễn Thị Kiều Giang, Nguyễn Thị Kim Dung,
Trương Thị Thu Mây
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in Báo cáo NCKHSPƯD
Mô hình
Đĩa CD (DVD)
Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2015 - 2016
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Hà
ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
CHO HỌC SINH THPT
Các tác giả:
- Chủ biên: Nguyễn Thị Thu Hà
- Đồng tác giả: Trần Thị Châu Thưởng, Bùi Thanh Tường, Nguyễn Thị Thanh
Phương, Ngô Đình Vân Nhi, Trương Thu Hường, Nguyễn Thị Kiều Giang,
Nguyễn Thị Kim Dung, Trương Thị Thu Mây.
Đơn vị: Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Ngày 4/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số số 29NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của ngành
giáo dục và đào tạo trong thời gian tới là: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các
yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng
lực của người học. Đối với giáo dục phổ thông, Nghị quyết đã xác định: Tập trung
phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và
bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,
ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực
tiễn. Quan điểm chỉ đạo ấy trở thành kim chỉ nam cho những định hướng đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2018. Trong đó, đổi mới mang tính cốt
lõi là chuyển từ chương trình định hướng nội dung sang chương trình định hướng
năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu
phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri
thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải
quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp (Bộ Giáo dục & Đào tạo - Vụ
Giáo dục trung học - Chương trình phát triển giáo dục trung học, Dạy học và kiểm
tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh, Hà Nội,
2014).
dạy học văn”; “Đọc - hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của
hoạt động đọc; đọc - hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc”
(Nguyễn Thanh Hùng, Kĩ năng đọc hiểu Văn, NXB Đại học Sư phạm, 2014, tr. 34
– 35). Tác giả đã đi vào lí giải nội hàm của “hiểu”: “Hiểu là phát hiện và nắm
vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các
mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống.
Hiểu tức là phải trả lời được các câu hỏi: Cái gì?, Như thế nào?, Vì sao?, Làm
như thế nào?. Đó là biết và làm trong đọc hiểu... Hiểu là quá trình nhận thức văn
bản toàn vẹn”.
GS.TS. Trần Đình Sử đã chỉ ra một số nội dung quan trọng về đọc hiểu:
“Một, đọc là quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất phải hiểu ngôn ngữ của
văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ thể loại của văn bản);
phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú, nhu cầu, năng lực) và tác động
qua lại giữa chủ thể và văn bản. Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với
người tạo ra văn bản (tác giả, xã hội, văn hoá). Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn
hoá văn bản (hưởng thụ, giải trí, học tập). Bốn, đọc là quá trình tạo ra các năng
lực người (năng lực hiểu mình, hiểu văn hoá và hiểu thế giới). Như thế đọc là một
hoạt động văn hoá có tầm nhân loại và ý nghĩa giáo dục sâu sắc” (Trần Đình Sử,
Văn bản văn học và đọc hiểu văn bản, in trong Tài liệu tập huấn giáo viên trường
4
chuyên). Theo ông, hiểu là cảm thụ (tiếp nhận) kí hiệu vật chất (màu sắc, con
chữ...); nhận ra kí hiệu quen hay lạ, hiểu ý nghĩa của nó được lặp lại trong ngôn
ngữ; hiểu ý nghĩa của nó trong ngữ cảnh. Hiểu là biến cái của người khác thành cái
vừa của mình, vừa của người khác.
Như vậy, trong các quan niệm trên đây, dù đứng ở góc độ nào cũng thấy
“đọc” được coi là một quá trình tổng hợp, đòi hỏi sử dụng nhiều kĩ năng; “hiểu”
là mục đích của “đọc”; để đọc hiểu, người đọc phải tích cực, chủ động, có kiến
thức căn bản, có kĩ năng để khám phá văn bản.
dựng và dạy học theo chủ đề môn Ngữ văn, Hà Nội, 2015). Việc dạy học theo chủ
đề là hình thức dạy học giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống, có
5
thể mở rộng kiến thức ra ngoài phạm vi sách giáo khoa; quan trọng nhất là học
sinh được rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản, từ đó nâng cao năng lực tiếp nhận
cũng như tạo lập văn bản.
Vì vậy, giải pháp của chúng tôi là tổ chức dạy học theo chủ đề, giúp học
sinh nâng cao các năng lực học tập của môn học, cụ thể là năng lực tiếp nhận và
năng lực tạo lập văn bản; thông qua năng lực học tập bộ môn để hướng tới hình
thành các năng lực chung và năng lực đặc thù của môn học.
Theo kế hoạch của tổ chuyên môn, hình thức dạy học theo chủ đề sẽ được
chúng tôi triển khai theo từng năm học. Mỗi năm học chúng tôi dạy học một chủ
đề mỗi khối lớp. Cụ thể, năm học 2015 – 2016, tổ chức dạy học chủ đề Ca dao ở
khối 10; dạy học chủ đề Văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 ở khốí
11.
Nghiên cứu được tiến hành thành bốn giai đoạn.
Giai đoạn 1: Tổ chức thảo luận về đề tài dạy học Ngữ văn theo chủ đề để
nâng cao năng lực đọc hiểu cho học sinh THPT.
Giai đoạn 2: Tổ chức dạy học chủ đề Ca dao ở các lớp 10 Anh1, 10 Anh2,
10 Sử, 10 Sinh; dạy học chủ đề Văn học lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
ở các lớp 11 Anh1 và 11 Toán, 11 Lý. Các lớp còn lại của khối 10 và 11 được coi
là lớp đối chứng.
Giai đoạn 3: Tổ chức kiểm tra đánh giá giữa lớp đối chứng và lớp thực
nghiệm.
Giai đoạn 4: Tổ chức thảo luận rút kinh nghiệm.
Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả học tập của
học sinh: lớp thực nghiệm đã đạt kết quả học tập cao hơn so với lớp và nhóm đối
chứng; học sinh lớp thực nghiệm có hứng thú và đạt mức độ phát triển những năng
năng lực chung và chuyên biệt cần thiết.
Vấn đề nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nói chung và nâng cao năng lực
đọc hiểu văn bản văn học nói riêng cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn đã
được các nhà nghiên cứu và các giáo viên quan tâm trong những năm gần đây.
Giáo sư, TS Nguyễn Thanh Hùng – một trong những nhà nghiên cứu đặt nền
móng cho vấn đề dạy đọc - hiểu ở Việt Nam, đã thực hiện tiểu luận khoa học mang
tên Dạy đọc - hiểu là nền tảng văn hoá cho người đọc, trình bày tại Hội thảo khoa
học chương trình và SGK thí điểm tổ chức tháng 9/2000 tại Hà Nội. Tại đây
giáo sư đã trình bày những phác thảo mang tính nền tảng cho việc
nghiên cứu và ứng dụng việc dạy đọc - hiểu văn bản văn học trong nhà trường.
Gần đây nhất, những vấn đề mấu chốt của vấn đề đọc hiểu văn bản văn học trong
nhà trường phổ thông đã được nhà nghiên cứu trình bày tương đối đầy đủ và hệ
thống trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu Văn (NXB ĐH Sư phạm, 2011).
- Một nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp trong việc phát triển lí luận dạy học
Ngữ văn, nhất là quan niệm về đọc - hiểu và dạy đọc hiểu văn bản trong nhà
trường phổ thông là Giáo sư Trần Đình Sử. Từ năm 2003, ông đã có bài viết Đọc
hiểu văn bản – Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay
(Hà Nội, 2003, bổ sung 2013, Bài đã đăng Báo Văn nghệ). Năm 2012, ông tiếp tục
trình bày một chuyên đề công phu thể hiện quan niệm về dạy học đọc hiểu văn
bản: Văn bản văn học và đọc – hiểu văn bản (Đỗ Ngọc Thống chủ biên, Tài liệu
chuyên Văn, Tập một, NXB GDVN, 2012). Chuyên đề đi sâu vào hai nội dung: thứ
nhất là quan niệm về văn bản văn học, thứ hai là quan niệm về đọc - hiểu văn bản;
từ đó, gợi ra một số vấn đề về dạy đọc – hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông.
Về vấn đề dạy học môn Ngữ văn theo chủ đề có thể kể đến một số tài liệu,
sáng kiến kinh nghiệm của giáo viên:
- Bộ tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn
Trung học phổ thông (Bộ GD & ĐT, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010) gồm có hai
7
thức dạy học theo chủ đề trong việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản văn học
cho học sinh; từ đó, thấy được vai trò to lớn và vị trí không thể thiếu được của hình
thức dạy học theo chủ đề đối với chương trình giáo dục Việt Nam nói chung và đối
với việc dạy học môn Ngữ văn nói riêng.
Vấn đề nghiên cứu: Việc tổ chức dạy học theo chủ đề có nâng cao năng lực
đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh lớp 10 và 11 không?
Giả thuyết nghiên cứu: Tổ chức hình thức dạy học theo chủ đề sẽ nâng cao
năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh lớp 10 và 11 Trường trung học
phổ thông chuyên Lương Thế Vinh.
8
III. PHƯƠNG PHÁP
Chúng tôi tiến hành hoạt động nghiên cứu hình thức dạy học theo chủ đề với
hai chủ đề (tương ứng với hai hoạt động) trên hai đối tượng học sinh thuộc hai khối
khác nhau:
- Hoạt động 1: Dạy học chủ đề Ca dao
+ Lớp thực nghiệm: Lớp 10 Sinh.
+ Lớp đối chứng: Lớp 10 Hóa 1.
- Hoạt động 2: Dạy học chủ đề Văn xuôi lãng mạn Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945
+ Lớp thực nghiệm: Lớp 11 Anh 1.
+ Lớp đối chứng: Lớp 11 Anh2.
3.1. Khách thể nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn học sinh hai lớp 10 Sinh và 10 Hóa1 (hoạt động 1); hai
lớp 11 Anh1 và 11 Anh2 (hoạt động 2) của trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
vì học sinh các lớp này hội tụ những điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu ứng
dụng. Cụ thể:
a. Giáo viên:
- Hoạt động 1: Bộ môn Ngữ văn của hai lớp 10 Sinh và 10 Hóa 1 được dạy
+ Điểm TB môn Ngữ văn năm trước: Tương đương nhau.
- Về ý thức học tập, học sinh ở hai lớp đa số đều tích cực, chủ động.
3.2. Thiết kế bảng kiểm chứng
3.2.1. Kiểm tra trước tác động để xác định các nhóm tương đương
- Hoạt động 1:
Chọn hai lớp nguyên vẹn: lớp 10 Hóa 1 là nhóm đối chứng và lớp 10 Sinh là
nhóm thực nghiệm. Chúng tôi dùng bài kiểm tra về phần Cổ tích và Sử thi làm bài
kiểm tra trước tác động (khi chưa thực hiện dạy học theo chủ đề). Kết quả kiểm tra
cho thấy điểm trung bình của hai lớp là tương đương nhau. Chúng tôi đã dùng
phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của
2 nhóm trước khi tác động. Kết quả kiểm chứng như sau:
Bảng 1: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương
Đối chứng
Thực nghiệm
TBC
6.49
6.54
p=
0.80
p là xác xuất xảy ra ngẫu nhiên (kiểm tra độ chênh lệch giữa giá trị trung
bình của hai nhóm riêng rẽ (nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng)), thông thường
hệ số p được quy định p ≤ 0.05. Trong phép kiểm chứng T-Test, chúng ta thường
tính giá trị p. Giá trị p được giải thích như sau:
Khi kết quả
Chênh lệch giữa giá trị trung bình của 2 nhóm
p ≤ 0.05
Có ý nghĩa
(chênh lệch không có khả năng xảy ra ngẫu nhiên)
p > 0.05
KHÔNG có ý nghĩa
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu
Nhóm
Mã KT trước TĐ
Tác động
Mã KT sau TĐ
Thực nghiệm
01
03
Đối chứng
02
Có sử dụng phương pháp
dạy học theo chủ đề
Không sử dụng phương
pháp dạy học theo chủ
đề
04
3.2. Quy trình nghiên cứu
3.2.1. Chuẩn bị bài của giáo viên và học sinh
a. Chuẩn bị Giáo án
hướng dẫn học sinh thực hiện việc chuẩn bị bài và thực hiện quy trình dạy học theo
phương pháp truyền thống.
- Nhóm nghiên cứu do giáo viên Trương Thị Thu Mây (hoạt động 1) và giáo
viên Nguyễn Thị Kiều Giang (hoạt động 2) trực tiếp thực hiện giờ lên lớp: Thiết kế
bài giảng và kế hoạch dạy học; hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài theo phương pháp
dạy học chủ đề. Cụ thể:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo chủ đề, bằng các
câu hỏi hướng dẫn khái quát.
+ Giáo viên và học sinh chuẩn bị một số dụng cụ học tập phục vụ cho việc
dạy học theo phương pháp, định hướng mới.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp tự tìm hiểu, mở rộng chủ đề.
3.2.2. Tiến hành dạy thực nghiệm
Trong thời gian tiến hành thực nghiệm, giáo viên dạy lớp đối chứng (10 Hóa
1 - hoạt động 1 và 11 Anh2 - hoạt động 2) vẫn thực hiện theo kế hoạch dạy học và
theo thời khóa biểu của nhà trường để đảm bảo tính khách quan. Lớp thực nghiệm
(10 Sinh - hoạt động 1 và 11 Anh1 - hoạt động 2) được dạy theo phân phối chương
trình riêng (theo cụm chủ đề). Cụ thể:
Hoạt động 1:
Bảng 6: Thời gian thực hiện
Tuần
9
Tiết
PPCT
25
26
27
10
Bảng 7: Thời gian thực hiện
Tên bài dạy
Ghi
chú
Khái quát về Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
Vận dụng: rèn luyện kĩ năng đọc hiểu Văn xuôi lãng
mạn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
Kiểm tra, đánh giá.
3.2.3. Đo lường
a.
Tiến hành kiểm tra và chấm bài
Hoạt động 1:
- Hai đề kiểm tra có cách thiết kế đề tương tự nhau, độ khó tương đương
nhau.
- Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra tại lớp, thời gian làm bài 45
phút do giáo viên dạy hai lớp 10 Sinh và 10 Hóa1 cùng nhóm nghiên cứu thiết kế
và xây dựng. Nội dung kiến thức thuộc phần Sử thi và Truyện cổ tích. Bài kiểm tra
này được thực hiện vào tuần 8, năm học 2015 - 2016. (Đề và Hướng dẫn chấm
chúng tôi đính kèm ở Phụ lục 2.1)
- Bài kiểm tra sau tác động được thực hiện sau khi lớp thực nghiệm thực
hiện xong hoạt động dạy học theo chủ đề, chủ đề Ca dao. Được thực hiện vào tuần
10, năm học 2015 - 2016. Hình thức kiểm tra trên lớp, thời gian 45 phút. (Đề và
Hướng dẫn chấm chúng tôi đính kèm ở Phụ lục 2.2)
Sau đó nhóm nghiên cứu cùng giáo viên giảng dạy các lớp (thực nghiệm và
Độ lệch chuẩn (SD)
0.7
0.69
Giá trị p của T- test (p)
0.003
Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD)
0.81
Hoạt động 2:
Bảng 9: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động
Tiêu chí
Đối chứng
Thực nghiệm
ĐTB
7.32
7.78
Độ lệch chuẩn (SD)
0.48
0.62
Giá trị p của T- test (p)
0.006
Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD)
0.96
Dựa trên kết quả phân tích các bài kiểm tra sau tác động ở cả lớp đối chứng
và lớp thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành phân tích mức độ ảnh hưởng của tác
động đến kết quả học tập của học sinh.
Mức độ ảnh hưởng (ES) cho biết độ lớn ảnh hưởng của tác động đối với đối
tượng nhận tác động. Độ chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) chính là công
cụ đo mức độ ảnh hưởng. Năm 1998, Cohen đã đề xuất công thức tính mức độ ảnh
hưởng của tác động áp dụng trong nghiên cứu Sư phạm ứng dụng như sau:
(hoạt động 2). Đối chiếu với bảng mức độ ảnh hưởng
Cohen, chúng tôi nhận thấy ở cả hai hoạt động đã triển khai, mức độ ảnh hưởng
của dạy học theo chủ đề đến điểm TBC kiểm tra của nhóm thực nghiệm là Lớn
(SMD nằm trong khoảng 0.8 - 1.0).
Giả thuyết của đề tài: Tổ chức hình thức dạy học theo chủ đề sẽ nâng cao
năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh lớp 10 và 11 Trường trung học phổ
thông chuyên Lương Thế Vinh đã được kiểm chứng.
Hình 1. Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng (hoạt động 1)
15
Hình 2. Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động của nhóm thực
nghiệm và nhóm đối chứng (hoạt động 2)
IV. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ
Bảng 10: Độ chênh lệch điểm trung bình bài kiểm tra trước và sau tác động
Bài kiểm tra
Độ chênh lệch
Hoạt động 1
Hoạt động 2
Trước tác động
+ 0.05
- 0.09
Sau tác động
+ 0.57
+ 0.46
Mức tang
0.52
phải dễ dàng. Bởi hình thức dạy học này đòi hỏi giáo viên và học sinh đầu tư nhiều
thời gian, công sức và sự chủ động tiếp cận kiến thức. Tuy vậy, bước đầu thực
hiện, chúng tôi đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận. Đây là tiền đề để chúng
tôi rút kinh nghiệm và tiếp tục hoàn thiện hai chủ đề đã thử nghiệm cũng như thực
hiện các chủ đề khác.
17
V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
- Kết luận
Như vậy, dạy học theo chủ đề giúp học sinh tránh được những kiến thức, kỹ
năng bị trùng lặp; phân biệt được nội dung trọng tâm và nội dung ít quan trọng;
gắn liền kiến thức với kinh nghiệm sống của học sinh; thiết lập mối liên hệ giữa
các khái niệm đã học; cảm thấy quá trình học tập có ý nghĩa và hứng thú để từ đó
phát triển năng lực cho học sinh.
Đặc biệt, dạy và học theo chủ đề cung cấp tri thức đọc hiểu cơ bản, hệ thống,
tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên rèn luyện và nâng cao năng lực đọc hiểu văn
bản văn học cho học sinh. Từ đó, học sinh có khả năng tiếp nhận các văn bản cùng
một chủ đề trong và ngoài SGK.
Đối với việc học môn Ngữ văn, dạy học theo chủ đề giúp các em đạt kết quả
cao hơn trong học tập; rèn luyện các năng lực khác, đặc biệt là năng lực tự học.
- Khuyến nghị
Trong tương lai, CT và SGK được biên soạn lại theo hướng dạy học tích hợp
và dạy học phân hóa. Vì vậy, Ban giám hiệu nhà trường cần chú trọng phát huy
hình thức dạy học theo chủ đề để nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho
học sinh; đồng thời giúp giáo viên tiếp cận và tích lũy kinh nghiệm với xu hướng
dạy học này.
Giáo viên cần nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của hình thức dạy học
theo chủ đề để nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh. Khi thực
liệu chuyên văn do Đỗ Ngọc Thống chủ biên), NXB. Giáo dục Việt Nam, 2012
- Bộ GD&ĐT, Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn Trung học
phổ thông, NXB. Giáo dục Việt Nam, 2010
- Lê Việt Hùng, Dạy học Ngữ văn theo chủ đề, Sở GD&ĐT Đồng Nai, 2015
19
VII. PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Giáo án chủ đề
1.1. Chủ đề lớp 10
Chủ đề: CA DAO VIỆT NAM (Ngữ văn 10 – Cơ bản)
(Thời lượng 4 tiết)
I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Hiểu được truyền thống tốt đẹp của nhân dân trong tình yêu lứa đôi và tình nghĩa
đối với quê hương, con người.
- Thấy được vẻ đẹp của những hình ảnh ẩn dụ, những hình thức lặp lại và thể thơ
truyền thống trong ca dao.
- Hiểu được thân phận, nỗi niềm của người phụ nữ, người nông dân ngày xưa.
- Thấy được giá trị nghệ thuật của những hình ảnh so sánh, ẩn dụ và biểu tượng
trong ca dao.
- Cảm nhận được tiếng cười lạc quan yêu đời của người bình dân trong xã hội xưa ;
- Thấy được nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh trong các bài ca dao hài
hước.
- Nắm được những đặc trưng thi pháp ca dao Việt Nam
II. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức
- Tình cảm yêu thương thuỷ chung, đằm thắm ân tình của người bình dân trong xã
hội cũ.
- Những đặc sắc của nghệ thuật dân gian trong việc thể hiện tâm hồn người lao
- Năng lực đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
III. KẾ HOẠCH
1. Thời gian
- Tuần 8 và 9 theo PPCT
- Thời lượng: 4 tiết
2. Chuẩn bị
a) Giáo viên
- Giáo án
- Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
- Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
- Hướng dẫn tài liệu tham khảo:
+ Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB KHXH, 1996.
+ Bùi Mạnh Nhị, VHDGVN những công trình nghiên cứu, NXB ĐHSP, 2000.
+ Nguyễn Xuân Kính - Thi pháp ca dao
+ Tài liệu chuyên văn lớp 10
+ Chuyên đề chuyên sâu Ngữ văn 10
b) Học sinh
- Đồ dùng học tập
- Đọc tài liệu tham khảo, hoàn thành phiếu học tập
- Sưu tầm các bài ca dao cùng chủ đề
- Lập dàn ý đề luyện tập
IV. KHUNG NĂNG LỰC, PHẨM CHẤT
NỘI DUNG Nhận biết
Thông hiểu
Vận
dụng Vận
dụng
thấp
cao
Khái quát về - Biết được - Hiểu đặc - Chỉ ra được - Phân biệt
cảm,
thân
phận
của
người nông
dân,
người
phụ nữ trong
xã hội xưa,
tiếng cười lạc
quan yêu đời.
- Hiểu được
vẻ đẹp tâm
hồn con người
lao động Việt
Nam qua ca
dao
- Hiểu được
hiệu quả của
các thủ pháp
nghệ
thuật
trong các văn
bản ca dao
được - Hiểu và
đặc phân
tích
sống
chủ đề
- So sánh để
thấy
điểm
giống và khác
trong
nội
dung trữ tình
và hình thức
nghệ thuật của
các văn bản
ca dao khác
chủ đề
- Phân tích
được giá trị
nội dung và
nghệ thuật của
các bài ca dao
cùng chủ đề
- Phân tích
được trị nội
dung và nghệ
thuật của các
bài ca dao
khác
Đặc trưng - Nắm
thi pháp
những
theo
quan điểm thi
pháp
bản ca dao
ngoài chương
trình
theo
quan điểm thi
pháp
IV – TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1. Ổn định lớp
2. Kiểm tra chuẩn bị bài của học sinh
3. Bài mới
3.1. Hoạt động trải nghiệm
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
YÊU CẦU CẦN ĐẠT
GV - cho HS nghe một số bài dân ca,
yêu cầu xác định phần lời thơ cốt lõi
(không kể những tiếng đệm, tiếng láy,
tiếng đưa hơi)
Giới thiệu về ca dao, dân ca:
Ca dao, dân ca: Là những sáng tác trữ
tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm
của con người.
+ Dân ca: Là những sáng tác kết hợp
lời và nhạc.
+ Ca dao: Là lời của dân ca (phần lời
- GV yêu cầu HS xác định:
+ Khái niệm ca dao
(?) Từ những lời thơ vừa tìm được,
kết hợp với kiến thức đã học trong bài
khái quát, cho biết ca dao là gì.
HS trả lời. GV chốt ý.
HS gạch chân, ghi chép theo SGK
YÊU CẦU CẦN ĐẠT
I. Khái quát về ca dao
1. Khái niệm
- Ca dao: Là tác phẩm thơ
trữ tình dân gian, thường kết
hợp với âm nhạc khi diễn
xướng, được sáng tác nhằm
diễn tả thế giới nội tâm của
con người.
Hoạt động 2: GV hướng dẫn HS
tìm hiểu chung về các chủ đề chính
của ca dao.
2. Các chủ đề chính
GV: Phân loại theo chức năng:
những bài ca nghi lễ, lao động, đồng
dao, giao duyên, hát ru,…
2.1. Ca dao yêu thương,
(?) Phân loại theo chủ đề, ca dao gồm tình nghĩa
những nhóm bài nào? Khái quát nội - Nội dung,
dung ý nghĩa của mỗi chủ đề.
+ Tình cảm gia đình
đổi thông tin
- Tự học, giải
quyết vấn đề
24
+ Hãy khái quát nội dung, ý nghĩa của
những bài ca dao than thân, phản
kháng.
+ GV cho HS đọc một số bài ca dao
hài hước, châm biếm và khái quát
những nội dung chính
+ Hoàn cảnh ra đời của những bài ca
dao hài hước, châm biếm?
+ Khái quát nội dung, ý nghĩa của
những bài ca dao hài hước, châm
biếm?
2.3. Ca dao hài hước,
châm biếm
- Nội dung:
+ Tiếng cười hài hước, tiếng
cười tự trào.
+ Tiếng cười phê phán những
thói hư tật xấu, những hạng
người đáng cười trong xã
Ước gì sông rộng một gang
25