MỤC LỤC
NỘI DUNG
.......................................................................................TRANG
MỤC LỤC
..............................…………………………………………….1
Danh mục chữ viết tắt .............................................................................................2
I. Lí do chọn đề tài ..................................................................................................3
II. Cơ sở lý luận và thực tiễn............................................................................... .. .5
1.
2.
Cơ sở lý luận.........................................................................5
Cơ sở thực tiễn.....................................................................8
III. Tổ chức thực hiện các giải pháp.......................................................................12
3.1 Xây dựng tư liệu học tập các cuộc cách mạng tư sản đầu
thời cận đại ...........................................................................12
3.2 Một số biện pháp sử dụng tư liệu học tập các cuộc cách mạng
tư sản đầu thời cận đại theo hướng phát huy tính tích cực của
học sinh..................................................................................29
IV. Hiệu quả của đề tài .......................... ..............................................................43
V. Đề xuất, khuyến nghị và khả năng áp dụng...................................................44
VI. Tài liệu tham khảo......................................................................................45
VII. Phụ lục.......................................................................................................47
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1
PL
:
Phụ lục
PPDH
:
Phương pháp dạy học
PPDHLS
:
Phương pháp dạy học lịch sử
QTDH
:
Qúa trình dạy học
SGK
:
Sách giáo khoa
phương pháp. Công cuộc đổi mới này đã thu hút toàn thể xã hội vào cuộc. Đảng,
nhà nước không ngừng đẩy mạnh đầu tư kinh phí, thu hút nhân tài để xây dựng
chiến lược phát triển khả thi. Ngành Giáo dục tiến hành đổi mới chương trình và
sách giáo khoa, kiểm tra đánh giá… tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong
toàn bộ hệ thống giáo dục. Các nhà nghiên cứu giáo dục cũng đã tốn nhiều công
sức, tâm huyết cho vấn đề đổi mới phương pháp dạy học. Nhiều công trình nghiên
cứu mới ra đời, nhiều cuộc hội thảo khoa học về phương pháp giáo dục nói chung,
phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng được tổ chức công phu để tìm giải pháp
hữu hiệu nâng cao chất lượng dạy học. Cán bộ, giáo viên các trường phổ thông
cũng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, không ngừng tìm mọi giải pháp
để từng bước nâng cao chất lượng dạy học. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
ban đầu đã được nhìn nhận thì còn nhiều vấn đề bất cập, gây không ít sự tranh luận
cũng như đặt ra nhiều câu hỏi cho những người trong cuộc. Chất lượng dạy học nói
chung phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Tuy nhiên, dù là cách dạy học truyền thống hay
hiện đại, vấn đề phương pháp vẫn là yếu tố mang tính quyết định. Phương pháp
dạy học (PPDH) lịch sử trong những năm gần đây được các nhà khoa học trên thế
giới cũng như trong nước nhìn nhận một cách toàn diện hơn với tư cách là một
khoa học. Từ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn đã và đang đặt ra hiện nay,
có rất nhiều cách thức, phương pháp để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở
trường phổ thông, trong đó có phương pháp sử dụng các nguồn tư liệu đã chứng tỏ
được ưu thế trong việc góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử.
3
3
Là một giáo viên (GV) trung học phổ thông làm thế nào để học sinh (HS)
thích học bộ môn Lịch sử? Làm thế nào để góp phần nâng cao chất lượng dạy học
bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông. Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề “Xây dựng tư
phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập lịch sử và giảng dạy lịch
sử địa phương ở trường Trung học phổ thông của Vụ Giáo dục Trung học (Bộ
Giáo dục & Đào tạo), Hà Nội, 2008.
Trong vài chục năm gần đây, nền Giáo dục - Đào tạo nước nhà đã và đang
được đổi mới một cách toàn diện từ nội dung, chương trình, sách giáo khoa, kiểm
tra - đánh giá…Theo đó, hiện nay sách giáo khoa là tài liệu tham khảo cơ bản được
viết cho học sinh, là một trong những cơ sở chính để giáo viên xây dựng kế hoạch
giảng dạy của mình. Nó không còn được xem là công cụ, là cẩm nang tuyệt đối của
cả giáo viên và học sinh như trước đây nữa. Chương trình cũng được xây dựng
theo hướng mở. Kiểm tra, đánh giá cũng được đổi mới. Để có được bài học lịch sử
hiệu quả cao, ngoài việc sử dụng hợp lý sách giáo khoa, giáo viên cần phải biết
khai thác và sử dụng tốt các nguồn tài liệu tham khảo khác.
Với rất nhiều công sức, tâm huyết và thời gian cống hiến cho sự nghiệp giáo
dục, Tiến sĩ N.G. Đai ri - nhà giáo dục nổi tiếng của Liên Xô (cũ ) đã đề xuất một
công thức trong dạy học theo hướng kết hợp tốt việc khai thác sách giáo khoa với
các tài liệu tham khảo khác để có được bài giảng lịch sử tốt (xem hình).
Nội dung của sách giáo khoa
1
2
2’
3
Nội dung bài giảng của giáo viên
Công thức trên chỉ ra rằng: ô số 1 là phần kiến thức có trong sách giáo khoa
mà không có trong bài giảng của giáo viên. Đây có thể là tri thức đã lạc hậu nên
thầy không giảng, yêu cầu học sinh không ghi nhớ, không ghi chép. Đây cũng có
thể là những kiến thức không cơ bản, sách giáo khoa đã trình bày rõ, hoặc ít quan
5
6
6
xướng. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Trung ương II, khoá VIII (1997), Đảng và
Nhà nước ta khẳng định, phải “đổi mới phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc
phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học”[3, tr. 41].
Hoạt động nhận thức tích cực, độc lập, đặc biệt trong tư duy có ý nghĩa quan
trọng trong việc nâng cao hiệu quả bài học lịch sử, giáo dục và phát triển toàn diện
học sinh.
Trước hết, tính tích cực, độc lập trong nhận thức, đặc biệt là trong tư duy sẽ
đảm bảo cho các em lĩnh hội sâu sắc và nhớ lâu kiến thức đã được hình thành. Đại
văn hào Nga Lép Tôn Xtôi đã viết: “Kiến thức chỉ thực sự trở thành kiến thức khi
nó là thành quả của tư duy chứ không phải là trí nhớ”
Trong một ý nghĩa nhất định, đích đến của việc dạy học là học sinh phải đạt
được cả ba yêu cầu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển. Theo tổng kết của các nhà
lý luận giáo dục, cách dạy học truyền thống trước đây mới chỉ đáp ứng có mức độ
hai yêu cầu giáo dục và giáo dưỡng. Sản phẩm của cách dạy học đó là thế hệ học
sinh thụ động, yếu năng lực thực hành, vận dụng và ứng phó với môi trường, thực
tiễn cuộc sống dù họ có đủ kiến thức, giàu lòng nhiệt huyết và tinh thần yêu nước.
2. 2. Cơ sở thực tiễn
Để có được những kết luận chính xác, khách quan làm cơ sở cho việc nghiên
cứu đề tài, chúng tôi đã tiến hành điều tra thực tế dạy học Lịch sử ở một số trường
Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
2.2.1. Mục đích điều tra
Tác giả đề tài trực tiếp điều tra thực tế dạy học Lịch sử ở các trường phổ
thông nói trên để thấy rõ tình hình xây dựng tư liệu trong dạy học Lịch sử, từ đó
lựa chọn và tập hợp tài liệu tối ưu và đề xuất phương pháp sử dụng tư liệu một
Về mức độ cần thiết phải xây dựng tư liệu trong dạy học Lịch sử có 8/9
giáo viên (chiếm tỷ lệ 89%) cho rằng: nếu sử xây dựng tư liệu trong dạy học Lịch
sử để dạy học chắc chắn sẽ hiệu quả hơn bởi sử dụng nó sẽ góp phần làm cho giờ
học lịch sử sinh động, gây hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em nhận thức
8
8
bài học lịch sử sâu sắc hơn. Một trong số giáo viên được phỏng vấn, điều tra cho
rằng họ chưa tự tin để sử dụng vì mới ra trường, kinh nghiệm giảng dạy chưa
nhiều.
Khi được hỏi về phương pháp, cách thức xây dựng tư liệu trong dạy học
Lịch sử, có 100% giáo viên trả lời rằng họ xây dựng tư liệu trong dạy học Lịch
sử để minh họa, cụ thể hóa sự kiện, nhân vật lịch sử nhằm làm cho nội dung bài
học hấp dẫn hơn. Chưa có giáo viên sử dụng xây dựng tư liệu trong dạy học Lịch
sử để kiểm tra, đánh giá, hay chứng minh một luận điểm khoa học. Hai trong số 9
giáo viên được điều tra (chiếm tỉ lệ 22%) thỉnh thoảng có sử dụng tài liệu Văn học
để rút ra nguyên nhân, ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm.
Về nguồn tài liệu tham khảo, điều kiện thư viện của các trường, khi chúng
tôi hỏi thầy (cô) trong giảng dạy, việc xây dựng tư liệu trong dạy học Lịch sử đã
gặp những khó khăn và thuận lợi như thế nào? Trong số giáo viên được hỏi, có 5/9
người (56%) cho rằng nhà trường có thư viện và cũng có tài liệu để tham khảo
nhưng không đầy đủ. Nguồn tài liệu để sử dụng chủ yếu do họ tự sưu tầm. Có 2/9
giáo viên (22%) cho rằng nhà trường có tạo điều kiện trong mức độ và hoàn cảnh
cụ thể nhưng các tài liệu còn rất nghèo nàn, thư viện còn rất sơ sài. Họ cho rằng, sử
dụng tư liệu trong dạy học Lịch sử phải mất nhiều công sức và thời gian chuẩn bị
hơn.
Với câu hỏi: sử dụng tư liệu trong dạy học lịch sử, thầy (cô) hướng tới mục
đích gì ? Có 8/9 giáo viên (89%) trả lời rằng, ý đồ của họ (xuất phát điểm) là nhằm
thôn nước Anh thế kỷ XVI, XVII . Sự phát triển ào ạt của ngành dệt lụa sinh ra nhu
cầu lớn của thị trường đôi với lông cừu. Lúc bấy giờ đối với địa chủ thu địa tô
không lợi bằng nuôi cừu bán lông. Nhưng nuôi cừu phải có bãi chăn nuôi, do đó
các địa chủ lớn đã chiếm ruộng đất của công xã (như đồng cỏ rừng núi) đuổi tá
điền ra khỏi đất đai của họ để rào đất thành bãi chăn nuôi. “Cừu ăn thịt người”, đó
là câu lưu truyền trong dân gian lúc bấy giờ.
Trích theo tư liệu giảng dạy lịch sử kinh tế văn hóa ở trường THPT ( phần
lịch sử thế giới) Nghiêm Đình Vỳ ( chủ biên) H.Giáo dục 1993. trang 70.
Sự phát triển sớm của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp
khiến hàng ngũ quý tộc Anh phân hóa mạnh mẽ. Sự phân hóa trong hàng ngũ quý
10
10
tộc là đặc điểm của nước Anh thế kỷ XVI, XVII. Có một bộ phận quý tộc chủ yếu
là quý tộc loại trung và loại nhỏ bắt đầu chuyển biến thành giai cấp tư sản. Quý tộc
loại trung và loại nhỏ hoặc là thuê công nhân làm việc trong nông trường sản xuất
sản phẩm bán ra thị trường, hoặc cho thuê đất đai thu địa tô tư bản chủ nghĩa. Họ
xây dựng nhà máy rượu, công trường dệt len. Đó là quý tộc mới mà quyền lợi nhất
trí với giai cấp tư sản.
Trích theo tư liệu giảng dạy lịch sử kinh tế văn hóa ở trường THPT ( phần
lịch sử thế giới) Nghiêm Đình Vỳ ( chủ biên) H.Giáo dục 1993.trang 70.
11
11
12
tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do ”…
(Trích Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2.9.1945 )
15
15
16
16
17
17
3.1.3. Nước Pháp
-Nông dân Pháp trước cách mạng 1789: Người ta thấy nột số thú vật dữ tợn, đực
và cái rải khắp các làng xóm, sạm đen, hốc hác và rám nắng gắn chặt vào mảnh đất
mà chúng đào xới một cách cực kỳ nhẫn nại. Hình như chúng cũng có một giọng
nói, và khi chúng đứng lên, người ta thấy chúng có bộ mặt người. Đêm đến chúng
rúc vào hang, sống bằng bánh mỳ đen, nước lã và rễ cây. Nhờ chúng, những người
khác khỏi phải gieo, cày và gặt để sống và do đó chúng xứng đáng được hưởng thứ
bánh mà chúng đã gieo trồng…
Người nông dân ngã gục dưới ách phong kiến. Với thời gian, đời sống nông dân
ngày càng khó khăn gay go. Nông dân sống trong nghèo đói, hàng trăm ngàn người
mất hết tài sản, không có lấy một túp lều phải sông lang thang bần cùng, ẩn náu
19
19
Giải thích bức tranh biếm họa “Tình cảnh người nông dân Pháp trước cách mạng”
+ Người nông dân cõng trên lưng hai người đó là quý tộc tăng lữ và quý tộc võ sĩ.
Đó là người nông dân phải chịu hai tầng áp bức, phải lệ thuộc chặt chẽ vào địa chủ
quý tộc và nhà thờ về ruộng đất. Họ phải nộp tô thuế nặng, buộc phải bán lúa thu
hoạch để trả nợ hoặc bỏ hoang ruộng đồng. Ngoài tô cống nạp và lao dịch, họ phải
nộp ¼ cho lãnh chúa, phỉa đóng thuế thập phân cho nhà thờ. Thuế đinh, thuế ruộng
đất , thuế muối và nhiều thứ thuế khác cho nhà nước phong kiến.
+ Dưới chân người nông dân có bồ câu, chim đang ăn thóc, thỏ phá hại mùa
màng.Nếu các con vật bị giết hại nông dân phải bồi thường nặng nề hoặc đi tù.
+ Chiếc cuốc mà người nông dân chống nói lên tình trạng nông nghiệp nước Pháp
rất lạc hậu: công cụ lao động và kỹ thuật canh tác thô sơ. Năng xuất nông nghiệp
kém, thấp hơn nước Anh rất nhiều vì thế nạn đói thường xuyên xẩy ra.
20
20
+ Hai giấy trong túi quần của người nông dân là các khế ước vay nợ của người
nông dân với quý tộc và tăng lữ. Đó là thòng lọng cột chặt người nông dân vào quý
tộc và lãnh chúa.
Hằng năm có khoảng một đến hai triệu nông dân bị khánh kiệt.
Trích Tuyển tập đề thi Olympic 30/4 môn lịch sử.SGD-ĐT Thành phố
HCM.Trường THPT Lê Hồng Phong.NXB Đại học quốc gia TPHCM.
Nền quân chủ Pháp: nền quân chủ vương quyền là đỉnh của lâu đài phong kiến và
22
Pháo đài Baxti: Ngục Baxti là một pháo đài ở phái tây nam thành phố Pari xây
dựng từ năm 1370 đến 1382, có tường bằng đá hình răng cưa cao 24m, dày 3m với
8 tháp canh cao 30m và hào sâu rộng 25m bao bọc xung quanh.Cổng pháo đài
được đóng mở bằng những chiếc cầu treo kéo trên những chiếc xích sắt.Từ thế kỷ
XV, pháo đài Baxti trở thành nhà tù quốc gia. Bất cứ ai, từ quý tộc cao cấp đến
thường dân đều có thể bị quẳng vào ngục Baxti , khi có tờ “ mật chỉ”( giấy có ấn
vua” của nhà vua gửi đến mà không cần một thủ tục pháp lý nào.Ngục Baxti là nơi
giam giữ rất nhiều tù chính trị, trong đó có nhiều nhà tư tưởng tiến bộ. Ngục Baxti
trở thành tượng trưng cho chế độ quân chủ chuyên chế Pháp.
Trích theo Những mẩu chuyện lịch sử thế giới .tập 2 Đặng Đức An ( chủ biên)
NXBGiáo dục 2000.trang 25.
23
23
Khí thế đấu tranh của quần chúng nhân pháp khi tấn công ngục Baxti – đoạn thơ
14/7 của nhà thơ Tố Hữu:
“…và lớn, và bé, đàn ông, đàn bà.
Tất cả chiếm, mỗi người đội khí giới
Anh hàng thịt vung con dao sáng chói
Người lính già,quắc thước múa chuôi gươm
Và anh hàng giày, quần áo rách tươm
Anh thợ dệt đang nằm sau cửa xưởng
Cũng trỗi dậy oai nghi như võ tướng
Giật thanh đao khẩu súng nhẩy ra ngoài
đẳng về quyền lợi”
Trích Tuyên Ngôn Độc Lập –Hồ Chí Minh –Văn học 12 tập 1.Nhà xuất bản Giáo
Dục tái bản 2000.trang 57.
25
25