Nghiên cứu tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam (TT) - Pdf 37

1

2

MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Tác động tràn liên quan đến phổ biến và chuyển giao công nghệ thường được
coi là một mục tiêu quan trọng của các nước nghèo. Thông qua FDI, các công ty
nước ngoài sẽ đem công nghệ tiên tiến hơn từ công ty mẹ vào sản xuất tại nước tại
nước sở tại thông qua thành lập các công ty con hay chi nhánh. Sự xuất hiện của các
công ty nước ngoài xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tận dụng những lợi thế
có được từ công ty mẹ để sẵn sàng cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước. Vì vậy,
hoạt động của các doanh nghiệp FDI sẽ khuyến khích nhưng cũng gây áp lực về đổi
mới công nghệ nhằm tăng năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trong nước.
Về phía các doanh nghiệp trong nước, một mặt do năng lực yếu kém về đổi mới
công nghệ, mặt khác công nghệ tiên tiến đều do các công ty có qui mô lớn trên thế giới
nắm giữ, để vượt qua yếu điểm này họ có xu hướng muốn được áp dụng ngay công nghệ
tiên tiến hoặc trực tiếp thông qua thành lập các liên doanh với đối tác nước ngoài hoặc
gián tiếp thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp FDI. Các
doanh nghiệp FDI mặc dù không muốn tiết lộ bí quyết công nghệ cho đối thủ trong nước
nhưng cũng sẵn sàng bắt tay với đối tác trong nước để thành lập liên doanh, qua đó diễn
ra quá trình rò rỉ công nghệ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đối với các nước nghèo nói chung
và Việt Nam nói riêng là liệu các điều kiện trong nước, khả năng hấp thụ của doanh
nghiệp có đủ để đón nhận phổ biến và thực hiện việc đổi mới công nghệ thành công hay
không. Với các lý do đó, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tác động của
FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam”.
2. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước và trong nước
2.1. Nghiên cứu ngoài nước
Về tác động vĩ mô đối với nền kinh tế thế giới và các nước tham gia đầu tư
được phân tích ở các mức độ khác nhau giữa các lý thuyết. Có các nghiên cứu của:
MacDougall –Kemp (1960) trong bài viết: The benefits and cost of private

Freeman, C (1982) trong bài viết: Innovation and long cycles of Economic
Development và Dosi, G (1982) trong nghiên cứu: Technological paradigms and
technological trajectories: A suggested interpretation of the determinants and
directions of technical change Mikko. K et al (2010) trong bài viết: Innovation
management đã đưa ra mô hình đổi mới công nghệ tương tác kết hợp; Nghiên cứu
của Girma, et al (2002) trong nghiên cứu: A there regional Spillover from FDI in the
UK?, in David Greenaway, Richard Upward, and Katharine Wakelin, eds, Trade,
Investment, Migration and Labor markets.
2.2. Nghiên cứu trong nước
Về nghiên cứu các tác động của FDI ở Việt Nam, đã có khá nhiều nghiên cứu
về FDI nói chung nhưng còn rất ít các nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa FDI tới
phổ biển, chuyển giao công nghệ nói chung và tác động tới đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp nói riêng: Nghiên cứu của Freeman (2000) nghiên cứu tổng quát về
FDI ở Việt Nam cho đến năm 2000; Nghiên cứu của Nguyễn Mại (2003) xem xét tác


3

4

động của FDI đến tăng trưởng kinh tế cả về chiều rộng và chiều sau; Nghiên cứu của
Nguyễn Thị Phương Hoa (2004) khảo sát tác động của FDI đến tăng trưởng về năng
suất của cả nền kinh tế, trong khuôn khổ của phân tích về quan hệ giữa FDI và đói
nghèo; Một số nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Liên Hoa (2002) phân tích và xác
định lộ trình thu hút FDI tại Việt Nam trong thời kỳ 1996-2001. Nguyễn Thị Hường
và Bùi Huy Nhượng (2003) phân tích so sánh tình hình thu hút FDI của Trung Quốc
và Việt Nam trong thời kỳ 1979-2002 làm cơ sở rút ra bài học cho Việt Nam. Đoàn
Ngọc Phúc (2003) phân tích thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng của FDI
vào Việt Nam trong thời kỳ 1998-2003.
Các nghiên cứu tiêu biểu về tác động tràn của FDI như: Chuc D. Nguyen, Gary

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là lý thuyết và thực tiễn tác động tràn của
FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mối quan hệ và tác động tràn của FDI tới đổi
mới công nghệ của các doanh nghiệp; điều kiện tạo ra tác động tràn của FDI liên

5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu
định lượng.
Phương pháp tham khảo: Tham vấn ý kiến của các chuyên giá, nhà quản lý
trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và quản lý công nghệ thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Khoa học và Công nghệ.
Phương pháp thống kê: Luận án sử dụng để thu thập dữ liệu thứ cấp, từ các
nguồn như niêm giám thống kê, sách, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, các báo cáo
của các doanh nghiệp, các số liệu trên trang web của các Bộ, ban ngành, các cơ quan
báo chí trong và ngoài nước. Các dữ liệu này sau khi thu thập đều được sắp xếp, phân
loại và điều chỉnh một các hợp lý.
Phương pháp thu thập số liệu: Các số liệu thứ cấp về doanh nghiệp FDI và
doanh nghiệp trong nước được thu thập dựa trên dữ liệu điều tra doanh nghiệp của
Tổng cục Thống kê từ năm 2004 – 2013.
6. Những điểm mới của Luận án
6.1 Về mặt lý luận
Luận án nghiên cứu lý thuyết thương mại và kinh doanh quốc tế, lý thuyết về
đầu tư quốc tế, thông qua đó chỉ rõ mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài với
hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp của nước nhận đầu tư. Luận án
nghiên cứu trong trường hợp của Việt Nam, các lý thuyết được đặt trong bối cảnh
phát triển của Việt Nam, điều này sẽ gợi lên những điểm khác biệt trong vận hành
chính sách kinh tế dựa trên các lý thuyết kinh tế tạo cơ sở cho các nhà hoạch định
chính sách điều chỉnh chính sách đầu tư nhằm hướng vào các tác động tích cực của
FDI tại Việt Nam và có lựa chọn khi chấp nhận các dự án FDI nhằm hạn chế được

doanh nghiệp Việt Nam, Luận án đã đề xuất các quan điểm về tận dụng các tác động
tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của nguồn vốn FDI đối với đổi mới công
nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Các quan điểm mang tính đột phá là: (1) Một
số doanh nghiệp FDI đầu tư với quy mô lớn đã chuyển giao công nghệ hiện đại tại
Việt Nam; (2) Chất lượng công nghệ theo FDI vào Việt Nam đã được nâng cao; (3)
Thông qua FDI vào các khu công nghệ cao đã hình thành các trung tâm chuyển giao
công nghệ có tác động lan tỏa. Tuy nhiên, FDI vào Việt Nam vẫn có những tác động
hạn chế tới đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam như: (i) FDI chưa thực sự
trở thành nguồn công nghệ chủ lực cho các doanh nghiệp Việt Nam; (ii) Nhiều công
nghệ cũ, lạc hậu cũng được chuyển giao qua FDI vào Việt Nam; (iii) FDI chưa thực
sự tạo ra động lực mạnh để thay đổi công nghệ cho doanh nghiệp trong nước; (iii)
liên kết và hợp tác hình thành quan hệ về công nghệ giữa FDI và doanh nghiệp trong
nước còn yếu; (v) FDI với hình thành đội ngũ chuyên gia và công nhân trình độ cao
chưa được như kỳ vọng; (vi) FDI chưa đóng góp nhiều vào phát triển thị trường khoa
học và công nghệ ở Việt Nam.
Luận án đã chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế trên là: Thứ nhất, chính sách
hạn chế chuyển giao công nghệ nguồn của một số quốc gia và doanh nghiệp FDI;
Thứ hai, Việt Nam chủ yếu vẫn là sản xuất gia công; Thứ ba, doanh nghiệp vừa và
nhỏ là chủ yếu do vậy không đủ năng lực thay đổi công nghệ; Thứ tư, năng lực hấp
thụ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn yếu; Thứ năm, thiếu chính sách đồng
bộ của nhà nước khuyến khích đổi mới và áp dụng công nghệ.
Trên cơ sở đó Luận án đề xuất các giải pháp tập trung vào hai nhóm giải pháp:
Nhóm giải pháp phát huy các tác động tích cực của FDI tới đổi mới công nghệ
của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó các giải pháp mang tính đột phá là: (1)
Khuyến khích đầu tư công nghệ nguồn, công nghệ hiện đại của nước ngoài vào Việt

7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
án gồm 3 Chương:
Chương 1: Lý luận về tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh

công lao động quốc tế để giải thích hiện tượng và xu hướng di chuyển vốn giữa các
nước. Từ đó, luận án cũng chỉ ra những hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài và mức
độ chuyển giao công nghệ thông qua các hình thức này và cơ hội, khả năng tận dụng
cơ hội của các nước đang phát triển.
1.1.2. Những hình thức mua bán, chuyển giao công nghệ thông qua FDI
Cho đến nay cũng có rất nhiều quan niệm về công nghệ, Luận án này xem xét
khái nhiệm công nghệ theo các khía cạnh: Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết
kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi
nguồn lực thành sản phẩm.
Theo các nghiên cứu của Michael P.Todaro (1977) và Edward K.Chen (1996),
công nghệ là yếu tố quyết định tăng trưởng và sự phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển thì vai trò này càng được khẳng định rõ. Đầu tư trực
tiếp nước ngoài được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của
nước tiếp nhận. Thông qua FDI, các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ có sẵn từ bên
ngoài vào từ đó phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà. Đây là mục tiêu
quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài.
Có ba hình thức chuyển giao công nghệ thông qua FDI phổ biến đó là: chuyển
giao công nghệ giữa công ty mẹ và công ty con ở nước ngoài; chuyển giao công nghệ
giữa công ty con của các công ty đa quốc gia với các doanh nghiệp nước sở tại trong
cùng một ngành; chuyển giao giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp địa
phương là những nhà cung cấp hoặc người mua sản phẩm trung gian của các doanh
nghiệp FDI này.

1.1.3. Ảnh hưởng của FDI đến phát triển công nghệ của nước tiếp nhận
FDI có ảnh hưởng cả hai mặt tích cực và tiêu cực đến phát triển công nghệ của
nước tiếp nhận. Sử dụng có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào chính sách của
mỗi quốc gia. Không ai có thể phủ nhận hoàn toàn tác động tích cực của FDI nhưng
vấn đề đặt ra đối với các nước đang phát triển- những nước đang cần nhiều nguồn
vốn để phát triển kinh tế là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật để hỗ trợ cho việc phát
hiện gian lận trốn thuế của các công ty FDI hay kiểm soát dòng vốn FDI vào quốc gia

hàng hóa trung gian do các doanh nghiệp trong nước sản xuất. Việc các doanh nghiệp
trong nước cung cấp hàng hoá trung gian cho doanh nghiệp FDI sẽ tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp này cải tiến, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và giảm chi phí
trên một đơn vị sản phẩm.
1.2.4. Tác động tràn của FDI đến cạnh tranh để đổi mới công nghệ
Tác động tràn của FDI đến cạnh tranh để đổi mới công nghệ cũng được coi là
rất quan trọng đối với các nước đang phát triển với sự có mặt của doanh nghiệp FDI
tạo ra tác động cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, tác động này
lại phụ thuộc vào cấu trúc thị trường, trình độ và năng lực công nghệ của nước nhận
đầu tư.
1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến tác động tràn của FDI đối với đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp
1.3.1. Nhân tố thuộc các quốc gia có vốn FDI
Trình độ công nghệ của các quốc gia có vốn FDI
Các nước phát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản với tiềm lực kinh tế mạnh, có
khả năng đầu tư lớn vào các hoạt động R&D nên được coi là nguồn công nghệ chủ
yếu trên thế giới. Ngược lại, các nước đang phát triển với trình độ khoa học và công
nghệ còn hạn chế, chính phủ và doanh nghiệp nước này thường không có khả năng
bỏ tiền ra mua công nghệ từ các nước phát triển. Chính vì thế, họ chỉ có thể tiếp cận
với công nghệ mới để tiến hành đổi mới công nghệ bằng cách thu hút FDI từ các
nước phát triển.
Chính sách chuyển giao công nghệ của các quốc gia có vốn FDI
Các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có vốn FDI thường có chính sách chuyển
giao công nghệ của riêng mình, một mặt khuyến khích nghiên cứu và phát triển công
nghệ trong nước để khai thác lợi thế cạnh tranh về công nghệ khi tiến hành đầu tư ra
nước ngoài, mặt khác để hạn chế, chuyển giao có điều kiện thậm chí cấm chuyển giao
các công nghệ nguồn, bí quyết về công nghệ ra nước ngoài do vậy ảnh hưởng đến đổi
mới công nghệ các doanh nghiệp của nước tiếp nhận FDI.
Mức độ quan hệ của nước có vốn FDI và nước tiếp nhận
Mức độ quan hệ giữa các quốc gia hiện nay được chia thành các cấp độ khác

thể chế để thúc đẩy hoạt động R&D là hết sức cần thiết.
1.3.3. Nhân tố thuộc nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
Năng lực công nghệ của nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đối với các nhà đầu tư có năng lực công nghệ và lợi thế cạnh tranh về công
nghệ trong sản xuất một loại sản phẩm nào đó, họ có thể kiếm lợi nhuận cao khi đầu
tư sản xuất sản phẩm ra nước ngoài và kiểm soát trực tiếp các hoạt động sản xuất,
phân phối để khai thác lợi thế độc quyền. Mục đích của các nhà đầu tư này là mở
rộng, thôn tính thị trường ở nước ngoài với sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao, do đó
cũng thường dẫn tới cạnh tranh độc quyền.
Đối với các nhà đầu tư có năng lực công nghệ ở mức độ trung bình hoặc thấp


11

12

thì khi tiến hành đầu tư ra nước ngoài chủ yếu các nhà đầu tư này thường khai thác
lợi thế của nước chủ nhà về giá nhân công rẻ, trình độ nhân lực không cao, lợi thế hạ
tầng và tài nguyên thiên nhiên…
Hình thức và qui mô đầu tư
Hình thức và qui mô đầu tư đầu tư cũng là một nhân tố quan trọng thuộc về
nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài. Với hình thức đầu tư theo chiều ngang (HI), đi kèm
với FDI sẽ là những công nghệ tiên tiến và hiện đại. Ngược lại, với hình thức đầu tư
theo chiều dọc (VI). Khi đầu tư ra nước ngoài, các nhà đầu tư thường chỉ chú ý đến
khai thác các lợi thế cạnh tranh của các yếu tố đầu vào giữa các khâu sản xuất ra một
loại sản phẩm trong phân công lao động quốc tế như nguồn nguyên liệu tự nhiên, các
yếu tố sản xuất đầu vào (lao động, đất đai giá rẻ…)
Quan hệ giữa công ty tại nước tiếp nhận và công ty mẹ
Trong mối quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con tại nước tiếp nhận, công
nghệ thường được chuyển giao dưới các hình thức: chuyển giao trong nội bộ giữa các

với các doanh nghiệp FDI thông qua năng lực R&D của mình.
Qui mô và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp
Qui mô lớn hay nhỏ, phạm vi hoạt động rộng hay hẹp, lĩnh vực sản xuất kinh
doanh (ví dụ doanh nghiệp chỉ sản xuất sản phẩm thô hay chế biến sẵn…) và năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến hoạt động đổi mới công nghệ
thông qua các tác động của FDI ở các mức độ khác nhau.

1.4. Lựa chọn mô hình nghiên cứu tác động tràn của FDI tới đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp
Đổi mới công nghệ bao gồm đổi mới sản phẩm; đổi mới qui trình sản xuất
hoặc có những cải tiến về chất lượng sản phẩm hoặc cải tiến qui trình sản xuất. Đổi
mới công nghệ diễn ra khi đưa ra thị trường sản phẩm mới (ví dụ: mở rộng nhiều
loại sản phẩm) hoặc công nghệ mới được sử dụng trong quá trình sản xuất (đổi mới
hoặc cải tiến quá trình sản xuất; hoặc những thay đổi có tính đột phá hơn như: Mở
rộng hoạt động của doanh nghiệp vào một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mới hoặc
Thay đổi hoạt động của doanh nghiệp sang một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh khác).
1.4.1 Mô hình đổi mới công nghệ trên thế giới
Mô hình tuyến tính
Mô hình tuyến tính đơn giản nhất có tên sức đẩy của khoa học công nghệ
(Science and Technology Push). Mô hình này dựa trên lôgic khoa học là cơ sở, tri
thức, tiền đề tạo ra công nghệ.
Mô hình tương tác kết hợp
Trong mô hình tương tác kết hợp cho thấy kết quả của việc phối hợp đồng thời
kiến thức của các bộ phận chức năng sẽ thúc đẩy đổi mới, nó gắn các mô hình tuyến
tính với nhau và nhấn mạnh đổi mới công nghệ là kết quả của sự tương tác giữa thị
trường, khoa học và năng lực của tổ chức.
1.4.2 Mô hình ước lượng tác động tràn của FDI
Đánh giá tác động tràn của FDI có thể được thực hiện bằng cả hai phương pháp
định tính và định lượng hoặc kết hợp cả hai. Tuy nhiên, kết quả của đánh giá định


ngành j năm t; Biến R&Djit là hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp i,
ngành j năm t
Cơ sở khoa học của các biến được trình bày chi tiết trong mục 2.3.2 của luận án.
Từ Hàm số trên tác giả đưa ra mô hình kinh tế lượng như sau:
Log(p/(1-p)) = β1+ β2QMjit +β3 DNjit+ β4 NGjt+ β5TDjit + β6R&Djit
Mô hình trên là hàm logistics thực chất cũng là hàm hồi quy với biến phụ thuộc
là biến định danh. Với hàm logistics trên sẽ cho biết quan hệ của từng biến độc lập tới
xác xuất xảy ra một trong các giá trị của biến phụ thuộc
1.4.4. Giả thuyết về mối quan hệ giữa các biến
Giả thuyết 1: Giả thuyết cần kiểm định qua mô hình ở trên là thay đổi về mức
độ tham gia của phía nước ngoài FDI ảnh hưởng thế nào tới đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp Việt Nam.
Giả thuyết 2: Giả thuyết cần kiểm định qua mô hình ở trên là năng lực R&D
của doanh nghiệp Việt Nam có tạo điều kiện tích cực đến tác động tràn về công nghệ
từ khu vực FDI.
Giả thuyết 3: Quy mô, loại hình của doanh nghiệp Việt Nam có tạo điều kiện
tích cực khác nhau cho tác động tràn về công nghệ từ khu vực FDI.

1.4.5. Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình
Nguồn số liệu sử dụng trong mô hình là mẫu điều tra doanh được lấy từ số liệu
điều tra thu thập thông tin của Tổng cục Thống kê về sử dụng công nghệ trong sản
xuất của doanh nghiệp. Luận án đã sử dụng số liệu của các doanh nghiệp trong ngành
chế biến chế tạo trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2004 - 2013.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA FDI TỚI ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
2.1. Thực trạng FDI vào Việt Nam theo khía cạnh công nghệ
2.1.1. Thực trạng FDI theo nguồn công nghệ quốc gia
Trong nhóm 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư FDI ra nước ngoài nhiều
nhất có cả đại diện các quốc gia có nền kinh tế phát triển cũng như Mỹ, Nhật Bản,


khoa học công nghệ như các ưu đãi về thuế, vốn vay, đất đai… Bên cạnh những tác
động tích cực của các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ vẫn còn tồn tại
những mặt chưa được của các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ cần được
bổ sung, sửa đổi và cụ thể hóa hơn nữa để các chính sách thực sự đi vào cuộc sống và
góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

2.1.3. FDI vào các khu công nghệ cao
Xây dựng các khu công nghệ cao được coi là một trong những giải pháp đột
phá nhằm nâng cao năng lực công nghệ nội sinh của quốc gia, giúp Việt Nam nhanh
chóng rút ngắn khoảng cách về khoa học và công nghệ với các nước trong khu vực và
trên thế giới đồng thời làm đòn bẩy góp phần phát triển kinh tế của Việt Nam và hội
nhập hiệu quả vào nền kinh tế thế giới. Trong đó, FDI cũng được coi là nguồn quan
trọng được khuyến khích thu hút vào các khu công nghệ cao.
2.2. Phân tích thực trạng môi trường đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp
Việt Nam
2.2.1. Thực trạng thị trường công nghệ trong nước cho doanh nghiệp
Thị trường công nghệ cũng chứa đựng các thành tố cơ bản như các loại thị
trường khác, bao gồm: sản phẩm và dịch vụ KH&CN; Chủ thể tham gia thị trường
như người cung (người bán), người cầu (người mua) sản phẩm và dịch vụ KH&CN.
Trong luận án, tác giả phân tích thực trạng thị trường công nghệ trong nước cho các
doanh nghiệp Việt Nam tập trung trên các khía cạnh: Tiềm lực nguồn cung công nghệ
của các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước; Thực trạng nguồn cung công
nghệ từ các chương trình, đề án quốc gia về khoa học và công nghệ; Thực trạng số
lượng sáng chế đăng ký bảo hộ của Việt Nam và Thực trạng cầu công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam.
2.2.2. Thực trạng chính sách nhà nước khuyến khích đổi mới công nghệ
Nhìn chung, các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ đều tập trung vào
các khía cạnh như: (1) Đầu tư nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (2) Hỗ
trợ áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất;

Trong đó:
QMjit là quy mô của doanh nghiệp i, ngành j năm t
DNjit là loại hình của doanh nghiệp i, ngành j năm t
NGjt là biến đặc trưng cho nhóm ngành công nghiệp cụ thể
TDjit là trình độ của lao động của doanh nghiệp i, ngành j năm t


17

18

R&D it là hoạt động nghiên cứu triển khai của doanh nghiệp i, ngành j năm t
Luận án sử dụng dạng log (odd) của mô hình logistics trong đó p là xác suất để
doanh nghiệp sử dụng 1 trong 5 hình thức đổi mới công nghệ (cải tiến, đổi mới qui
trình hay sản phẩm) nêu trên. (1-p) là xác suất doanh nghiệp không sử dụng 1 trong 5
hình thức này. Như vậy, mô hình này cho biết tỷ lệ giữa khả năng sử dụng và không
sử dụng hình thức thứ I phụ thuộc và các yếu tố như thế nào.

– đầu ra của doanh nghiệp trên cơ sở đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, đặc biệt
đối với doanh nghiệp lựa chọn hình mở rộng nhiều loại sản phẩm.
Tác động của FDI đến cạnh tranh của doanh nghiệp để đổi mới công nghệ
Do áp lực cạnh tranh của FDI đến các doanh nghiệp trong nước, buộc các
doanh nghiệp trong nước phải lựa chọn đổi mới công nghệ theo các hướng mang tính
đột phá như: mở rộng nhiều loại sản phẩm; mở rộng hoạt động của doanh nghiệp vào
một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mới; hay thay đổi hoạt động của doanh nghiệp
sang một lĩnh vực sản xuất – kinh doanh khác. Qua mô hình phân tích cho thấy, giá
trị p – value của biến NG2 tại Mô hình 4 là 0.0040 và tại Mô hình 5 là 0.0000. Với p
– value < 0.05 có ý nghĩa thống kê, nghĩa là do áp lực cạnh tranh từ phía FDI, doanh
nghiệp lựa chọn các hình thức đổi mới công nghệ có tính đột phá.
2.4. Đánh giá thực trạng tác động của FDI đến đổi mới công nghệ của các doanh

nghiệp có thể lựa chọn các hình thức khác nhau để tiến hành đổi mới qui trình hay
sản phẩm. Việc lựa chọn hình thức nào sẽ quyết định yếu tố nào sẽ tác động đến khả
năng đổi mới. Kết quả mô hình cho thấy, tất cả các biến loại hình doanh nghiệp, quy
mô, R&D, ngành đều có tác động tích cực đến việc lựa chọn một trong các hình thức
đổi mới.
Tác động của FDI đến trình độ lao động
Kết quả phân tích cả 5 mô hình cho thấy biến trình độ lao động có tác động đến
đổi mới công nghệ của doanh nghiệp thông qua FDI. Tại Mô hình 1 giá trị p –value
của biến TD2 = 0.0009. Mô hình 2 giá trị p – value của biến TD2 = 0.0029. Tại Mô
hình 3 giá trị p – value của TD2 = 0.0015. Mô hình 4 giá trị p –value của TD2 =
0.0012 và Mô hình 5 giá trị p- value của TD2 = 0.0168. Với p – value < 0.05 hệ số có
ý nghĩa thống kê.
Tác động của FDI đến phổ biến và chuyển giao công nghệ
Trong 5 mô hình trên, việc kiểm tra ý nghĩa biến R&D cho phép kiểm định giả
thuyết: năng lực R&D của doanh nghiệp Việt Nam có ảnh hưởng tích cực đến tác
động tràn của FDI thông qua phổ biến và chuyển giao công nghệ. Kết quả kiểm định
5 mô hình chỉ duy nhất Mô hình 4 với giá trị p – value của biến R&D = 0.1449. Với p
– value > 0.05 biến R&D tại Mô hình 4 không có ý nghĩa thống kê. Tại Mô hình 1 giá
trị p – value của biến R&D = 0.0000. Mô hình 2 giá trị p – value của biến R&D =
0.0029. Mô hình 3 giá trị p – value của biến R&D = 0.0000. Mô hình 5 (Phụ lục 6),
giá trị p – value của biến R&D = 0.0446. Tại các mô hình này, với giá trị p – value

nhận đầu tư FDI là chuyển giao công nghệ thông qua FDI: Sau khủng hoảng giá dầu
lửa trên thế giới, các nước có nền công nghiệp lớn như Mỹ, Trung Quốc… đã có
những chính sách đầu tư đáng kể cho hoạt động R&D để thay thế hàng loạt công
nghệ cũ tiêu hao năng lượng và gây ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy, các nước này
tìm cách đẩy các công nghệ cũ này sang các nước khác theo nhiều con đường trong
đó có chuyển giao thông qua đầu tư FDI. Chính vì vậy, các nước khi tiếp nhận đầu tư
trong đó có Việt Nam cần thận trọng và tiếp nhận có chọn lọc khi tiếp nhận FDI để
tránh thành bãi thải công nghệ của khu vực và thế giới.
3.1.2. Bối cảnh trong nước
Trong bối cảnh thế giới và khu vực, đứng trước xu thế hội nhập và toàn cầu
hóa kinh tế diễn ra nhanh chóng, Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế trong
các hiệp định thương mại tự do như Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, AFTA, APEC,
WTO, Việt Nam – Nhật Bản, Việt Nam – Hàn Quốc, Việt Nam – EU và một loạt các
FTA mà Việt Nam mới ký và tham gia trong năm 2015. Điều này cũng sẽ có những
tác động rất to lớn với Việt Nam trong việc thu hút FDI và công nghệ cả trong ngắn
hạn và dài hạn. Để thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước


21

22

mở rộng cửa thu hút đầu tư và công nghệ từ nước ngoài, từng bước xóa bỏ phân biệt
đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, do có những đặc thù
riêng giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, vì vậy để tạo một sân chơi bình
đẳng sẽ rất khó khăn và không tránh khỏi những mâu thuẫn và phức tạp khi thực
hiện.

xen này, trong nhiều trường hợp khó có thể nhận dạng về nội dung quản lý nhà nước
về thị trường khoa học và công nghệ, đặc biệt đối với các cán bộ quản lý công nghệ ở

quả đầu tư vào khu công nghệ cao. Chính phủ cần ban hành chính sách ưu tiên đặc
biệt nhằm khuyến khích hoạt động R&D tại các khu công nghệ cao vì thực tế hiện
nay các nhà đầu tư FDI chưa đưa hoạt động R&D vào Việt Nam trong quá trình tiến
hành đầu tư đặc biệt tại các khu công nghệ cao của Việt Nam.
3.2.3. Giải pháp phát triển thị trường khoa học và công nghệ
Nội dung quản lý nhà nước về thị trường khoa học và công nghệ đan xen trong
các văn bản pháp luật của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ. Vì sự đan

3.3. Giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam
3.3.1. Giải pháp hạn chế chuyển giao, mua bán công nghệ lạc hậu từ nước ngoài
Về phía nhà nước, cần kiên quyết từ chối những nhà đầu tư sử dụng những
công nghệ cũ,lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng và gây ô nhiễm môi trường... Việt
Nam cần thu hút và sử dụng, lựa chọn FDI, FDI sẽ có hiệu quả cao hơn, đạt được sự
bền vững tốt hơn đối với nền kinh tế Việt Nam khi các dự án FDI tạo được nhiều kiên
kết với các ngành sản xuất nội địa, nâng cao phần giá trị gia tăng và đẩy mạnh tác
động lan tỏa tới các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, cần có chính sách để phát
triển các doanh nghiệp trong nước nâng cao được năng lực hấp thụ và năng lực đổi
mới công nghệ của mình thông qua các quỹ đầu tư cho nghiên cứu phát triển công
nghệ, chính sách miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp tích cực đầu tư cho hoạt động
nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ
3.3.2. Giải pháp phát triển các liên kết trên cơ sở công nghệ giữa doanh nghiệp
FDI và doanh nghiệp trong nước
Lý thuyết và thực tiễn cho thấy, quá trình chuyển giao công nghệ được thực
hiện qua ba giai đoạn: tiếp nhận, ứng dụng và phổ biến. Thông qua FDI, hai giai đoạn
đầu của quá trình này người bản địa có thể thực hiện được, chỉ có giai đoạn cuối cùng
là khó khăn hơn, chứng tỏ các công ty xuyên quốc gia không chuyển giao kỹ năng
R&D cho người bản địa. Chính vì vậy, để tiếp nhận và đổi mới công nghệ thành
công, các doanh nghiệp trong nước trước mắt cần có sự liên kết chặt chẽ với các Viện
nghiên cứu và Trường đại học để thúc đẩy hoạt động R&D nhằm đổi mới công nghệ

kiểm định về tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của doanh nghiệp cho thấy, tất
cả các biến loại hình doanh nghiệp, qui mô doanh nghiệp, R&D và ngành đều có tác
động tích cực đến việc lựa chọn một trong các hình thức đổi mới công nghệ của
doanh nghiệp Việt Nam. Thông qua sự có mặt của doanh nghiệp FDI, còn tạo ra các
tác động tràn về công nghệ tới các doanh nghiệp Việt nam theo các khía cạnh: Tác
động của FDI đến trình độ lao động; Tác động của FDI đến phổ biến và chuyển giao
công nghệ; Tác động của FDI liên quan đến cơ cấu đầu vào – đầu ra của doanh
nghiệp trên cơ sở đổi mới công nghệ; Tác động của FDI đến cạnh tranh của doanh
nghiệp để đổi mới công nghệ.
Luận án cũng đã chỉ ra và phân tích, đánh giá tác động tích cực, tiêu cực của
FDI đến đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam và nguyên nhân của
những tác động tiêu cực này.
Luận án đã phân tích bối cảnh tác động của FDI tới đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam dựa trên phân tích, đánh giá bối cảnh quốc tế và trong nước.
Từ đó, luận án chỉ ra phương hướng thu hút FDI nhằm đổi mới công nghệ của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Luận án đưa ra các giải pháp phát huy tác động tích cực và hạn chế tác động
tiêu cực của FDI tới đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời,
Luận án cũng chỉ ra các điều kiện từ phía Nhà nước và doanh nghiệp nhằm thu hút
FDI để đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.

3.4. Kiến nghị điều kiện nhằm phát huy tác động của FDI đến đổi mới công nghệ
của doanh nghiệp Việt Nam
3.4.1. Đổi mới mô hình tăng trưởng
Trong khuôn khổ của luận án, tác giả chỉ tập trung kiến nghị các điều kiện
trong đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm phát huy tác động của FDI đến đổi mới
công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ nhất, Điều kiện về môi trường thể chế cho thu hút FDI và đổi mới công
nghệ
Thứ hai, Điều kiện về nguồn nhân lực cho khoa học công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status