Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử việt nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông (chương trình chuẩn - Pdf 37

AI HOĩC HU
TRặèN G AI HOĩC Sặ PHAM
KHOA LậCH Sặ
------

NGUYN THậ HU

Sặ DUNG ệ DUèNG TRặC QUAN QUY ặẽC ỉ
KIỉM TRA AẽNH GIAẽ THEO HặẽNG PHAẽT TRIỉN NNG LặC
HOĩC SINH TRONG DAY HOĩC LậCH Sặ VIT NAM
Tặè NM 1945 N NM 1954,
TRặèNG TRUNG HOĩC PHỉ THNG (CHặNG
TRầNH CHUỉN)

KHOẽA LUN TT NGHIP
Giaớn g vión hổồùn g dỏựn :
TS. NGUYN ặẽC CặNG

Huóỳ, khoùa hoỹc 2012 - 2016


Lời Cảm Ơn
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này tôi không
khỏi lúng túng và bỡ ngỡ. Nhưng dưới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
TS. Nguyễn Đức Cương tôi đã từng bước tiến hành và hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để
kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học
lòch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường Trung học phổ
thông (Chương trình chuẩn)”

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Đức

: Chủ nghĩa xã hội
: Dân chủ tư sản

ĐG
ĐDTQ
ĐDTQQƯ
GD
GD - ĐT
GV
HS
KT
KT - ĐG
SGK
THPT

: Đánh giá
: Đồ dùng trực quan
: Đồ dùng trực quan quy ước
: Giáo dục
: Giáo dục - Đào tạo
: Giáo viên
: Học sinh
: Kiểm tra
: Kiểm tra - đánh giá
: Sách giáo khoa
: Trung học phổ thông

UBND

: Uỷ ban nhân dân

sử.........................................................................................................................................17


1.1.2.3. Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học
sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT............................................................................17
1.1.3. Ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo
hướng phát triển năng lực.......................................................................................................20
1.2. Thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng
phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học phổ thông.....................24
1.2.1. Mục đích điều tra...........................................................................................................24
1.2.2. Nội dung điều tra...........................................................................................................24
1.2.3. Kết quả điều tra.............................................................................................................24

CHƯƠNG 2....................................................................................................26
SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC ĐỂ KIỂM TRA –
ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM
1954,................................................................................................................26
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
.........................................................................................................................26
2.1. Mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung
học phổ thông (Chương trình chuẩn)..........................................................................................26
2.1.1. Mục tiêu của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học phổ
thông (Chương trình chuẩn)....................................................................................................26
2.1.2. Nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở Trường trung học
phổ thông (Chương trình chuẩn).............................................................................................28
2.2. Hệ thống ĐDTQQƯ sử dụng để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy
học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954.......................................................................31
2.3. Các nguyên tắc sử dụng ĐDTQQƯ để KT – ĐG theo hướng phát triển năng lực HS..............38
2.4. Biện pháp sử dụng ĐDTQQƯ để KT - ĐG theo hướng phát triển năng lực HS......................42

hỏi sự nghiệp giáo dục cũng phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ nhằm
phát triển năng lực học sinh, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người
học, chống lại thói quen học tập thụ động, có thể xem đó như một điều kiện, đồng
thời cũng là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục hiện nay ở
nước ta.
Mặt khác, xu hướng chung của thế giới hiện nay là chuyển từ dạy học tập
trung vào mục tiêu, nội dung kiến thức sang tập trung vào việc tổ chức quá trình
dạy và học, đánh giá để phát triển, nhằm hình thành các năng lực khác nhau cho
người học. Khi chương trình được xây dựng theo cách tiếp cận hình thành năng lực,
thì người ta không quá xem trọng các tri thức nữa mà xem trọng phương pháp, hình
thức tổ chức dạy và học, làm thế nào để phát triển các năng lực ở người học.
Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đều cho rằng, dạy học là một quá trình có
tính mục đích, nó thường phải bao gồm đầy đủ các thành tố cơ bản sau: Xây dựng
mục tiêu, thiết kế nội dung, tổ chức hoạt động dạy – học và kiểm tra đánh giá. Do
vậy, KT – ĐG là một khâu rất quan trọng, không thể tách rời của quá trình dạy học.
Bởi đối với người GV, khi tiến hành quá trình dạy học họ phải xác định rõ mục tiêu
của bài học, nội dung và phương pháp cũng như kỹ thuật tổ chức quá trình dạy học
sao cho phù hợp với đối tượng người học và đạt chất lượng hiệu quả theo mục tiêu
đã đề ra. Muốn biết quá trình dạy học có chất lượng, hiệu quả hay không, GV phải
thu thập thông tin phản hồi từ HS để qua đó đánh giá và điều chỉnh phương pháp,
kỹ thuật dạy của mình cũng như giúp HS điều chỉnh các phương pháp học.
KT - ĐG là một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đó là khâu
mở đầu quá trình dạy học, đồng thời cũng là khâu kết thúc của quá trình dạy học này
để mở ra một quá trình dạy học khác cao hơn đồng thời nó cũng có tác động điều tiết
trở lại quá trình đào tạo. KT – ĐG trước hết phải vì sự tiến bộ của HS, giúp HS nhận
1


ra mình đang ở đâu trên con đường đạt đến mục tiêu bài học, chuẩn kiến thức kĩ
năng… KT – ĐG không làm HS lo sợ, mất tự tin. KT – ĐG phải diễn ra trong suốt

2


Nhận thức một cách sâu sắc vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng ĐDTQQƯ
trong KT - ĐG theo hướng phát triển năng lực trong dạy học lịch sử. Cùng với sự
động viên và giúp đỡ tận tình của thầy giáo, TS. Nguyễn Đức Cương, tôi đã mạnh
dạn chọn đề tài “Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra - đánh giá
theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ
năm 1945 đến năm 1954, ở trường Trung học phổ thông (Chương trình
chuẩn)” làm đề tài khóa luận của mình.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Vấn đề KT - ĐG trong dạy học nói chúng và trong dạy học lịch sử nói riêng
đã được đề cập đến trong nhiều công trình, được xem xét và nghiên cứu với nhiều
góc độ khác nhau như:
Ở nước ngoài
Đề cập đến kiểm tra đánh giá trong giáo dục nói chung, tác phẩm “Trắc
nghiệm và đo lường cơ bản trong giáo dục” của Quentin Stodola và Klomerr
Stordah.
Theo Crôn-bach: “Kiểm tra đánh giá là quá trình thu thập thông tin để đi đến
những quyết định cụ thể” [18, tr.101]. Nói rõ hơn, R.F.Marge (1993) đã viết: Đánh
giá là việc miêu tả tính tình của học sinh và giáo viên để dự đoán công việc phải
tiếp tục và giúp học sinh tiến bộ” [6, tr.134].
N.G. Đairri đã đi sâu vào tầm quan trọng của KT - ĐG trong dạy học lịch
sử, ông khẳng định: “Những nhiệm vụ của kiểm tra định kỳ không giới hạn ở chỗ
phát hiện và cho điểm kiến thức mà kiểm tra còn thúc đẩy học sinh học tập… Ngoài
chức năng kiểm tra và giáo dục, kiểm tra còn chức năng giáo dưỡng và phát triển tư
duy. Kiểm tra đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đối với yêu cầu phát triển ngôn
ngữ của học sinh.
Ở trong nước
Vấn đề này cũng được các nhà nghiên cứu giáo dục học, các nhà nghiên cứu

Trên cơ sở kế thừa các công trình và tài liệu sẵn có tôi đi sâu vào việc “Sử
dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển
năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở
trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)”.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông (Chương
trình chuẩn).
4


3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ nghiên cứu việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra
đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ
năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn). (Bài
học nội khóa).
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tiến hành xác định những nội dung kiến thức cơ bản, sự kiện lịch sử
cơ bản về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, ngoại giao, trên cơ sở đó
xác định những nguyên tắc, biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm
tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam
từ năm 1945 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông, góp phần đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy
học lịch sử ở trường THPT.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan
quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học

tích cực, năng động, sáng tạo, phát triển được những năng lực của học sinh, góp
phần nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông.
7. ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN
Thứ nhất: Khẳng định ý nghĩa của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước
để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử
Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954 ở trường trung học phổ thông.
Thứ hai: Đề xuất các nguyên tắc và biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan
quy ước để kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học
lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1954, ở trường trung học phổ thông
(Chương trình chuẩn).
8. BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm
có hai chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy
ước để kiểm tra – đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học
lịch sử ở trường Trung học phổ thông.
Chương 2: Sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra – đánh giá theo
hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam từ năm 1945 đến
năm 1954, ở trường trung học phổ thông (Chương trình chuẩn).

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC
QUAN QUY ƯỚC ĐỂ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng đồ dùng trực quan quy ước để kiểm tra –
đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở

cơ bản của lịch sử thế giới trong những năm 1917 - 1945.
+ Niên biểu chuyên đề: Là loại niên biểu nhằm trình bày nội dung vấn đề
quan trọng nổi bật nào đó của một thời kỳ nhất định giúp HS nắm được bản chất sự
kiện một cách đầy đủ.
+ Niên biểu so sánh: Là loại niên biểu dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện
xảy ra cùng một lúc trong lịch sử nhằm làm nổi bật bản chất đặc trưng của các sự
kiện hoặc để rút ra kết luận khái quát có tính chất nguyên lý.
- Đồ thị: Dùng để diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện
lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tài liệu thống kê trong bài học. Đồ thị có thể biểu
diễn bằng một mũi tên dùng để chỉ sự vận động phát triển đi lên, sự phát triển của
một hiện tượng lịch sử, hoặc được biểu diễn trên trục hoành.
- Sơ đồ, biểu đồ (bản biểu):
Nhằm cụ thể hóa nội dung sự kiện bằng những ký hiệu hình học đơn giản
được GV vẽ nhanh trên bảng hoặc trên giấy, hoặc được thiết kế bằng các phương
tiện kỹ thuật hiện đại. Vì vậy khi sử dụng loại ĐDTQQƯ này không chỉ đòi hỏi GV
về mặt chuyên môn mà còn đòi hỏi về năng khiếu và nghệ thuật dạy học trong xử lý
ngôn ngữ, viên phấn và bảng đen.
Có nhiều loại bản biểu khác nhau như: Biểu đồ khái niệm, biểu đồ chuỗi,
biểu đồ phân loại, biểu đồ hình Ven, biểu đồ chữ T, sơ đồ nhóm, sơ đồ nhân quả. Ví
dụ như sơ đồ “Tình hình nước Nga trước cách mạng”.
- Bản đồ (lược đồ): Là loại ĐDTQQƯ được sử dụng thông dụng trong các
trường THPT. Bản đồ lịch sử nhằm xác định địa điểm của sự kiện trong thời gian và
không gian nhất định. Đồng thời bản đồ lịch sử còn giúp HS suy nghĩ và giải thích
các hiện tượng lịch sử về mối quan hệ nhân quả, về tính quy luật và trình tự phát
triển của quá trình lịch sử, giúp các em củng cố, ghi nhớ những kiến thức đã học.
Bản đồ lịch sử về hình thức không nhất thiết có nhiều chi tiết, điều kiện tự
nhiên mà cần có những ký hiệu về biên giới quốc gia, sự phân bố dân cư, thành phố,
các vùng kinh tế, địa điểm xảy ra biến cố quan trọng. Các minh họa trên bản đồ phải
đẹp, chính xác, rõ ràng. Về nội dung, bản đồ có thể chia làm hai loại: Bản đồ tổng
hợp và bản đồ chuyên đề.

giáo dục, kiểm tra thường gắn với việc tìm hiểu làm rõ thực trạng. Các kết quả
kiểm tra trên lớp học được sử dụng để điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và học,
hướng tới đạt mục tiêu đã đặt ra”. [14, tr.23].
Qua các định nghĩa trên cho thấy trong quá trình dạy – học, để nắm vững
được những thông tin về kiến thức, kĩ năng, năng lực và thái độ của người học đạt
9


được sau một quá trình học tập, giáo viên phải tiến hành kiểm tra. Vì kiểm tra sẽ
theo dõi, thu thập được thông tin, chứng cứ để đánh giá kết quả học tập, củng cố,
tăng cường việc học tập và phát triển học sinh. Vì vậy, kiểm tra được xem là hình
thức và phương tiên của đánh giá. Kiểm tra càng chính xác kịp thời càng tạo cơ sở
vững chắc cho việc đánh giá được khách quan, khoa học.
- Khái niệm về đánh giá
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về “đánh giá” và được xem xét
trên những góc độ rộng, hẹp khác nhau: Đánh giá nói chung, đánh giá trong giáo
dục và đánh giá kết quả học tập.
“Đánh giá là hoạt động của con người nhằm phán xét về một hay nhiều đặc
điểm của sự vật, hiện tượng, con người theo những quan niệm và chuẩn mực nhất
định mà người đánh giá cần tuân theo” [20, tr.7]
“ Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về
hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ
vào mục tiêu giáo dục, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động
giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót”.[ 4, tr. 61]
- Mối quan hệ giữa kiểm tra – đánh giá
Trong giáo dục, kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở
cho đánh giá. Đánh giá đóng vai trò phản hồi. Vì vậy trong dạy học, KT – ĐG là hai
công việc thường xuyên đi liền nhau, có quan hệ mật thiết, cái này là điều kiện, là
hệ quả của cái kia. Kiểm tra vừa là phương tiện vừa là hình thức của đánh giá.
Muốn đánh giá được chính xác phải tiến hành kiểm tra theo những quy định chặt

được nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn
đấu tiếp, mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao hơn
những khía cạnh còn yếu kém. Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập riêng
của mình; tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác
nhau; ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp thuận lợi cho việc
ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết, tự đặt được vấn đề học tập. Ngoài ra năng
lực tự học còn biểu hiện ở việc tự nhận ra điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản
thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, đúc kết để có thể chia sẻ,
vận dụng vào các tình huống khác; trên cơ sở các thông tin phản hồi biết vạch ra
cho mình những kế hoạch điều chỉnh cách học làm sao để nâng cao hiệu quả và chất
lượng học tập. Cụ thể trong bộ môn Lịch sử, KT - ĐG phát triển năng lực tự học
biểu hiện qua kỹ năng khai thác lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu để
tự tìm kiếm nội dung lịch sử thông qua kênh hình; đọc và phát hiện kiến thức cơ
bản trong sách giáo khoa lịch sử; khả năng tự tìm kiếm kiến thức lịch sử thông qua
11


tài liệu tham khảo; kỹ năng kết hợp đọc sách giáo khoa với nghe giảng và tự chép;
khả năng trả lời câu hỏi và tự đặt câu hỏi; khả năng tự hệ thống hóa kiến thức ôn
tập, củng cố kiến thức.
Thứ hai, là phát triển năng lực giải quyết vấn đề. Biểu hiện qua việc HS phân
tích được tình huống, phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập,
trong cuộc sống. Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề; đề
xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; lựa chọn được giải pháp
phù hợp nhất.Thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề để diều chỉnh và vận
dụng trong bối cảnh mới. Trong bộ môn Lịch sử, KT - ĐG phát triển năng lực giải
quyết vấn đề thông qua kỹ năng nhận thức và giải quyết một vấn đề lịch sử; khả năng
vận dụng kiến thức lịch sử để làm bài tập lịch sử; kỹ năng đưa ra được cách thức trả
lời các câu hỏi đã đặt ra; kỹ năng lựa chọn được cách thức giải quyết vấn đề, tình
huống thực tiễn một cách tối ưu; kỹ năng trình bày diễn biến cuộc kháng chiến, trận

nhóm, tập thể khi giải quyết nhiệm vụ học tập, kỹ năng chia sẻ thông tin lịch sử.
Thứ bảy, là năng lực sử dụng công nghệ thông tin (ITC) là kỹ năng khai thác
internet thông tin tư liệu, tranh ảnh, bản đồ, phim tư liệu… để tìm kiếm nội dung
kiến thức lịch sử. Kỹ năng sử dụng phần mềm trong dạy học như sơ đồ tư duy,
Powerpoint để trình bày nội dung lịch sử.
Thứ tám, là năng lực tính toán: Sử dụng thống kê toán học trong học tập bộ
môn Lịch sử như vẽ sơ đồ, biểu đồ, đồ thị Lịch sử.
Năng lực chuyên biệt là những được hình thành và phát triển trên cơ sở các
năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt
động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt
động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hẹp hơn của một hoạt động như toán học, âm
nhạc, mĩ thuật, thể thao…

13


Các Năng lực chuyên biệt trong môn Lịch sử ở cấp THPT
STT
Năng lực
1
Tái hiện sự kiện, hiện

2

Ví dụ
Tái hiện lại các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử

tượng, nhân vật Lịch

quá khứ tiêu biểu có ảnh hưởng đến lịch sử thế giới


kiện lịch sử như chỉ ra mối quan hệ của các sự kiện,

tượng lịch sử với

hiện tượng với hoàn cảnh lịch sử, với tình hình

nhau

chính trị, kinh tế, xã hội trong và ngoài nước, những
tác động tích cực hoặc tiêu cực của tình hình thế
giới đối với lịch sử Việt Nam. Qua đó lí giải nguồn
gốc, bản chất của mối quan hệ và tác động qua lại

4

So sánh, phân tích,

giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử đó
So sánh nhân vật, sự kiện, giai đoạn, thời kì lịch sử,

phản biện, khái quát

phân tích một nhân vật hay một sự kiện lịch sử,

hóa

phản biện các nhận định, luận điểm lịch sử, khái
quát một giai đoạn hay một thời kì lịch sử. Từ đó
thấy được tác động, ảnh hưởng của nó đối với sự


các bài học lịch sử khác
Biết vận dụng kiến thức lịch sử và liên hệ với thực

kiến thức lịch sử đã

tiễn để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống

học để giải quyết

hiện nay như nhiễm môi trường, xung đột trên thế

những vấn đề thực

trên thế giới, tranh chấp biên giới biển đảo, xu thế

tiễn đặt ra
Thông qua sử dụng

toàn cầu hóa…
Biết sử dụng ngôn ngữ lịch sử qua các thời kì để

ngôn ngữ lịch sử thể

trình bày, lập luận các vấn đề lịch sử qua đó thể hiện

hiện chính kiến của

được chính kiến của mình về các vấn đề đó như lập


dựa trên việc thực hiện đạt được hay không đạt các sản phẩm đầu ra trong các giai
đoạn khác nhau.
Một số điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung
và đánh giá tiếp cận năng lực
STT

Đánh giá theo hướng tiếp cận

Đánh giá theo hướng tiếp cận

1

nội dung
Các bài thi trên giấy được thực hiện

năng lực
Nhiều bài kiểm tra đa dạng (giấy,

vào cuối một chủ đề, một chương,

thực hành, sản phẩm dự án, cá nhân,

2
3

một học kì
Nhấn mạnh sự cạnh tranh
Quan tâm tới mục tiêu cuối cùng

nhóm…) trong suốt quá trình học tập

giáo viên còn tự đánh giá của HS

đánh giá, khuyến khích tự đánh giá

không hoặc ít được công nhân
Đánh giá đạo đức học sinh chú

và đánh giá chéo của học sinh
Đánh giá đạo đức học sinh toàn diện,

trọng đến việc chấp hành nội quy

chú trọng đến năng lực cá nhân,

nhà trường, tham gia phong trào thi

khuyến khích học sinh thể hiện cá

đua…
Đánh giá chú trọng đến kiến thức
Đánh giá dựa theo chuẩn tuyệt đối,

tính và năng lực bản than
Đánh giá kĩ năng và năng lực
Đánh giá dựa theo chuẩn tương đối,

cứng nhắc

mềm dẻo


động, tự kiến tạo, huy động được. Vì vậy, KT – ĐG có tác động thúc đẩy phát triển
năng lực và khi các năng lực được phát triển sẽ mang lại hiệu quả tốt cho quá trình
KT – ĐG nhờ những kiến thức mới được tạo ra.
1.1.2.3. Mục đích, ý nghĩa của kiểm tra - đánh giá theo định hướng phát triển
năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.2.3.1. Mục đích của kiểm tra - đánh giá
- Đối với GV:
+ KT - ĐG để GV kiểm soát được quá trình tiến bộ của HS, từ đó có biện
pháp giảng dạy phù hợp.

17


+ KT - ĐG giúp GV tự kiểm tra đánh giá trình độ chuyên môn và năng lực
sư phạm của mình, từ đó có biện pháp để điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả dạy và
học đáp ứng yêu cầu môn học, mục đích môn học đề ra.
- Đối với HS:
Thứ nhất: Định hướng và thúc đẩy quá trình học tập:
+ Qua KT – ĐG thông báo cho từng HS biết được trình độ tiếp thu kiến thức
và những kỹ năng môn học của mình so với yêu cầu của chương trình cũng như sự
tiến bộ của họ trong quá trình học tập, nhằm thúc đẩy tính tích cực, hứng thú học tập.
+ KT – ĐG giúp HS phát hiện những nguyên nhân sai sót cần phải bổ sung,
điều chỉnh trong hoạt động học.
Thứ hai: Kiểm tra, đánh giá để phân loại, xếp loại HS:
+ Công khai hóa các nhận định về năng lực và kết quả học tập của mỗi HS
và mỗi tập thể lớp, tạo cơ hội để các em phát triển kĩ năng tự đánh giá để nhận ra sự
tiến bộ của mình, khuyến khích, động viên các em học tập, có kế hoạch bồi dưỡng
kịp thời. Đồng thời qua đó giáo dục HS nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học
tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức, có thêm nhiều niềm tin ở sức lực, khả năng của
mình để từ đó có nhu cầu tự kiểm tra đánh giá thường xuyên.

thiện tri thức mà còn là điều kiện để hình thành phương pháp tự học, thái độ học tập
tích cực cho HS, cụ thể:
+ Về giáo dưỡng: Kiểm tra là điều kiện để HS củng cố, hiểu sâu những kiến
thức đã học; xác định rõ trọng tâm kiến thức của bài và nhiệm vụ nhận thức của HS
trong giờ học; rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, vận dụng tri thức, phát triển năng lực tư
duy sáng tạo của mình. Qua đó HS tự phát hiện ra điểm mạnh, điểm yếu, những lỗ
hổng, thiếu sót của mình để kịp thời phát huy hay điều chỉnh phương pháp học tập
của mình nhằm đạt kết quả cao hơn. Nghĩa là “biến quá trình đào tạo thành quá
trình tự đào tạo”.
+ Về giáo dục:Thông qua KT - ĐG sẽ hình thành ở HS nhu cầu, thói quen tự
KT - ĐG; rèn luyện ý chí, quyết tâm, tính kỉ luật, trung thực, tự giác, ý thức học hỏi,
tinh thần trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau trong học tập; rèn luyện cho HS sự tự tin
vào khả năng học và làm việc độc lập, khả năng tự điều chỉnh hoạt động học tập của
chính mình; bồi dưỡng cho HS lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần đoàn kết
dân tộc, quốc tế; khắc phục tính chủ quan, tự mãn, ngộ nhận về năng lực bản thân, ỷ
lại hay chán nản, không tin tưởng vào chính mình. Như vậy, KT - ĐG sẽ tạo cho HS
hình thành những tư tưởng, đạo đức tốt đẹp, biết cách cư xử có văn hóa và có một
tâm thế, động lực học tập tích cực, chống lại những biểu hiện tiêu cực trong học tập,
thi cử.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status