skkn nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh trung bình yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kỹ năng viết đoạn văn - Pdf 37

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI VIẾT VĂN TỰ SỰ
CHO HỌC SINH TRUNG BÌNH, YẾU LỚP 8 THCS
BẰNG CÁCH RÈN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN
Bộ môn: Ngữ văn

Năm học 2014 – 2015

1


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh
trung bình, yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn 8 THCS
3. Tác giả:
Họ và tên: Ngô Thị Mây

Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 14/10/1971
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng - Trường THCS Đồng Lạc
Điện thoại: 0976701208.
4. Đồng tác giả (nếu có): Không
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tên đơn vị, địa chỉ, điện thoại
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường THCS Đồng Lạc. Điện
thoại: 03203888078

bài văn tự sự từ lớp 6, lớp 7 (bài viết số 1), nhưng một thực tế đáng buồn là đại
đa số bài viết văn tự sự của các em chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, vẫn còn
hiện tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề. Đặc biệt, rất
nhiều em chưa biết viết đoạn văn tự sự, việc vận dụng đưa yếu tố miêu tả, biểu
cảm vào bài viết của mình vẫn còn rất lúng túng. Thậm chí, có em không biết
viết đoạn văn và không biết đưa yếu tố miêu tả, biểu cảm vào chỗ nào trong bài
viết. Chính vì vậy, để giúp các em làm tốt kiểu bài tự sự có yếu tố miêu tả và
biểu cảm, tôi đã rất trăn trở suy nghĩ và quyết định nghiên cứu sáng kiến:
“Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh trung bình, yếu lớp 8
THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn”.
Sáng kiến này được áp dụng trong các tiết dạy Tập làm văn 8 ở trường
THCS. Nội dung sáng kiến tập trung 2 vấn đề lớn:
- Hệ thống lí luận chung về đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả và
biểu cảm.
3


- Một số giải pháp về rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự có kết hợp
yếu tốt miêu tả và biểu cảm cho đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Từ việc cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về đoạn văn tự sự
có yếu tố miêu tả và biểu cảm, tôi đi vào hướng dẫn các em cách tìm hiểu đề,
tìm ý và kĩ năng viết các đoạn văn trong bài văn tự sự. Thông qua sáng kiến
này cung cấp cho học sinh những giải pháp để các em biết tạo lập một văn bản
tự sự đúng và hay.
Đây thực sự là những giải pháp có tính khả thi và có khả năng áp dụng
hiệu quả. Sáng kiến “Nâng cao chất lượng bài viết văn tự sự cho học sinh
trung bình, yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ năng viết đoạn văn” được tôi
nghiên cứu và đúc rút thông qua dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp, tham khảo
tài liệu và từ thực tế giảng dạy.
Sau một thời gian áp dụng sáng kiến trên tôi thấy chất lượng bài viết của

tích cực đổi mới phương pháp, tìm ra những cách dạy học mới và hay nhằm
phát huy năng lực sáng tạo của các em.

Văn tự sự là một trong 6 kiểu văn bản được dạy, học ở bậc Trung
học cơ sở. Phương pháp dạy phân môn Tập làm văn ở cấp THCS nói chung,
dạy phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 8 nói riêng là dạy kĩ năng làm văn
tổng hợp vận dụng kiến thức của môn Ngữ văn và các môn học khác để tạo lập
văn bản, trong đó phần Tập làm văn tự sự thể hiện tính tổng hợp, tính đồng tâm
rất cụ thể. Dạy Tập làm văn tự sự cho học sinh lớp 8 mức độ nâng cao hơn hẳn
ở lớp 6, lớp 7. Nếu phần Tập làm văn tự sự ở lớp 6, lớp 7 cung cấp kiến thức
khái quát về văn tự sự và chỉ yêu cầu học sinh biết tạo lập một văn bản tự sự có
cốt truyện, nhân vật hợp lý thì phần Tập làm văn lớp 8 yêu cầu đưa thêm các
yếu tố miêu tả và biểu vào bài văn để bài văn thêm sinh động, hấp dẫn.

Rèn luyện kĩ năng viết văn tự sự là một vấn đề có khả năng lớn
trong việc rèn luyện và tích hợp được các kĩ năng khác như: dùng từ, đặt
câu, cách sử dụng cấu trúc hội thoại trong một cuộc thoại, cách lập dàn ý,
cách lựa chọn các chi tiết, sự việc tiêu biểu trong toàn bộ nội dung câu
chuyện. Việc rèn luyện kĩ năng này cần phải thể hiện sự đổi mới trong
phương pháp dạy học: tích hợp và tích cực giữa các chủ thể học sinh trong
5


quá trình dạy học. Đây là phương pháp đã được nhiều thầy cô lựa chọn và đề
xuất các giải pháp. Song các giải pháp đã nêu đa phần dành cho tất cả các đối
tượng mà chưa chú ý nhiều đến đối tượng học sinh trung bình, yếu. Chính vì
vậy, đối tượng học sinh trung bình yếu vẫn còn rất hạn chế trong việc viết đoạn
văn và xây dựng văn bản tự sự.
Hơn nữa, năm học 2014 - 2015 này tôi được phân công giảng dạy môn
Ngữ văn lớp 8C với 100% học sinh trung bình, yếu. Qua thực tế giảng dạy tôi

yếu tốt miêu tả và biểu cảm cho đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Qua việc nghiên cứu này cung cấp cho học sinh những giải pháp để các
em biết tạo lập một văn bản tự sự đúng và hay.
Những giải pháp này chỉ áp dụng trong phạm vi văn bản tự sự trong
chương trình Ngữ văn lớp 8.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Sáng kiến này được vận dụng vào thực tế các giờ dạy học Tập làm văn
trong môn Ngữ văn 8 tại trường THCS.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu viết sáng kiến này tôi đã tiến hành các
phương pháp sau:
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Bao gồm các phương pháp:
Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp khái quát hoá
các tài liệu có liên quan đến đề tài.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Bao gồm các phương pháp:
1.4.2.1. Đọc, nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc Dạy - học Ngữ
văn như:
-" Phương pháp dạy học Văn "- Giáo sư Phan Trọng Luận.
- "Đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS" - GS.TS Trần Bá
Hoành.
- “Kiến thức – kĩ năng cơ bản Tập làm văn trung học cơ sở ” – Huỳnh Thị
Thu Ba.
- “Rèn luyện kĩ năng làm văn ở trường Trung học cơ sở” – Cao Bích Xuân
- “Dạy Tập làm văn Trung học cơ sở” – Vũ Đăng Tú.
- Các chuyên đề, các bài viết trên tạp chí KHXH.

7


1.4.2.2. Dự giờ, thăm lớp học hỏi kinh nghiệm ở các đồng chí đồng


ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại
nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng
được biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường
đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi là câu
chốt). Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của
đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp hay song hành..
Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ
yêu cầu diễn đạt ý thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngôn
ngữ sao cho phù hợp với ý của đoạn để hiệu quả biểu đạt cao hơn, đoạn văn có
sức cuốn hút với người đọc hơn. Kĩ năng dựng đoạn văn gắn với kĩ năng luyện
nói trên lớp. Có như vậy việc triển khai ý thành đoạn cũng mới tiến hành được.
Đây là những thao tác, những kĩ năng có khi thực hiện và rèn luyện đồng thời
cùng một lúc.
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác cần sử dụng các phương tiện liên
kết để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều phương tiện liên kết trong
đoạn văn như: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các
cụm từ thể hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát…,và dùng câu nối
trong đoạn văn. Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách
hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản.
Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thời
chúng cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn. Mặt khác,
lại có những phương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau nên cần lựa
chọn các phương tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết,
với sự việc được phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học
sinh để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của các em trong việc
rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho việc tạo lập các
kiểu văn bản trong chương trình.
2.2. Đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm.

(“Cô bé bán diêm” – An - đéc- xen)

3. Thực trạng của vấn đề:
Qua nghiên cứu tài liệu và thực tế dạy Ngữ văn bậc THCS tôi thấy, "Dạy
Văn là dạy người", môn Ngữ văn vốn có chức năng và nhiệm vụ quan trọng
như thế, nhưng một thực tế rất đáng buồn là học sinh đang coi thường, lãng
quên, thậm chí không yêu thích môn Ngữ văn, đa số học sinh có tâm lí "Giỏi tự
10


nhiên, coi thường xã hội". Bởi thế việc dạy Ngữ văn hiện nay gặp không ít khó
khăn. Dạy Ngữ văn nói chung đã gặp rất nhiều khó khăn nhưng dạy các kiểu
bài trong phân môn Tập làm văn ở chương trình Ngữ văn 8 càng khó khăn hơn
vì hiện nay có quá nhiều sách tham khảo nhưng hầu như nặng về cung cấp lí
thuyết chung chung, hoặc in các bài văn mẫu. Học sinh không được cung cấp,
hướng dẫn phương pháp làm bài một cách cụ thể. Trong quá trình làm bài các
em chỉ làm một việc đơn giản là: sao chép “xào xáo ”lại một số đoạn văn mẫu.
Do vậy dẫn đến học sinh lười suy nghĩ, không có chính kiến, thiếu chủ động,
sáng tạo. Có những em không biết làm một bài văn như thế nào, cứ đọc đề là
viết mà không biết mình viết gì.
Năm học 2014 - 2015 này tôi được phân công giảng dạy bộ môn Ngữ văn
lớp 8C- đối tượng học sinh trung bình, yếu. Trong quá trình giảng dạy tôi đã dự
giờ một số đồng chí, đồng nghiệp trong tổ, trong trường đồng thời tiến hành
khảo sát chất lượng qua một số đề văn tự sự và có kết quả thống kê như sau:
Lớp
8C


số
30


thụ tác phẩm văn học mà một tiết đọc - hiểu văn bản chưa có điều kiện đề cập
tới hoặc đề cập chưa sâu.
Một số giáo viên đã quan tâm tới việc rèn luyện kĩ năng nhận diện, cách
viết từng đoạn văn tự sự cơ bản như đoạn mở bài, các đoạn thân bài... đoạn kết
bài và cách đưa các yếu tố miêu tả, biểu cảm, nghị luận vào trong từng đoạn
văn. Do đó các em đã phần nào phân biệt được đoạn văn tự sự có các yếu tố
miêu tả, biểu cảm, nghị luận khác với đoạn văn miêu tả biểu cảm hay nghị luận.
Một số học sinh đã biết cách liên kết các đoạn văn một cách chặt chẽ,
sáng tạo. Nghĩa là thầy (cô) giáo đã phần nào phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh, một trong những yêu cầu cơ bản của dạy học hiện đại.
3.2. Một số việc chưa làm được trong các tiết dạy Tập làm văn tự sự
cho học sinh lớp 8 THCS hiện nay
Bên cạnh những việc đã làm được trên, đối với kiểu bài tự sự, các em
học sinh lớp 8 đã được làm quen từ bậc tiểu học và củng cố ở các lớp 6, lớp 7
(qua bài viết số 1) nên khi dạy - học kiểu bài này giáo viên, học sinh thường
chủ quan chưa chú ý đúng mức đến việc rèn luyện kĩ năng viết từng đoạn văn
cho học sinh. Vì vậy, bài văn của các em vẫn còn hiện tượng lạc đề, lệch đề do
không chú ý đến việc tìm hiểu đề. Đoạn văn trong bài thường sai quy cách,
giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết..
Đặc biệt, qua số liệu thống kê kết quả khảo sát ở trên tôi thấy đối tượng
học sinh trung bình, yếu chưa biết cách viết đoạn văn. Các em còn rất lúng túng
trong việc hình thành kiến thức và kỹ năng viết đoạn văn tự sự có yếu tố miêu
tả và biểu cảm. Thậm chí có em cả bài chỉ là một đoạn văn, không có bố cục,
có em viết được đoạn văn nhưng chỉ là đoạn tự sự thông thường có cốt truyện,
nhân vật đơn điệu mà không có yếu tố miêu tả và biểu cảm. Chính vì vậy, kết
quả của việc dạy học phân môn được coi là khó này trở nên khô khan, nhạt
nhẽo, chưa đáp ứng được sự mong mỏi không chỉ của xã hội, của các bậc cha
mẹ học sinh mà còn của chính bản thân giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
4. Các giải pháp thực hiện

và trả lời một số câu hỏi sau:
? Hoàn cảnh gợi nhớ lại kỷ niệm là gì?
? Đó là những kỷ niệm nào? Kỉ niệm vui hay buồn?

13


? Kỉ niệm đó diễn ra ở đâu? Khi nào? Với ai? Mở đầu và kết thúc như thế
nào? Có ý nghĩa gì? .....
Như vậy, tìm hiểu đề là suy nghĩ, định hướng, xác định nội dung sẽ viết
theo yêu cầu của đề. Cụ thể là xác định nhân vật, sự việc, tình tiết, diễn biến,
kết quả và ý nghĩa của truyện. Nếu là truyện sáng tạo thì cần phải nghĩ về việc
đặt tên truyện.
Với việc xác định ý của đề tuỳ theo yêu cầu của đề bài mà giáo viên
hướng dẫn cho học sinh cách xác định ý, lựa chọn ý cho bài viết. Để làm sáng
tỏ yêu cầu của đề bài học sinh cần phải triển khai, trình bày nội dung cụ thể của
đối tượng, tức là cần trả lời câu hỏi: Viết những gì? Viết như thế nào ... Với bài
văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm, học sinh cần phải xác định đưa yếu
tố miêu tả, biểu cảm vào chỗ nào cho phù hợp.
4.2. Rèn kĩ năng viết đoạn văn trong văn bản tự sự
Một bài văn tự sự thông thường gồm có ba phần: Mở bài, thân bài, kết
bài. Mở bài và kết bài thường được viết thành một đoạn văn, còn phần thân bài
gồm nhiều đoạn văn. Với đối tượng học sinh trung bình yếu, trước tiên phải
hướng dẫn các em cách viết từng đoạn mở bài, thân bài và kết bài.
4.2.1. Cách viết đoạn Mở bài
Phần mở bài văn bản tự sự có nhiệm vụ giới thiệu nhân vật, tình huống
phát sinh câu chuyện, không gian, thời gian của câu chuyện. Để viết được phần
mở bài phải hướng dẫn các em trả lời các câu hỏi: câu chuyện xảy ra ở đâu?
Vào không gian nào? Câu chuyện có mấy nhân vật? Nhân vật chính là ai? Cũng
có lúc người ta bắt đầu từ một sự cố nào đó, hoặc kết cục câu chuyện, số phận

em các cách viết trong các văn bản tự sự đã học trong chương trình để các em
tham khảo, sau đó hướng dẫn các em vận dụng những cách viết ấy để viết được
các đoạn mở bài theo sự sáng tạo của mình.
Cách làm này của tôi thực sự hiệu quả. Chẳng hạn với đề bài bài viết sô 2:
Kể lại kỷ niệm đáng nhớ với một con vật nuôi mà em yêu thích, các em học sinh
lớp 8C đã vận dụng các cách mở bài trên và viết được nhiều cách mở bài trực
tiếp hoặc gián tiếp một cách sáng tạo như sau:
- Cách mở bài trực tiếp:

15


Miu là một chú mèo tam thể được cả nhà em yêu quý. Nó đã gắn bó với em
với rất nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Nhưng kỷ niệm đáng nhớ nhất là một lần nó
theo em đi chơi và bị lạc.
(Bài làm của học sinh)
- Cách mở bài gián tiếp:
Tuổi thơ của ai cũng đều gắn bó với một con vật nhỏ mà họ yêu thích. Có
bạn thích chú mèo tam thể với bộ lông mượt như nhung, có bạn thích chú cún
bông có màu lông trắng như tuyết...Còn em, em thích nhất chú cún con – một
con chó nhỏ mà bà ngoại đã tặng em hôm sinh nhật vừa rồi.
(Bài làm của học sinh)
Như vậy, trong văn bản tự sự có nhiều cách mở đầu câu chuyện, điều đáng
quan tâm là phải mở đầu làm sao để thu hút sự quan tâm chú ý, tò mò, hấp dẫn
đối với người đọc. Hầu hết học sinh đều cảm thấy rất khó khăn khi viết đoạn
mở bài. Bởi vì mở bài có lưu loát, trong sáng, hấp dẫn thì làm văn mới có cảm
xúc, mới hay và thu hút người đọc. Chính vì vậy, rèn luyện kĩ năng viết đoạn
mở bài cho học sinh là điều đáng quan tâm đối với mỗi giáo viên dạy Ngữ văn.
4.2.2. Cách viết đoạn thân bài
Phần thân bài của bài văn tự sự gồm nhiều đoạn văn. Mỗi đoạn văn là

nào và kết thúc ra sao?)
- Bước 4: Xác định các yếu tố miêu tả và biểu cảm sẽ đưa vào đoạn văn tự
sự. Đây là bước quan trọng nhất, yêu cầu các em không phải chỉ quan sát đối
tượng một cách kỹ càng để lựa chọn mà cần cả liên tưởng, tưởng tượng. Vì sự
liên tưởng, tưởng tưởng giúp tái hiện những đặc điểm, những trạng thái mà sự
quan sát cụ thể sẽ không thể thực hiện được hoặc sẽ làm mất đi vẻ đẹp của sự
việc mình định kể. Ở bước 4, với đối tượng học sinh trung bình, yếu, để các em
xác định được yếu tố miêu tả và biểu cảm và đưa vào đoạn văn tự sự có yếu tố
miêu tả và biểu cảm cần nhắc lại cho các em các kiến thức trong bài “Xây dựng
đoạn văn trong văn bản” để các em biết cách viết câu chủ đề và cách xây dựng
đoạn văn.
- Bước 5: Viết thành đoạn văn tự sự có kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm.
* Lưu ý: Yếu tố miêu tả và biểu cảm chỉ là yếu tố bổ trợ, phương thức
biểu đạt chính trong bài văn vẫn là tự sự.

17


Ví dụ trong Tiết 28- Ngữ văn 8: Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp
với miêu tả và biểu cảm, tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện đúng các bước
theo định hướng trên và tiết học đã rất thành công.
Trước hết ở mục I, tôi cho học sinh lựa chọn sự việc và nhân vật. Các em
có thể lựa chọn 1 trong 3 đề bài ở sách giáo khoa trang 83. Sau khi các em lựa
chọn nhân vật, sự việc tiến hành các bước tiếp theo là lựa chọn ngôi kể, thứ tự
kể và xác định các yếu tố miêu tả và biểu cảm sẽ đưa vào đoạn văn (trước khi
tiến hành lựa chọn sự việc cần cho các em nhắc lại thế nào là miêu tả, biểu
cảm)
Chẳng hạn các em lựa chọn sự việc: Một lần em đánh vỡ lọ hoa.
- Bước 1: Sự việc em định kể là gì? (đánh vỡ lọ hoa).
- Bước 2: Ngôi kể: Em sẽ kể theo ngôi thứ mấy? Xưng hô là gì? (Ngôi thứ


(Bài viết của học sinh)

Như vậy, với cách gợi mở trên, học sinh dễ dàng viết được một đoạn văn
tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm.
Và cũng từ cách viết đó, học sinh có thể vận dụng xây dựng được các đoạn
văn trong bài văn tự sự nói riêng, các bài Tập làm văn nói chung.
* Lưu ý: Mỗi đoạn văn bao giờ cũng phải trình bày tương đối hoàn chỉnh
một ý. Các câu trong đoạn văn phải có quan hệ về ý nghĩa và phải liên kết chặt
chẽ với nhau bằng các phương tiện liên kết.
Phương tiện liên kết là những từ, những tổ hợp từ dùng để liên kết câu.
Phép liên kết là cách sử dụng các phương tiện liên kết để liên kết câu.
Thường có các phép liên kết sau: phép nối, phép lặp, phép thế, phép liên tưởng,
phép nghịch đối…
Để giúp các em biết cách liên kết các đoạn văn cần hướng dẫn các em nắm
chắc kiến thức trong tiết 16 Ngữ văn 8, bài “Liên kết các đoạn văn trong văn
bản”.
4.2.3. Cách viết đoạn kết bài.
Cũng như phần mở bài, phần kết bài cũng có nhiêu cách kết thúc: thông
thường kết thúc hay gắn với chủ đề câu chuyện. Hay cụ thể hơn là truyện cổ
tích thường hay khép lại bằng hai chữ: từ đây, từ đó.
Ví dụ: “ Từ đó, oán nặng thù sâu, hàng năm Thuỷ Tinh làm mưa gió, bão
lụt dâng nước đánh Sơn Tinh…”
(“Sơn Tinh – Thủy Tinh)
19


Với đối tượng học sinh trung bình, yếu tôi không tham vọng đưa ra nhiều
cách kết thúc phức tạp mà chỉ cẩn các em có đủ bố cục. Viết xong một câu
chuyện phải có một kết bài, kết thúc truyện. Kết bài có thể là cảm xúc, suy nghĩ

Số học sinh biết viết đoạn văn
Số lượng
5- 10 em

%
16,7 – 33,3
20

Số học sinh không biết viết đoạn
văn
Số lượng
20-25 em

%
66,7-83,3


5.1. 2. Chất lượng bài viết số 1
Lớp
8C



Giỏi

Khá

T. bình
SL
%

Số lượng
%
8C
30
23-25 em
76,7-83,3
5.2. 2. Chất lượng bài viết số 2
Lớp
8C



Giỏi

Số học sinh không biết viết đoạn
văn
Số lượng
5-7

%
16,7 – 23.3

Khá

T. bình
Yếu
SL
%
SL
%

dạy, bảo đảm đặc trưng bộ môn, vận dụng linh hoạt các phương pháp, xây dựng
kế hoạch trước khi thiết kế bài dạy với các tiết Tập làm văn có nội dung rèn
luyện kĩ năng làm bài cho học sinh. Giáo viên phải luôn coi trọng việc rèn kĩ
21


năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý và viết các đoạn văn hoàn chỉnh cho các em.
Và đặc biệt phải lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy thích hợp với
từng đối tượng học sinh để các em có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo của
mình.
Đồng thời học sinh phải nắm vững kiến thức và các kĩ năng về tìm hiểu
đề, tìm ý, lập dàn ý, kĩ năng viết đoạn văn trong bài văn tự sự và luôn có ý thức
học tập tốt, tích cực rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn không chỉ trong tiết Tập
làm văn mà trong tất cả các tiết học khác.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
22


Trên đây là một số giải pháp giúp học sinh trung bình, yếu làm tốt bài
làm văn tự sự trong chương trình Ngữ văn 8. Đây thực sự là những giải pháp có
tính khả thi và khả năng áp dụng hiệu quả. Sáng kiến “Nâng cao chất lượng
bài viết văn tự sự cho học sinh trung bình, yếu lớp 8 THCS bằng cách rèn kĩ
năng viết đoạn văn” được tôi nghiên cứu và đúc rút thông qua dự giờ, trao đổi
với đồng nghiệp, tham khảo tài liệu và từ thực tế giảng dạy.
Sau một thời gian áp dụng sáng kiến trên tôi thấy chất lượng bài viết của
học sinh đã được nâng lên rõ rệt. Đại đa số đối tượng học sinh trung bình, yếu
đã biết cách viết đoạn văn tự sự có yếu tố miêu tả và biểu cảm. Số lượng bài
không đạt yêu cầu giảm, số lượng bài trung bình tăng lên rất nhiều và đã có

cao tay nghề và đổi mới phương pháp dạy học.
- Tăng cường sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn. Nội dung sinh hoạt tổ
chuyên môn cần phong phú, sáng tạo tránh hình thức, qua loa.
2.4. Đối với giáo viên
- Phải thực sự say mê nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao, chịu
khó đọc tài liệu, tích luỹ kiến thức để nâng cao tay nghề cũng như trình độ
chuyên môn nghiệp vụ.
- Việc rèn luyện kĩ năng làm bài Tập làm văn cho học sinh THCS cần
phải bảo đảm các nguyên tắc, các phương pháp dạy học nói chung và phương
pháp dạy Tập làm văn nói riêng.
- Phải lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy thích hợp với từng đối
tượng học sinh để các em có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo của mình.
- Phải trân trọng sự sáng tạo của học sinh dù là nhỏ nhất.
- Phải rèn học sinh có thói quen nghiên cứu và sáng tạo trong khi viết.
- Giáo viên phải nắm vững phương pháp giảng dạy, bảo đảm đặc trưng
bộ môn, vận dụng linh hoạt các phương pháp, biết định trước một kế hoạch
trước khi thiết kế bài dạy với các tiết Tập làm văn có nội dung rèn luyện kĩ
năng làm bài cho học sinh. Giáo viên phải luôn coi trọng kĩ năng tìm hiểu đề,
tìm ý, lập dàn ý và viết các đoạn văn hoàn chỉnh cho học sinh. Và phải thực
hiện thường xuyên trong các tiết dạy, tránh việc làm hình thức.
Ngoài tiết học Tập làm văn, giáo viên nên vận dụng khả năng lập dàn ý,
viết các đoạn phần mở bài, thân bài, kết bài cho các em ở các hoạt động ngoài

24


giờ. Như vậy việc rèn luyện kĩ năng làm bài Tập làm văn mới trở thành kĩ năng
tốt cho học sinh.
2.5. Đối với học sinh
- Phải có hứng thú học tập, chủ động tiếp thu kiến thức, thường xuyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status