skkn rèn nề nếp cho học sinh lớp 1 - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: Một số biện pháp rèn nề nếp cho học sinh lớp 1.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lí chủ nhiệm lớp: Nề nếp của học sinh lớp 1
3. Tác giả :
Họ và tên: Hoàng Thị Hương
Ngày tháng năm sinh: 01/ 10/1983
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
Chức vụ: Giáo viên.
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1.
Điện thoại: 0983 537 523
4.Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1.
Địa chỉ: Phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học Sao Đỏ 1.
Địa chỉ: Phường Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến :
Đối tượng áp dụng: Học sinh lớp 1 và Giáo viên giảng dạy lớp 1.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến: Tôi áp dụng sáng kiến này trong năm học 2013 –
2014 tại trường mà tôi đang trực tiếp giảng dạy.
HỌ VÀ TÊN TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ

(Ký tên)

ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Hoàng Thị Hương

1

nói chung.
3. Nội dung sáng kiến :
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến :
Trong quá trình giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, tôi thấy các thầy cô đã vận
dụng nhiều biện pháp như nhắc nhở, nêu gương, xây dựng ban cán bộ lớp, kết
hợp vơí phụ huynh… để duy trì nề nếp nhưng còn mang tính nhất thời, áp đặt,
2


chưa sâu sát, coi trọng việc giảng dạy kiến thúc hơn việc rèn nề nếp cho học sinh
nên kết quả chưa mang tính khả thi cao. Việc tổ chức cho học sinh tự nhận xét,
đánh giá hành vi, việc làm của mình trước tập thể chưa được chú trọng hết mức.
Việc kết hợp của giáo viên với phụ huynh chưa thường xuyên, liên tục. Sáng kiến
của tôi đã đưa ra những biện pháp tích cực cụ thể, sát thực, mềm dẻo trong việc
rèn nề nếp cho học sinh như sau : rèn nề nếp cho học sinh bằng cách kết hợp với
phụ huynh, rèn nề nếp cho học sinh bằng cách kết hợp với giáo viên bộ môn, rèn
nề nếp cho học sinh thông qua khen thưởng kỉ luật, rèn nề nếp thông qua đội ngũ
cán bộ lớp. Sáng kiến có thể áp dụng một cách rộng rãi, đơn giản, mà giáo viên
nào cũng có thể thực hiện được. Chỉ cần giáo viên cố gắng phát huy cái mà học
sinh đang có, tránh nói hộ, làm hộ học sinh. Việc phát huy tính chủ động, sáng
tạo, tính tự quản của học sinh rất phù hợp với mục đích của Thông tư 30/BGD –
ĐT.
3.2. Khả năng áp dụng của sáng kiến:
- Vận dụng cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng.
3.2. Lợi ích thiết thực của sáng kiến:
Sáng kiến kinh nghiệm thực hiện góp phần hình thành tính tự giác, ý thức kỉ
luật, tinh thần tập thể cho học sinh. Từ đó có thể góp phần nâng cao chất lượng
học tập cho học sinh. Đồng thời cũng giúp tạo quan hệ thân thiện giữa học sinh
với giáo viên và giữa học sinh với nhau.
Việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm cũng là rèn kĩ năng sống cho học sinh,

quả cao.
Là một giáo viên giảng dạy đã nhiều năm, hơn ai hết bản thân tôi thấy được
trọng trách của mình trong sự nghiệp trồng người. Đối tượng học sinh của chúng
tôi là học sinh lớp 1 mà giai đoạn học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng

trong đời sống của trẻ. Làm sao cho trẻ yêu thích học tập cũng như hăng hái
tham gia các hoạt động tập thể, sao cho các em cảm thấy trường học là ngôi nhà
thứ hai của mình và mỗi ngày đến trường của các em thực sự là một ngày vui.
Để có được điều đó thì cần hình thành ở các em từ những cái đơn giản đến
phức tạp trong mọi hoạt động ở lớp, từ nề nếp học tập, ý thức kỷ luật, thái độ
giao tiếp với thầy cô, bạn bè, trong gia đình và ngoài xã hội... rất nhiều điều cần
quan tâm mà học tập là một vấn đề lớn trong giai đoạn các em đang ngồi trên ghế
nhà trường. Do bản thân chưa có định hướng cụ thể nên các em có rất nhiều sai
sót mà không hề nhận ra. Chính vì vậy, muốn cho các em có nề nếp trong học tập
cũng như trong sinh hoạt, biết gọn gàng, ngăn nắp, khoa học trong từng hoạt
động, người giáo viên phải uốn nắn, rèn giũa cho các em ngay từ khi bước chân
vào ngưỡng cửa nhà trường. Bởi vậy việc hình thành nề nếp cho học sinh hằng
4


ngày là việc làm không thể thiếu. Đặc biệt là học sinh lớp 1 đang độ tuổi hình
thành những phẩm chất nhân cách quan trọng nhất. Đó cũng là lí do tôi chọn sáng
kiến này : “ Một số biện pháp rèn nề nếp cho học sinh lớp 1” .
2. Cơ sở lý luận

2.1. Cơ sở tâm lí học
- Giai đoạn học lớp 1 là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ.
Từ đây tâm sinh lí của trẻ có nhiều thay đổi lớn :
Thứ nhất, chú ý có chủ định (tức chú ý có ý thức, chú ý vào việc học tập)
của trẻ còn yếu, khả năng kiểm soát, điều khiển chú ý còn hạn chế. Ở giai đoạn

nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được
tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà
trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

2.2. Cơ sở ngôn ngữ học
Đa số học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói tương đối thành thạo. Giai đoạn
trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết. Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ
có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bản
thân thông qua các kênh thông tin khác nhau. Vai trò của ngôn ngữ là hết sức
quan trọng đối với quá trình nhận thức lý tính và cảm tính của trẻ, nhờ có ngôn
ngữ mà tri giác, cảm giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được
biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết. Ta có thể đánh giá được trí tuệ
của trẻ thông qua ngôn ngữ . Như vậy ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng nên
các nhà giáo dục phải trau dồi vốn ngôn ngữ và hướng dẫn các em sử dụng ngôn
ngữ thật tốt trong ứng xử giao tiếp.
Học sinh lớp 1 là đối tượng học sinh bé nhất của cấp học đầu tiên, lớp học
tạo nên nền móng tốt cho những năm học sau. Kinh nghiệm bản thân tôi cho thấy
nếu giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác xây dựng và rèn luyện ý thức tự giác
tích cực, tự giác thực hiện tốt các nề nếp tốt và có ý thức tự quản tốt thì sẽ có tác
dụng rất lớn cho việc thực hiện các chỉ tiêu giáo dục, góp phần quan trọng vào
việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
6


3. Thực trạng của vấn đề:
Năm học 2013 – 2014 tôi được nhà trường tiếp tục tin tưởng và phân công
giảng dạy lớp 1. Với số lượng học sinh khá đông, việc duy trì tốt mọi nề nếp quả
là một bài toán khó. Qua một thời gian tìm hiểu tôi thấy thực trạng lớp tôi có một
số ưu điểm và hạn chế sau :
3.1. Ưu điểm :

hợp khi đến trường. Ví dụ : Một số em còn mặc quần đùi, áo ba lỗ,… đến trường.
+ Vệ sinh : Các em chưa biết cách giữ gìn vệ sinh trường, lớp như còn mang quà
đến trường ăn rồi vứt rác bừa bãi, vệ sinh cá nhân chưa sạch sẽ ở một số em
+ Hoạt động giữa giờ : Lớp còn nhiều học sinh chưa biết cách xếp hàng khi tập
thể dục, còn nói chuyện, nô đùa trong buổi tập.
+ Một số quy định khác : Các em chưa có ý thức xếp hàng khi về, rải rác vẫn
còn học sinh mua quà cổng trường gây ách tắc giao thông,….
- Biểu hiện về nề nếp học tập : Các em chưa có thói quen tập trung vào học tập,
ngồi trong lớp còn chưa chú ý nghe giảng, hay làm việc riêng. Khi lấy đồ dùng
còn lúng túng, chưa nhanh nhẹn làm kéo dài thời gian tiết học.
- Biểu hiện về ứng xử đơn giản : Còn học sinh nói năng chưa lễ phép với thầy cô
giáo, xưng hô với bạn bè chưa lịch sự.
Sau đây là kết quả theo dõi việc thực hiện các nề nếp của lớp tôi qua hai tuần
học đầu tiên :
Nề nếp

Số HS thực hiện tốt nề nếp

Số học sinh vi phạm

Giờ giấc
Đồ dùng học tập
Trang phục
Vệ sinh
Hoạt động giữa giờ
Một số quy định khác

28
8
25

ứng xử, giao tiếp đủ câu đủ ý,.....
Nguyên nhân của việc vi phạm trên là do các em được gia đình chiều chuộng.
Từ bé các em quen với cách nói tự do, ăn, uống, ngủ, nghỉ không có qui củ. Ngoài
ra một số em do bố mẹ đi làm xa phải ở nhà với ông bà, chú, bác,... nên sự dạy dỗ
chưa được chu đáo, sát sao.
Tóm lại qua một thời gian theo dõi lớp và qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy,
nề nếp của học sinh trong lớp còn rất nhiều hạn chế, nhất là khi yêu cầu các em áp
dụng vào thực hành. Các em còn thiếu tập trung trong học tập, còn vi phạm nề
nếp: quên sách, quên vở, quên đồ dùng, đi học không đúng giờ,....Đó cũng là điều
dễ hiểu. Chính vì vậy muốn rèn giũa các em theo một guồng nề nếp nhất định thì
giáo viên phải biết lựa chọn những phương pháp và hình thức tổ chức rèn luyện
sao cho phù hợp để các em luôn hứng thú tự rèn luyện để hoàn thiện bản thân mà
không cảm thấy bị áp đặt, bị bắt buộc. Có như vậy người giáo viên mới có thể làm
tốt công tác chủ nhiệm lớp.
4. Các biện pháp thực hiện
4.1. Biện pháp 1: Rèn nề nếp cho học sinh bằng cách kết hợp với phụ huynh:
Buổi họp phụ huynh đầu năm là buổi họp hết sức quan trọng. Trong buổi họp
này giáo viên không những có cơ hội làm quen, tìm hiểu tình hình gia đình, tính
cách của từng em trong lớp chủ nhiệm mà còn giúp giáo viên kết hợp với phụ
huynh rèn nề nếp cho các em. Cụ thể, giáo viên cần nhắc nhở phụ huynh làm tốt
các công việc sau:

9


- Phụ huynh cần kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập của con trước khi đến lớp.
Dần dần tạo cho các em thói quen biết tự làm việc đó theo thời khóa biểu của lớp
mà không cần đến bố mẹ.
- Giáo dục con ý thức gọn gàng, ngăn nắp khi học tập, vui chơi.
- Sinh hoạt điều độ, đúng thời gian biểu, giờ nào việc nấy, tránh tình trạng vừa

Ở lớp 1 các em bắt đầu được làm quen với hoạt động học. Ngoài mục tiêu
trọng tâm là làm thế nào để học sinh đọc đúng, viết đúng, viết đẹp, tính toán tốt
thì một kĩ năng không thể thiếu đối với học sinh lớp 1 là rèn tư thế ngồi, cách cầm
bút cho các em. Nếu tư thế ngồi không đúng sẽ làm cho chữ viết không đẹp, viết
không được nhanh hơn nữa sẽ gây tổn hại cho sức khỏe như cong vẹo cột sống,
mắt cận,….Chính vì vậy giáo viên cần rèn luyện nghiêm túc và tỉ mỉ nề nếp này.
Trước tiên giáo viên cần làm mẫu cách cầm bút, cách di chuyển bút trên
không để cổ tay khi viết thật mềm mại, uyển chuyển. Hướng dẫn học sinh tư thế
ngồi thẳng lưng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở 25- 30 cm; nên
cầm bút bằng tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để trang viết không bị xê dịch;
hai chân để song song, thoải mái. Hướng dẫn học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay
( ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa ) với độ chắc vừa phải ( không cầm bút chặt quá
hay lỏng quá ): khi viết dùng 3 ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang
phải, cán bút nghiêng về bên phải; cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo,
mềm mại, thoải mái. Có hai kiểu chữ viết đó là chữ đứng và chữ nghiêng. Khi
hướng dẫn học sinh viết chữ đứng, giáo viên cần hướng dẫn các em để vở ngay
ngắn trước mặt. Còn khi tập viết chữ nghiêng cần nhắc các em để vở hơi nghiêng
sao cho mép vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 độ. Khi
viết độ nghiêng của nét chữ cùng với mép bàn tạo thành một góc vuông 90 độ.
Như vậy, dù viết theo kiểu chữ đứng hay kiểu chữ nghiêng, nét chữ luôn phải
đúng mẫu và đẹp. Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập viết; viết theo
yêu cầu được giáo viên hướng dẫn tránh viết dở dang chữ ghi tiếng hoặc viết chòi
ra mép vở không có dòng kẻ li; khi viết sai chữ không được tẩy xóa mà cần để
cách một khoảng ngắn rồi viết lại.
11


Bằng cách hướng dẫn tỉ mỉ như trên tôi thấy lớp tôi không có hiện tượng
học sinh cong xẹo cột sống, mắt cận mà chữ viết của các em trong lớp luôn sạch
đẹp và đều nét.

Kí hiệu lấy que tính :
Ngoài ra có thể dùng thêm một số kí hiệu khác như lấy thước, lấy bút,….để
trong tiết học giáo viên luôn là người hướng dẫn và học sinh luôn chủ động tiếp
thu kiến thức.
Ví dụ: Mở sách vở: Để sách vở ngay ngắn lên bàn bộ đồ dùng để trên cùng,
quyển vở ở dưới và cuối cùng là bảng con.
Khi có hiệu lệnh lấy bảng một tay rút bảng, một tay giữ sách bên trên, tư thế
thoải mái, nhẹ nhàng. Viết bảng xong cần cất đúng vị trí cũ. Do các em chưa học
số nên khi đọc xong bài giáo viên hướng dẫn học sinh kẹp que tính vào trang bài
vừa học rồi gập lại đến khi giáo viên yêu cầu mở sách thì lúc này học sinh có thể
nhanh chóng mở được bài mà thầy cô yêu cầu không phải mất nhiều thời gian,
gây tiếng động ồn ào cho lớp. Trong giờ học vần cũng vậy, tôi đưa ra các quy
định rõ ràng, cụ thể cho học sinh về cách phát âm, đánh vần, đọc trơn, phân tích
tiếng hay luyện nói,...
- Khi đánh vần, đọc trơn, giáo viên chỉ từng chữ ghi âm hay cả tiếng, từ.
- Khi phân tích, giáo viên đặt ngang thước dưới tiếng hay từ cần phân tích. Học
sinh thực hành theo dãy, theo nhóm v.v...
Tất cả những việc ấy đều cần có một nề nếp tốt nếu không sẽ ảnh hưởng tới
chất lượng học tập của một giờ học
4.2.1.5. Rèn ý thức tự giác học tập
Rèn cho học sinh có ý thức tự học là một phần rất quan trọng trong vấn đề hình
thành nề nếp học tập cho học sinh lớp một. Hiện nay học sinh đều được học 2
buổi/ngày nên toàn bộ bài học được giáo viên hướng dẫn và học sinh hoàn thành
ngay trên lớp. Ngoài việc rèn cho các em nề nếp học tập ngoan ngoãn, chú ý nghe
13


giảng, hăng hái phát biểu ở trên lớp thì cần rèn cho các em có nền nếp học tập
buổi tối ở nhà với sự hướng dẫn của bố mẹ như: biết tự soạn sách vở, đồ dùng
học tập, đọc trước bài, …. cho ngày hôm sau. Bên cạnh đó việc ban cán sự của

theo các ký hiệu của giáo viên yêu cầu, ví dụ:

:lấy bảng; STV: sách Tiếng

Việt… Em nào đã sắp xếp sách vở một cách khoa học thì lấy vở nhanh, tôi cho
các em thi đua xem em nào, tổ nào làm nhanh (trong thời gian đầu) khi cô nói và
viết tên môn học trên bảng là lúc các em lấy sách vở của môn đó ra. Giữa giáo
viên và học sinh có sự kết hợp nhịp nhàng.
Trong giờ học vần khi gọi các em đọc bài sách giáo khoa tôi thường hướng dẫn
các em tôi thường hướng dẫn các em cầm sách thật ngay ngắn, cầm làm sao để
quyển sách không bị bẻ gáy, quăn mép; hướng dẫn cách đứng, cách lấy hơi, cách
ngắt nghỉ để làm sao các em đọc được to, rõ ràng. Khi hết tiết học hoặc kết thúc
buổi học tôi nhắc nhở học sinh cất sách vở, đồ dùng, …. thật gọn gàng, ngăn nắp
để đồ dùng không bị rơi, bị gãy, bị mất,…
Làm được như vậy, học sinh không những giữ gìn được sách vở, đồ dùng học
tập mà khi vào tiết học giáo viên không mất thời gian để giải quyết những việc
bên ngoài tiết học( như việc học sinh lấy lẫn đồ của nhau, mất đồ dùng,…).Tôi
thấy tiết học rất nhẹ nhàng và đảm bảo đủ thời gian cho các hoạt động học tập.
4.2.2.3. Vệ sinh
Vệ sinh cá nhân, vệ sinh lớp học cũng là một nề nếp đáng quan tâm đối với các
thầy cô. Có vệ sinh sạch sẽ, học sinh mới có sức khỏe tốt để đến trường, giáo viên
mới có thêm sự hứng thú trong công việc. Để học sinh có thói quen, biết cách vệ
sinh cá nhân hằng ngày thì trước tiên giáo viên cần nhắc nhở các em trước khi đến
lớp phải ăn mặc sạch sẽ, gọn gàng đồng thời nhắc nhở các em hằng ngày phải rửa
tay trước khi ăn cơm, sau khi dùng bảng phấn, sau khi đi vệ sinh…Nếu em nào
tay chân bẩn thì cho đi rửa ngay và nhắc nhở phê bình trước lớp. Ngoài việc vệ
sinh cá nhân, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách vệ sinh trường lớp sạch sẽ
bằng cách quán triệt học sinh vứt rác đúng nơi quy định, phân ra các nhóm học
sinh luân phiên nhau trực nhật lớp( quét nhà, lau bảng,…). Đến cuối tuần có phần
15

16


học sinh mà còn là tấm gương để các em noi theo: từ lời ăn, tiếng nói, cử chỉ đến
hành động...Vậy người thầy phải nói như thế nào? Phải ứng xử như thế nào? Phải
luôn cân nhắc lời ăn tiếng nói cũng như cử chỉ, hành động, phải ứng xử như thế
nào? để học sinh kính trọng, nếu không, khó có thể dạy được các em. Bản thân
thầy cô giáo là một tấm gương song phải luôn tích cực nhắc nhở các em làm tốt
các nghi thức giao tiếp như :
- Khi gặp thầy cô phải chào hỏi niềm nở, đúng tư thế.
- Khi giao tiếp với thầy cô phải luôn giữ lễ phép.
- Luôn vâng lời dạy bảo, tuân theo sự hướng dẫn của thầy cô .
- Khi lầm lỗi, được thầy cô chỉ bảo, hãy thành khẩn nhận lỗi và sửa chữa, điều
chỉnh hành vi của mình.
-Trường hợp bị oan, đến gặp thầy cô lễ phép giải bày không nên về báo phụ
huynh đến đôi co làm mất đi mối quan hệ tốt đẹp giữa gia đình và nhà trường.
- Khi thầy cô vào hay rời lớp, hãy đứng dậy trong tư thế nghiêm trang để chào.
4.2.3.2. Giao tiếp với mọi người: Trong các giờ giải lao, giờ sinh hoạt lớp, sinh
hoạt ngoại khóa, tiết học đạo đức… giáo viên có thể nêu một số tình huống giao
tiếp hoặc cho học sinh quan sát một số đoạn video có tình huống giao tiếp,… Học
sinh thảo luận tìm ra phương án ứng xử đúng. Thông qua những tình huống đó
giáo viên giáo dục học sinh ý thức giao tiếp lịch sự với mọi người.
4.2.3.3. Giao tiếp với bạn bè: Bản thân tôi thường quan sát học sinh trong tiết học
hoặc trong giờ ra chơi giao tiếp ứng xử với nhau. Ngoài ra khuyến khích học sinh
tự quan sát nhau rồi thông báo cho cô giáo. Giáo viên cần tuyên dương những em
có hành vi giao tiếp tốt với bạn bè và nhắc nhở phê bình những em giao tiếp chưa
tốt, chưa lịch sự và nhắc nhở các em luôn ôn hoà, nhã nhặn, đoàn kết tương thân
tương trợ khi có bất hoà hãy dùng lời nói để giải quyết, không dùng hành vi bạo
lực khiến sự việc càng thêm mâu thuẫn; Cùng nhau chia sẻ, giải quyết những trở
ngại trong cuộc sống, trong học tập; Tránh sự đố kị, đặt điều nói xấu nhau, chia bè

4.3. Biện pháp 3 : Rèn nề nếp cho học sinh thông qua khen thưởng, kỉ luật

18


Tâm lí của học sinh tiểu học là thích được khen, thích được động viên. Nắm
được tâm lí đó nên ngay từ đầu năm tôi đã bàn bạc với phụ huynh lập cho lớp 1
bảng thi đua. Trong bảng thi đua ghi rõ nội dung vi phạm, nội dung khen
thưởng .Trong một tuần, nếu học sinh được khen 4 nội dùng thì sẽ được dán hoa
đỏ, 3 nội dung sẽ được dán hoa vàng, 2 nội dung sẽ được dán hoa xanh vào mục
Khen thưởng( Có ở bảng mẫu sau).
Tuần

Thứ

……

2

Họ và tên

ND vi phạm

Họ và tên

ND khen

Khen
thưởng


của các em trong trường và mối quan hệ của các em với những người xung quanh;
đảm bảo cho các em được tham gia một cách dân chủ, tích cực vào đời sống học
19


đường; tạo cơ chế khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt
động của nhà trường và phát triển tính tự chủ, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần
hợp tác và đoàn kết của học sinh; tổ chức HĐTQ là do các em học sinh tự tổ chức
thực hiện. Chính vì vậy giáo viên cùng với học sinh cả lớp nên chọn những học
sinh gương mẫu về mọi mặt để bầu vào Ban tự quản. Mô hình ban cán sự lớp của
lớp tôi như sau :
CTHĐTQ
Nguyễn Bá Vinh

PCTHĐTQ
Ng. Đức Minh

Ban
học tập

Ban sức khỏe
– vệ sinh

Ban đối
ngoại

PCTHĐTQ
Bùi Huy Phong

Ban thư

SL
%

Khá
SL
%

TB
SL

%

Yếu
SL
%

Đầu năm
Cuối HK1
Cuối HK2

Hạnh kiểm
THĐĐ
THCĐĐ
SL
%
SL
%

15 41,7 11 30,5
7

* Chất lượng học tập chuyển biến tích cực cụ thể như sau :
Về học tập : Học sinh giỏi: Đã có ở bảng trên.
Chất lượng mũi nhọn: Hội thi giải toán trên mạng: 1 học sinh đạt giải nhì, 1
học sinh đạt gỉai ba, 4 học sinh đạt giải khuyến khích.
Hội thi viết chữ đẹp: 1 học sinh đạt giải ba, 2 học sinh đạt giải khuyến khích
Phong trào văn hóa văn nghệ: Đạt giải khuyến khích hội thi văn nghệ, đạt giải
khuyến khích hội thi Lãnh đạo trẻ tương lai.
Danh hiệu thi đua lớp: Lớp xuất sắc.
* Học sinh biết tự điều chỉnh mình cũng như nhắc nhở nhau để giữ nề nếp
lớp. Lớp trở thành lớp tự quản tốt, đặc biệt công tác vệ sinh trực nhật cũng như
sinh hoạt 15 phút đầu buổi.
* Việc phê và tự phê trong học sinh cũng đã trở thành thói quen, em nào
cũng cố gắng sửa đổi để được tuyên dương trước lớp.

21


* Các hoạt động học tập, sinh hoạt của lớp đã nhịp nhàng; trật tự, thể hiện
tốt ở các giờ tự học. Giáo viên đã thấy nhẹ nhàng hơn trong các giờ dạy. Không
khí lớp học vui hơn, gần gũi thân thiện hơn.
Sau một thời gian kiên trì nghiên cứu và giáo dục các em bằng nhiều biện
pháp, một số học sinh chậm tiến ở lớp tôi chủ nhiệm không còn. Số học sinh
ngoan, đạo đức tốt, học giỏi nhiều hơn, điều đó chứng tỏ một số biện pháp giáo
dục theo các nội dung được đề cập trong đề tài đã thành công.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng:
- Bản thân tôi chỉ dừng lại nghiên cứu tìm ra “Một số kinh nghiệm rèn nề nếp cho
học sinh lớp 1”. Đối tượng nghiên cứu còn hạn hẹp. Sau này có điều kiện tôi sẽ
tiếp tục nghiên cứu tìm ra “ Một số kinh nghiệm rèn nề nếp cho học sinh ở lớp
2,3,…” để nâng cao nề nếp cho học sinh trong toàn trường.



23


- Mỗi giáo viên cần thận trọng giao tiếp trước lớp và không ngừng tu dưỡng, rèn
luyện bản thân để trở thành tấm gương sáng để các em noi theo.
2.3. Nhà trường:
- Cần tổ chức các chuyên đề về rèn nề nếp cho học sinh.
2.4. Phòng giáo dục:
- Nên mở các hội thi kể chuyện về những tấm gương có ý thức học tập, có ý thức
kỉ luật cao. Để qua đó học sinh học tập được nhiều hơn những tấm gương người
tốt việc tốt và là động lực để các em phấn đấu, rèn luyện mình.
- Cần tổ chức chuyên đề phổ biến kinh nghiệm rèn nề nếp cho học sinh đặc biệt là
học sinh lớp 1.
Trên đây là một số biện pháp trong sáng kiến “ Một số biện pháp rèn nề nếp
cho học sinh lớp 1” của tôi. Đó là những biện pháp mà tôi đã nghiên cứu và đúc
rút được qua những năm dạy học tuy chưa phải là lớn nhưng tôi đã, đang làm và
thu được kết quả tương đối cao. Song để kinh nghiệm của tôi đầy đủ hơn nữa. Tôi
mong được sự tham gia góp ý của tổ chuyên môn, ban giám hiệu nhà trường,
phòng giáo dục và bạn bè đồng nghiệp để tôi xây dựng được một kinh nghiệm
đầy đủ và đạt hiệu quả tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

24


PHỤ LỤC
Nội dung
PHẦN 1 - THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
PHẦN 2 - TÓM TẮT SÁNG KIẾN

19

5. Kết quả đạt được
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng
PHẦN 4 – KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Khuyến nghị

21
22
23
23
23

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status