I. THÔNG TIN CHUNG
1. Tên sáng kiến: Một vài phương pháp dạy - học tích cực giúp học sinh khắc
sâu kiến thức môn Lịch sử 8, 9.
2. Tác giả:
Họ và tên: Ngô Thị Hằng
Năm sinh: 1983
Nơi thường trú: Khu 21, thị trấn Tân Uyên - Tân Uyên - Lai Châu.
Trình độ chuyên môn: Đại học, sư phạm Lịch sử
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên
Điện thoại: 098894945
3. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Hoạt động giảng dạy môn Lịch sử 8, 9.
4. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ ngày 5 tháng 9 năm 2013 đến ngày 25
tháng 3 năm 2015.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên.
Địa chỉ: Khu 26, thị trấn Tân Uyên - Tân Uyên - Lai Châu.
Điện thoại: 02313787468
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1. Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến:
a. Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến:
Lịch sử là bộ môn mang tính giáo dục rất lớn đặc biệt là giáo dục lòng yêu
nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức dân tộc của thế hệ trẻ. Đồng thời cung cấp
cho học sinh những kiến thức cơ sở của khoa học lịch sử, nên đòi hỏi học sinh
không chỉ nhớ mà còn phải hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.
Từ những hiểu biết về quá trình phát triển của một đất nước, một dân tộc, rộng
hơn là cả một xã hội loài người, hiểu được sự phát triển hợp quy luật của tự
nhiên và xã hội. Biết vận dụng sáng tạo những hiểu biết ấy vào hoạt động thực
tiễn cuộc sống, phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông, để xác định nhiệm vụ
trong hiện tại, có thái độ đúng với sự phát triển hợp quy luật ở tương lai.
1
Mục đích nghiên cứu của sáng kiến này nhằm đưa ra một vài phương
pháp dạy - học tích cực tối ưu, có tính khả thi để khắc phục có hiệu quả tình
2
trạng học sinh không thích học môn Lịch sử, tiếp thu, ghi nhớ kiến thức lịch sử
một cách hời hợt. Nhằm phát triển tư duy học tập, khả năng ghi nhớ sự kiện lịch
sử một cách lôgic, chủ động, tích cực, tự giác lĩnh hội kiến thức. Học sinh khắc
sâu được kiến thức để nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử.
2. Phạm vi triển khai thực hiện:
Đây là một đề tài mới, được tôi nghiên cứu và triển khai thực hiện trong
thực tiễn hoạt động giảng dạy, học tập môn Lịch sử 8, 9 để tìm ra và kiểm chứng
các phương pháp dạy - học tích cực giúp học sinh khắc sâu kiến thức. Đối tượng
nghiên cứu mà tôi áp dụng là học sinh lớp 8, 9 và mở rộng cho cả học sinh khối
6, 7 trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên. Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các
khối học môn Lịch sử cấp THCS và cấp THPT.
3. Mô tả sáng kiến:
a. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến:
* Hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới:
Trường PTDT Nội trú huyện Tân Uyên là một trường chuyên biệt ở vùng
miền núi thuộc tỉnh Lai Châu, được thành lập và đi vào hoạt động năm 2009.
Đến nay, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học đã tương đối, đủ các phòng học, phòng
ở, đảm bảo yêu cầu cho việc dạy - học, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, học sinh đều là
con em các đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức thấp. Vì vậy, đa số học
sinh chưa thấy được vị trí, tầm quan trọng của việc học nói chung và môn Lịch
sử nói riêng. Đặc biệt, học sinh không có hứng thú với môn học; việc học tập,
rèn luyện môn học bị hạn chế, các em chưa độc lập suy nghĩ học tập mà chủ yếu
học nguyên si những gì mà giáo viên cho ghi, chỉ nêu được diễn biến sự kiện mà
không hiểu vì sao nó lại diễn ra như vậy; chưa xác định rõ động cơ học tập hoặc
học tập chưa có phương pháp phù hợp. Điều này đã gây khó khăn cho giáo viên
37 = 32,5%
26 = 22,8%
51 = 44,7%
Giữa học kì II (114)
62 = 54,4%
19 = 16,7%
33 = 28,9%
Thời điểm
(số học sinh)
Mức độ
Yếu
Kém
Trên
trung
bình
Giỏi
Khá
22,8%
52 =
45,6%
15 =
13,2%
9=
7,9%
90 =
78,9%
Thời điểm
(số học sinh)
+ Ưu điểm:
Qua bảng thống kê nêu trên ta thấy rõ hiệu quả của việc giáo viên áp dụng
một vài phương pháp học tập tích cực, đã tạo được sự hứng thú học tập cho
người học. Trong các giờ lên lớp học sinh đã có sự tích cực hơn, hăng hái phát
4
biểu ý kiến xây dựng bài, lớp học sôi nổi, chủ động lĩnh hội kiến thức. Học sinh
ngày càng yêu thích say mê, hứng thú môn học, chất lượng học tập môn Lịch sử
đã có chiều hướng đi lên.
+ Hạn chế:
Chất lượng môn học tuy có được nâng lên nhưng nâng lên với tỉ lệ %
thấp, trái ngược với sự hứng thú học tập của học sinh tỉ lệ % được nâng cao hơn
* Tính mới của sáng kiến:
Là sáng kiến lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng thực hiện tại đơn
vị. Sáng kiến đã nêu được những nét mới trong thực hiện một vài phương pháp
dạy - học tích cực, nhằm giải quyết những hạn chế trong quá trình giảng dạy của
giáo viên và cách tiếp cận kiến thức môn học của học sinh. Cao hơn cả là giúp
học sinh khắc sâu được kiến thức môn Lịch sử 8, 9 và Lịch sử 6, 7 tại trường tôi.
* Sự khác biệt của phương pháp mới so với phương pháp cũ:
Phương pháp cũ: Giáo viên đóng vai trò trung tâm trong việc áp dụng
những phương pháp dạy - học để tạo sự hứng thú học tập cho học sinh. Trên cơ
sở của sự hứng thú học tập đó, học sinh sẽ học tốt môn Lịch sử và sẽ khắc sâu
được kiến thức môn học. Học sinh là đối tượng gián tiếp tham gia vào hoạt động
dạy - học tích cực của giáo viên.
Phương pháp mới: Giáo viên là người thiết kế, định hướng, triển khai
những nét cơ bản, nét chung nhất để hướng học sinh vào phương pháp tự học,
rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức cơ bản vào trong hoạt động học tập. Học
sinh được trực tiếp tham gia vào hoạt động dạy - học tích cực của giáo viên. Với
mục đích để học sinh khắc sâu được kiến thức đồng thời đem lại niềm vui, hứng
thú học tập môn Lịch sử cho học sinh.
* Cách thức thực hiện:
Như ta đã biết, lịch sử vốn tồn tại khách quan, là những vấn đề đã xảy ra
trong quá khứ, không nhìn thấy được, không sờ nắn được. Lượng kiến thức
trong sách giáo khoa ở mỗi bài học học vẫn rất nhiều, học sinh không thể nhớ
được. Để học sinh nắm bắt nhanh và lưu giữ tốt kiến thức, biết nhận xét, đánh
giá một sự kiện, một chân dung, một giai đoạn lịch sử, một địa danh lịch sử, ...
đòi hỏi giáo viên phải lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau để đạt được
hiệu quả mong muốn, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập môn học
của học sinh.
6
7
chiếu quan sát yếu tố minh họa. Thay vào đó học sinh sẽ tập trung vào phần
giảng nội dung mới của giáo viên, đồng thời giáo viên sẽ không phải mất một
khoảng khoảng thời gian một đến hai phút để ẩn đi những phần minh họa trước
đó của nội dung giảng tương ứng, tiết dạy sẽ liền mạch trôi chảy.
Tôi xin giới thiệu về việc ứng dụng công nghệ thông tin vào thiết kế bài
giảng cụ thể, có nhiều lược đồ, hình ảnh, phim tư liệu cần được minh họa. Bài
27 - Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc
(1953 - 1954), trong chương trình Lịch sử 9, được thực hiện trong 2 tiết. Mục
tiêu, giúp học sinh nắm được những vấn đề cơ bản sau:
1. Kế hoạch Nava của Pháp - Mĩ:
Để giúp học sinh có cái nhìn tổng thể về cục diện của chiến tranh Việt
Nam của Pháp từ sau năm 1950 và nội dung cơ bản của Kế hoạch Nava của
Pháp - Mỹ, giáo viên thiết kế 2 Slides Lược đồ "Âm mưu Pháp - Mỹ trong kế
hoạch Nava". Slide 1 trình bày bước thứ nhất, Slide 2 thể hiện bước thứ hai,
giúp học sinh nhận thấy được sự nguy hiểm của kế hoạch này với cách mạng
Việt Nam trong đông - xuân 1953 - 1954.
Saøi Goøn
Saøi Goøn
Lược đồ: Âm mưu Pháp - Mĩ trong kế hoạch Nava
8
2. Cuộc tiến công chiến
vào bài giảng thêm 4 đoạn
phim có nội dung nêu bật về
các vấn đề sau:
9
- Âm mưu của Pháp - Mĩ để học sinh biết được cấu trúc, vị trí, vai trò của
Điện Biên Phủ trong âm mưu của Pháp - Mĩ. Từ đó, học sinh lí giải được
nguyên nhân vì sao ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
- Chủ trương của ta để học sinh nắm được kế hoạch và quyết tâm của ta
khi chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến lược với Pháp.
- Sự chuẩn bị của ta học sinh sẽ thấy được những vất vả, hiểm nguy mà
cha ông ta đã phải chịu đựng, hi sinh để giành thắng lợi trong chiến dịch Điện
Biên Phủ.
- Bại trận của Pháp sẽ giúp học sinh nhận thức đúng và khá đầy đủ về sự
thất bại của Pháp. Nếu giáo viên chỉ nói là “ta tiêu diệt và bắt sống được 16200
tên địch” thì học sinh khó có thể hình dung ra nó nhiều như thế nào. Tuy nhiên,
khi xem đoạn phim này chắc chắn các em sẽ nhận thấy được sự vĩ đại của chiến
dịch Điện Biên Phủ. Từ đó, giáo dục thêm lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho
học sinh.
Cuối cùng, giáo viên cung cấp thêm một số hình ảnh về Thành phố Điện
Biên ngày nay để học sinh thấy được sự lao động miệt mài, sáng tạo của nhân
dân Điện Biên đã biến từ một vùng chiến trận tàn khốc năm nào thành một thành
phố hiện đại như hôm nay.
Như vậy, nếu giáo viên không sử công nghệ thông tin vào thiết kế bài
giảng trên thì không thể nào lột tả được hết nội dung của bài học. Học sinh
không thể nào hình dung được chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và khó lòng cảm
phục được những hi sinh anh dũng của cha ông ta. Do đó, việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào dạy học lịch sử là rất cần thiết hiện nay.
* Phương pháp 2: Hướng học sinh nghiên cứu, học tập bằng hệ thống sơ đồ
tự biết cách tổng hợp kiến thức bằng hệ thống sơ đồ tư duy, các em sẽ thấy bài
học trở nên ngắn gọn, dễ hiểu, các em nắm được kiến thức cơ bản nhanh chóng,
thuộc bài ngay tại lớp, nhớ sâu và chính xác nội dung bài học. Lúc này việc tự
học của học sinh sẽ không còn nhàm chán như trước.
Khi dạy Bài 29 - Cả nước trực tiếp chiến đấu chống Mĩ cứu nước (1965
- 1973), trong chương trình Lịch sử 9. Sau khi giảng hết mục I - Chiến đấu
chống chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mĩ (1965 - 1968). Giáo viên cùng
11
với học sinh dựa vào phần nội dung được ghi, thực hiện củng cố kiến thức bằng
hệ thống sơ đồ tư duy sau:
Dựa vào mẫu sơ đồ tư duy trên, giáo viên có thể yêu cầu học sinh về nhà
hoàn thiện các nội dung tương tự của chiến lược "Chiến tranh cục bộ", để củng
cố lại kiến thức về chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Bài 28. Đồng thời, hướng
học sinh chuẩn bị bài mới về chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "Đông
Dương hóa chiến tranh". Như vậy, chỉ với một hệ thống sơ đồ tư duy tôi đã giới
thiệu ở trên, đã có thể giúp học sinh nhìn thấy được bức tranh tổng thể của cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954 - 1975) từ âm mưu, hành động của Mĩ
12
đến các thắng lợi của ta trong việc đánh bại các chiến lược chiến tranh do Mĩ
thực hiện ở miền Nam Việt Nam.
* Phương pháp 3: Tái hiện sâu sắc biểu tượng lịch sử thông qua việc dạy học
liên môn
Biểu tượng lịch sử là hình ảnh về những sự kiện, nhân vật lịch sử, điều
kiện địa lý, thời gian, địa điểm, các mối quan hệ xã hội, … được phản ánh trong
dung và hình ảnh giơ lên trong sách giáo khoa thì các em không có cảm nhận về
nhân vật, sự kiện, địa danh lịch sử, ... dẫn đến không có biểu tượng trong đầu.
Kinh nghiệm cho thấy khi dạy đến nhân vật lịch sử, địa danh, sự kiện lịch sử, ...
giáo viên phải nhấn mạnh vài đặc điểm nổi bật, đặc điểm riêng; kết hợp dạy học
liên môn đến văn học, âm nhạc, địa lí; xen lẫn kể tóm tắt các câu chuyện đã để
lại dấu ấn sâu đậm về sự kiện, nhân vật hay địa danh lịch sử kết hợp liên hệ đến
thời hiện tại. Chỉ cần một lần giáo viên tái hiện tốt được biểu tượng lịch sử, học
sinh sẽ dễ hiểu và nhớ lâu, có cảm nhận tốt và mong muốn được tìm hiểu, khám
phá về sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử. Như thế giáo viên không cần phải
nhắc lại nhiều lần cũng đã giúp học sinh nắm vững được các sự kiện, hiện tượng
quá khứ một cách cụ thể có hình ảnh, có biểu tượng lịch sử trong trí não của các
em, giúp học sinh hứng thú và ham thích môn học.
Để tái hiện được biểu tượng lịch sử, trong các tiết giảng tôi thường xuyên
liên hệ đến văn học. Bởi văn học và Lịch sử có nhiều kiến thức môn này sẽ hỗ
trợ cho môn kia, văn học sẽ cung cấp cho ta những tư liệu lịch sử mà nhờ đó học
sinh có thể nhận thức về biểu tượng một cách rõ ràng.
Bài 24 - Cuộc kháng chiến từ 1858 năm 1873 - Sách giáo khoa Lịch sử
8. Tôi đã sử dụng triệt để nội dung bài thơ "Chạy giặc" của Nguyễn Đình
Chiểu. Nội dung bài thơ như sau:
"Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim dáo dác bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỏi trang dẹp loạn này đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này!"
14
15
Bài 23 - Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và sự thành lập nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa - Sách giáo khoa Lịch sử 9. Phải kể tới bài hát: Mười
chín tháng Tám của nhạc sỹ Xuân Oanh. Để sống lại không khí hào hùng của
những ngày Tổng khởi nghĩa và nhắc nhở chúng ta: "19/8 chớ quên là ngày khởi
nghĩa - hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam".
Cuộc kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954), có nhiều ca khúc mãi đi
cùng năm tháng với lịch sử dân tộc Việt Nam, phải kể tới các bài: Hò kéo pháo,
nhạc sỹ Hoàng Vân; Giải phóng Điện Biên, sáng tác Đỗ Nhuận; Tiến về Hà Nội,
nhạc sỹ Văn Cao, .... Cuộc kháng chiến chống Mĩ (1954 - 1975), có các bài hát
mang dấu ấn sâu sắc giáo viên cần khai thác như : Cô gái mở đường, nhạc sỹ
Xuân Giao; Tiến về Sài Gòn, tác giả Lưu Hữu Phước, ....
Bài 23 - Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa - Sách giáo khoa Lịch sử 9, tái hiện biểu tượng lịch
sử thông qua sử dụng tư liệu lịch sử. Tài liệu được sử dụng là một đoạn trích
ngắn có nội dung súc tích, đơn giản, giàu hình tượng, học sinh có thể tiếp thu
một cách dễ dàng không cần giải thích gì thêm. Tôi đã đọc cho học sinh nghe
“Lệnh tổng khởi nghĩa”; cho học sinh xem đoạn băng tư liệu Bác Hồ đọc Tuyên
ngôn Độc lập 2/9/1945. Sau khi được nghe những tài liệu đó và tận mắt xem tư
liệu, học sinh có những hiểu biết rõ ràng, cụ thể và tường tận hơn, không hiểu
biết, nắm bắt kiến thức một cách phiến diện, mơ hồ, hời hợt về sự kiện nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, về chân dung Bác Hồ vĩ đại, về địa
danh Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Việc tổ chức dạy học sử dụng phương pháp tái hiện sâu sắc biểu tượng
lịch sử thông qua âm nhạc, văn học, địa lí, tư liệu lịch sử, ... kết hợp việc ứng
dụng công nghệ thông tin, sẽ mang lại hiệu quả cao, giúp học sinh khắc sâu hơn
về sự kiện, nhân vật, địa danh lịch sử. Các em sẽ hứng thú học tập, tìm hiểu bài,
yêu thích, say mê môn Lịch sử.
tiếp nhận ở trên lớp. Trong quá trình học luôn phải đặt ra câu hỏi “Vì sao” để
tìm hiểu bản chất của kiến thức mà thầy cô giáo cung cấp. Giáo viên có thể tổ
chức cho học sinh thi tìm hiểu kiến thức lịch sử thông qua các trò chơi, được
thực hiện trong tiết học làm bài tập lịch sử. Với các hình thức khác nhau như: trả
lời các câu hỏi trắc nghiệm, giải mật mã lịch sử, trò chơi giải ô chữ, tiếp sức, ….
Mục đích là để tổng hợp lại những kiến thức cơ bản các em đã được tìm hiểu ở
17
mỗi chương, mỗi giai đoạn, đồng thời mang tính giải trí cao, tạo nên một không
khí sôi nổi, hăng say học tập.
Quá trình học tại nhà: Sau khi lên lớp, việc học ở nhà nhằm củng cố lại
kiến thức, thông qua làm bài tập, đọc lại vở ghi, chuẩn bị bài ở nhà, .... Phát huy
năng lực tự học là yếu tố rất quan trọng đặc biệt trong thời đại ngày nay “Tự
học là chìa khóa để bước vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời,
xã hội học tập, có năng lực tự học mới có thể học suốt đời". (Tạp chí Giáo dục)
Giáo viên hướng dẫn học sinh học tại nhà bằng vận dụng cách tự học
hiệu quả sau:
- Học lịch sử phải luôn đi liền với giấy nháp: Một vấn đề rất đơn gản
nhưng trong quá trình hướng dẫn học sinh học tập giáo viên không mấy chú ý.
Với các môn tự nhiên các em luôn có giấy nháp bên cạnh, vậy tại sao môn học
xã hội lại không thực hiện điều đó, đặc biệt là môn Lịch sử. Khi các em học kết
hợp viết các nội dung kiến thức ghi ở vở hoặc ở sách giáo khoa theo một hệ
thống sơ đồ tư duy từ ý chính -> ý phụ. Mục đích viết là để nhấn mạnh vào vấn
đề trọng tâm. Tôi chắc chắn học sinh sẽ tập trung học và khắc sâu kiến thức có
hiệu quả nhất.
- Học tập qua nhiều nguồn thông tin: Học tập qua đài, sách, báo, vô tuyến
truyền hình, ... là nguồn thông tin cập nhật hết sức bổ ích. Những thước phim tư
liệu, những chương trình tìm hiểu kiến thức lịch sử hay những chương trình thi
có chủ đề lịch sử, .... Học sinh có thể chủ động lĩnh hội kiến thức dễ dàng, có
thảo luận tìm hiểu khai thác kiến thức bài học mới về sự kiện, nhân vật, địa danh
lịch sử, ... Như vậy các thành viên của nhóm được tự do học hỏi lẫn nhau những
vấn đề mình chưa hiểu, tự sửa được cái sai của mình, học được ở bạn bè cách
diễn đạt. Giáo viên cần đặt ra yêu cầu với mỗi thành viên của nhóm phải chịu
trách nhiệm về thành tích của nhóm mình. Hằng tháng tôi lựa chọn ra một nhóm
có thành tích cao nhất để động viên khen thưởng các em bằng điểm miệng (8),
trong nhóm đó lại chọn ra một học sinh có nhiều có nhiều câu trả lời bài mới
đúng nhất trong nhóm để động viên khen thưởng bằng điểm miệng (9 hoặc 10).
Với biện pháp thực hiện nêu trên sẽ giúp học sinh có được tinh thần đoàn
kết giúp đỡ nhau trong học tập, tạo được không khí thi đua, hăng hái phát biểu
xây dựng bài, lớp học sôi nổi. Do được học sinh các nhóm chuẩn bị trước nội
19
dung trả lời các câu hỏi ở bài học mới chu đáo nên làm cho tiết học không bị
mất nhiều thời gian, giáo viên sẽ liên hệ mở rộng kiến thức trọng tâm, làm cho
tiết học thêm sinh động, học sinh hứng thú tiếp thu kiến thức.
* Phương pháp 5: Kể chuyện trong giờ học lịch sử
Kể chuyện lịch sử là một phương pháp dùng lời nói kết hợp hình ảnh để
diễn tả một cách sinh động, hấp dẫn về một câu chuyện đã xảy ra trong quá khứ.
Câu chuyện được kể trong giờ học lịch sử có liên quan đến những mảnh sự kiện,
biến cố lịch sử, nhân vật lịch sử hoặc để giải thích cho một cái tên, một địa danh,
một khái niệm, một thuật ngữ có liên quan đến nội dung bài học. Mỗi sự kiện,
nhân vật, địa danh đều có ý nghĩa riêng về mặt ngôn ngữ, văn hóa lịch sử. Việc
ghi nhớ chúng theo những câu chuyện thú vị đi kèm, giúp học sinh nhớ dữ liệu
không phải bằng cách "học thuộc" mà là nhận thức giá trị của chúng.
Muốn tái hiện bức tranh quá khứ một cách sinh động chúng ta phải dựa
trên cơ sở tài liệu tham khảo trong đó có những câu chuyện, những giai thoại
lịch sử. Câu chuyện được kể phải ngắn gọn, sát với mục đích, yêu cầu, nội dung
bài học; câu chuyện có chủ đề, có cốt truyện về sự kiện, nhân vật, địa danh lịch
Bài 18 - Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sách giáo khoa Lịch sử 9. Khi
giảng về Hội nghị thành lập Đảng, giáo viên kết hợp cho học sinh quan sát về
hình ảnh, kể, miêu tả toàn cảnh nơi diễn ra Hội nghị thành lập Đảng: "Trong
ngôi nhà cũ bé nhỏ của một
cơ sở cách mạng tại Cửu
Long - Hương Cảng - Trung
Quốc, thuộc khu ổ chuột với
những túp lều bằng tôn và
cát-tông chen chúc nhau. Mọi
người ngồi xung quanh một
chiếc bàn có để sẵn một bộ
súc sắc - một
trò chơi ưa
thích của người Trung Quốc
ở Hồng Công. Nếu có ai nghi
ngờ vì thấy tiếng ồn ào trong
buồng thì có thể tưởng rằng
đây là nơi tụ tập của những kẻ cờ bạc". Học sinh sẽ không ngờ được rằng Đảng
21
Cộng sản Việt Nam ra đời và hoạt động một cách bí mật trong hoàn cảnh khó
khăn như thế nào. Sự không ngờ đó sẽ giúp học sinh có ấn tượng mạnh về sự
kiện ngày 3/2/1930.
Thông qua kể chuyện lịch sử sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức
mà sách giáo khoa không thể cung cấp. Giáo viên sử dụng phương pháp kể
chuyện không đơn thuần là để minh hoạ mà còn để cụ thể hoá kiến thức, tái hiện
nội dung kiến thức để tạo biểu tượng lịch sử, rút ra bài học lịch sử. Qua đó thực
thái độ, tư tưởng cho học sinh, nâng cao lòng tự hào dân tộc (như phương pháp
tái hiện sâu sắc biểu tượng lịch sử; kể chuyện trong giờ học lịch sử). Có phương
pháp khi được sử dụng nó lại là tổng thể của các phương pháp khác, và có hiệu
quả trong tiết học có nhiều yếu tố dẫn chứng cần minh họa (như phương pháp
khai thác và sử dụng phương tiện thiết bị dạy học bằng ứng dụng công nghệ
thông tin).
Tất cả làm cho tiết học thêm sinh động, học sinh học sôi nổi, hứng thú,
hiểu bài ngay trên lớp. Góp phần nâng cao được chất lượng giảng dạy của giáo
viên. Kết quả hội giảng cấp trường năm học 2013 - 2014 giáo viên xếp loại Khá,
đến năm học 2014 - 2015 kết quả xếp loại Giỏi.
* Với học sinh:
Quá trình học tại lớp của học sinh đã tích cực, chủ động, hăng hái sôi nổi.
Trong giờ học ngoài giờ lên lớp học sinh có sự đoàn kết giúp đỡ nhau trong học
tập, tự giác học tập bằng hình thức học nhóm, lập hệ thống kiến thức bằng sơ đồ
tư tuy, học sinh nhớ lâu và khắc sâu được kiến thức. Đặc biệt học sinh đã tự
mình tìm ra cách thức hoặc phương pháp học tập tốt nhất cho mình.
Để kiểm nghiệm hiệu quả thực hiện sáng kiến, tôi thực hiện theo dõi kết
quả kiểm tra khảo sát thực tế ở hằng tháng, đồng thời tiếp tục lập phiếu thăm dò
về sự hứng thú học tập môn Lịch sử khối lớp 8, 9. Kết quả kiểm tra khảo sát
hằng tháng được nâng lên với tỉ lệ % cao hơn nhiều; sự hứng thú học tập của
học sinh tiếp tục được giữ vững và vẫn có chiều hướng đi lên. Thông qua bảng
thống kê so sánh kết quả trong năm học 2014 - 2015 như sau:
Mức độ
Thời điểm
(số học sinh)
Đầu năm học (114)
Hứng thú
Vừa phải
Giỏi
Khá
Trung
bình
Tháng 9 (114)
11 =
9,6%
24 =
21,1%
54 =
47,4%
14 =
12,3%
11 =
9,6%
89 =
78,1%
Tháng 10 (114)
14 =
4=
3,5%
99 =
87,6%
Tháng 3 (113)
41 =
36,3%
39 =
34,5%
22 =
19,5%
9=
8,0%
2=
1,8%
102 =
90,3%
Thời điểm
(số học sinh)
24
Giữa học kì II (136)
69 = 50,7%
Mức độ
26 = 19,1%
41 = 30,1%
Yếu
Kém
Trên
trung
bình
Giỏi
Khá
Trung
bình
Tháng 10 (136)
11,8%
11 =
8,1%
109 =
80,1%
Tháng 3 (136)
38 =
27,9%
47 =
34,6%
25 =
18,4%
20 =
14,7%
6=
4,4%
110 =
80,9%
Thời điểm
(số học sinh)