sáng kiến kinh nghiệm thực nghiệm các trò chơi vận động vào chương trình giảng dạy giáo dục thể chất cho học sinh trường THPT chuyên lương thế vinh - Pdf 37

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị THPT chuyên Lương Thế Vinh

Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
THỰC NGHIỆM CÁC TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG VÀO
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY GIÁO DỤC THỂ CHẤT
CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH

Người thực hiện: Trần Vũ Phong.

Formatted: Indent: Left: 1.5"

Lĩnh vực nghiên cứu: Giáo Dục Thể Chất

Formatted: Indent: Left: 1.11"

Phương pháp giảng dạy bộ môn: TDQP.AN

Có dính kèm:
 Mô hình

 Phần mềm

 Phim ảnh

Năm học: 2012 – 2013

 Hiện vật khác


Năm nhận bằng: 2012

-

Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục thể chất.

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
-

Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Bóng chuyền
Số năm có kinh nghiệm: 6

-

Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 6 năm gần đây:

Nghiên cứu và lựa chọn một số trò chơi vận động nhằm phát triển thể lực cho học sinh
trường THPT chuyên Lương Thế Vinh (2011 – 2012}


Formatted: No bullets or numbering, Tab
stops: Not at 0.63"

I.

THỰC NGHIỆM CÁC TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG VÀO

Formatted: Top: (No border), Bottom: (No
border), Left: (No border), Right: (No border)


luyện sức khỏe, nâng cao thể lực.
-

Tiếp tục rèn luyện thói quen tập luyện TDTT thường xuyên, giữ gìn vệ sinh, tác

phong nhanh nhẹn, nếp sống lành mạnh, kỉ luật…..
-

Góp phần phát hiện, bồi dưỡng những HS có năng khiếu, hướng nghiệp cho những

HS có nguyện vọng vào trường TDTT.
-

Biết vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn đời sống [17].
1


Để thực hiện mục tiêu trên, trong những năm gần đây BGD&ĐT không ngừng nghiên
cứu cải tiến đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy ở tất
cả các cấp học. Đồng thời tổ chức các khóa tập huấn nhằm nâng cao trình độ giảng dạy
cho các giáo viên TDTT. Bên cạnh đó quá trình kiểm tra, đánh giá thể lực cho HS cũng
phải được tổ chức thường xuyên để phát hiện các HS có thể lực tốt hay thể lực yếu khắc
phục vươn lên, thông qua đó sẽ cải tiến điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp
với từng nội dung cụ thể.
Đặc điểm Trường THPT Chuyên Lương Thế Vinh là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn
nhân lực chất lượng cao cho tương lai của tỉnh nhà. Vì thế, công tác tuyển sinh đầu vào
của trường được đặc biệt chú trọng. Các em được vào học tại trường là những em ưu tú,
xuất sắc nhất trong tỉnh. Hầu hết các em đã có nền tảng kiến thức chuyên môn vững
vàng, có ý thức học tập rất cao, có sự nhạy bén trong khi học và tiếp thu bài do giáo viên
truyền thụ. Mặt khác, Lương Thế Vinh là trường chuyên nên nhà trường và đa phần các

khỏe. Vậy nên tập luyện thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của mỗi người dân yêu
nước. Việc đó khộng tốn kém, khó khăn gì, gái trai, già trẻ, ai cũng nên làm và ai cũng
làm được. Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu
thông, tinh thần đầy đủ. Như vậy thì khỏe. Dân cường thì nước thịnh. Tôi mong đồng bào
ai cũng gắng tập thể dục. Tự tôi ngày nào cũng tập”. Đó là lời kêu gọi tập thể dục của Hồ
Chủ Tịch [1].
Các nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, thứ VII và thứ VIII, IX và X
của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn để chỉ đạo công tác
TDTT trong sự nghiệp đổi mới:
Một là, Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính
sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khoẻ, làm phong phú đời
sống văn hoá tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích
cực các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước.
Hai là, Phát triển TDTT phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa học và nhân dân
Ba là, Kết hợp phát triển phong trào TDTT quần chúng với xây dựng lực lượng vận
động viên, nâng cao thành tích các môn thể thao là phương châm quan trọng đảm bảo
cho TDTT phát triển nhanh và đúng hướng.
Bốn là, Thực hiện xã hội hoá tổ chức, quản lý TDTT, kết hợp chặt chẽ sự quản lý của
nhà nước, của các tổ chức xã hội.
Năm là, Kết hợp phát triển TDTT trong nước với mở rộng các quan hệ quốc tế về
TDTT .
Văn kiện Đại Hội X đã thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển TDTT
nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, đặc
biệt là thế hệ trẻ Việt Nam, góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội và
đối ngoại của Đảng và Nhà nước [18].
3

Formatted: Numbered + Level: 1 +
Numbering Style: I, II, III, … + Start at: 1 +
Alignment: Left + Aligned at: 0.25" + Indent

lớn xã hội chủ nghĩa. Những yêu cầu này chỉ có thể giải quyết một phần lớn trong công
tác chăm sóc sức khỏe, tổ chức rèn luyện thể thao một cách hợp lý, thường xuyên, liên
tục trước hết trong lứa tuổi trẻ nhà trường là nơi đào luyện người lao động mới cho đất
nước [1].
1.3. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi HS THPT
Ở lứa tuổi của HS THPT hoạt động học tập là hoạt động cơ bản thu hút nhiều thời
gian và công sức. Do nội dung các môn học có nội dung kiến thức ngày càng cao,
phương pháp giảng dạy của thầy và trò có nhiều thay đổi, mỗi giáo viên đều có nét riêng
về trình độ chuyên môn và cách xử thế, nên đòi hỏi các em phải nỗ lực tập trung nhiều
công sức, thời gian và trí tuệ. Thời kì này là thời kì quá độ để trở thành người lớn, các em
4


rất thích tò mò, trí nhớ có nhiều biến đổi căn bản, năng lực ghi nhớ có chủ định tăng lên
rõ rệt, cách thức ghi nhớ được cải tiến, hiệu xuất ghi nhớ cũng tăng lên. Tính hệ thống
trong việc thu lượm tri thức được tăng lên nhờ việc thiết lập những mối liên tưởng ngày
càng sâu sắc và phức tạp.
Sự phát triển của các em ở giai đoạn này rất phức tạp, đời sống tâm lý có nhiều mâu
thẫu, nhiều thay đổi đột ngột khiến cho cha mẹ và thầy cô đôi lúc phải ngạc nhiên và cảm
thấy khó xử, vì thế cần phải có thái độ tế nhị và khéo léo. Tình cảm của các em sâu sắc và
phức tạp, dễ xúc động, dễ bị kích thích nhiều do bị ảnh hưởng của quá trình phát dục và
thay đổi 1 số cơ quan nội tạng, nhiều khi còn do hoạt động thần kinh không cân bằng, các
quá trình hưng phấn đã khiến các em không tự kiềm chế được. Các em rất nhạy cảm với
đánh giá của những người xung quanh về bản thân các em. Vì vậy, đôi khi chỉ một thành
công ngẫu nhiên mà được mọi người chú ý cũng có thể làm cho các em tự đánh giá cao
về mình sinh ra tự kiêu, tự mãn, ngược lại cũng có thể gây cho các em có tính tự ti, nhút
nhát ...
Trong quá trình học tập cũng như trong quá trình tập luyện nếu thầy cô hay cha mẹ có
những nhận xét đánh giá không đúng, không công bằng, các em dễ có những phản ứng
mãnh liệt. Nói chung, sự phát triển của các em trong giai đoạn này có nhiều biến đổi về

có yêu cầu riệng biệt cho nam và nữ. Nếu ở lứa tuổi THCS chú trọng phát triển sức nhanh
thì ở lứa tuổi THPT cần chú trọng phát triển cả sức nhanh lẫn sức mạnh.
1.5.3. Sức bền
Có hai loại sức bền, sức bền tĩnh và sức bền động. Sức bền tĩnh thể hiện ở một số động
tác như duỗi tay, uốn cầu...trong thời gian lâu, sức bền động như chạy băng đồng, chạy
trung bình, chạy dài...
Sức bền tĩnh khoảng 14 tuổi đã phát triển mạnh, nếu không được tập luyện, tốc độ phát
triển của nó bị giảm đi, về sau khó nâng cao. Các môn có nhiều luyện tập mang tính sức
bền tĩnh như thể dục dụng cụ, cần phải đưa những động tác tĩnh dạy xen kẽ với các động
tác động để phát triển sức bền một cách toàn diện.
Sức bền động đối với lứa tuổi nhỏ rõ ràng là không thích hợp (dưới 15 tuổi). Những thí
nghiệm cho kết quả là sau khi chạy dai sức, huyết áp của các em dưới 15 tuổi trong một
thời gian dài không thể hồi phục lại trạng thái bình thường, phân tích điện tâm đồ cho
thấy cơ tim ở trạng thái quá sức. Nhưng đối với tuổi HS THPT, cơ thể đã phát triển tương
đối hoàn chỉnh, nên có thể luyện tập phát triển sức bền, như chạy cự ly 800-1500m hoặc
cự ly dài hơn. Tuy nhiên cần phải tiến hành từng bước, tùy đối tượng và phải thường
xuyên quan sát theo dõi, nhất là đối với nữ sinh để chọn cự ly thích hợp và có yêu cầu
riêng biệt.
1.5.4. Linh hoạt, khéo léo
Là khả năng thực hiện và hoàn thành động tác một cách nhanh chóng chính xác và tiết
kiệm sức của cơ thể.

6


Sự linh hoạt, khéo léo của con người không phải sinh ra đã có ngay, mà phải qua một
quá trình rèn luyện, học tập mới có được. Tố chất này có quan hệ rất mật thiết với hoạt
động của khớp xương, sự đàn hồi của dây chằng, với sức mạnh và tính linh hoạt của các
cơ bắp dưới sự chi phối của hệ thống thần kinh.
Ở lứa tuổi này nâng cao tố chất này tương đối dễ vì bắp thịt và các tổ chức xung quanh


Cũng nhờ khả năng tư duy, ngôn ngữ phát triển mà con người bắt đầu biết tích lũy
những kinh nghiệm trong cuộc sống. Nhờ vậy, người ta dần dần nhận thấy được tầm quan
trọng của sự chuẩn bị trước về các công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện những thao
tác cơ bản, để nhờ đó mà hiệu quả lao động đạt được cao hơn. Lúc đầu, sự chuẩn bị các
thao tác đó mang tính chất tự nhiên dưới hình thức vui chơi, giải trí. Sau đó, người ta dùng
để dạy cho con cháu, dạy cho lớp trẻ để chuẩn bị cho họ tiếp bước cha anh, tham gia tích
cực, có hiệu quả vào cuộc sống lao động, đấu tranh cho sự sinh tồn và phát triển của mình.
Như vậy, sau khi ra đời, trò chơi đã mang ý nghĩa giáo dục rất cao và có một vai trò rất
quan trọng trong đời sống xã hội loài người.
Ngày nay, với xu hướng phát triển mạnh của các phương tiện lao động, học tập, trò chơi
ngày càng trở thành một trong những nội dung, phương tiện, phương pháp giáo dục rèn
luyện thế hệ trẻ nhanh nhất, có hiệu quả nhất
1.6.1. Một số đặc điểm của trò chơi
- Hầu hết những trò chơi vận động (TCVĐ) được sử dụng trong GDTC đã mang sẵn
tính mục đích một cách rõ ràng.
- Tổ chức hoạt động trò chơi trên cơ sở chủ đề có hình ảnh hoặc là những quy ước
nhất định để đạt mục đích nào đó, trong điều kiện và tình huống luôn thay đổi hoặc thay
đổi đột ngột.
- Để đạt mục đích (giành chiến thắng) thì có nhiều cách thức (phương pháp) khác
nhau.
- Trò chơi mang tính tư tưởng rất cao. Trong quá trình chơi HS tiếp xúc với nhau, cá
nhân phải hoàn thành nhiệm vụ của mình trước tập thể ở mức độ cao, tập thể có trách
nhiệm động viên, giúp đỡ cá nhân hoàn thành nhiệm vụ của mình, vì vậy tình bạn, lòng
nhân ái, tinh thần tập thể v.v… được hình thành. Cũng trong quá trình chơi, đã xây dựng
cho HS tác phong khẩn trương, nhanh nhẹn, tính kỷ luật, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm
vụ với chất lượng cao v.v…góp phần giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho HS.
- TCVĐ mang đặc tính thi đua rất cao:
Trong quá trình tham gia vào trò chơi, các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng, như niềm
vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ,

chơi : “Bịt mắt bắt dê”, “Bỏ khăn”.v.v…
· Trò chơi “động”: Các trò chơi có khối lượng vận động ở mức trung bình và cao, ví
dụ: Các trò chơi chạy tiếp sức “Tiếp sức chuyển khăn”, “Chạy đổi chỗ”, “Chạy thoi”.
 Các loại trò chơi được phân loại theo căn cứ vào yêu cầu về công tác tổ chức
thực hiện trò chơi
Ta có: Trò chơi chia thành đội, không chia đội và trò chơi có một nhóm chuyển tiếp
ở giữa.
1.6.3. Ý nghĩa và tác dụng của trò chơi vận động
TCVĐ là một trong những phương tiện GDTC nó được sử dụng kết hợp với bài tập
thể chất hoặc du lịch và rèn luyện trong tự nhiên góp phần củng cố và nâng cao sức khoẻ
9


của con người.
Thông qua TCVĐ góp phần giáo dục khả năng nhanh nhẹn, khéo léo, thông minh,
đức tính thật thà, tính tập thể nhằm giáo dục các mặt đức, trí, thể, mỹ v.v… đào tạo con
người phát triển một cách toàn diện.
TCVĐ còn là một phương tiện vui chơi giải trí, một hình thức nghỉ ngơi tích cực, một
hoạt động có tính văn hoá góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho con người.
Về phương diện sinh lý vận động: TCVĐ giải tỏa tâm lý tạo nên sự lạc quan yêu đời,
vui tươi thoải mái góp phần giảm các căng thẳng thần kinh, giảm và chống đỡ được một số
bệnh tật.
Với tác dụng to lớn của TCVĐ nên đã được nhân dân ta sử dụng phục vụ trong những
ngày hội, ngày tết, ngày lễ và đặc biệt trong các dịp trại hè của HS.
Trong trường học, trò chơi được sử dụng kết hợp với bài tập thể chất, nó là một trong
những nội dung của chương trình thể dục.
Căn cứ vào đặc điểm của từng trò chơi được sử dụng vào các phần khởi động, cơ bản
hay hồi tĩnh của mỗi tiết học thể dục, hoặc những giờ chính khoá chuyên về TCVĐ.
Trò chơi có sức lôi cuốn người học, người tham gia chơi thực hiện một cách tự
nguyện, tạo không khí vui tươi, lành mạnh, hào hứng có khi quên cả sự mệt nhọc. Tuy

n

X 

x
i 1

i

Trong đó :

n

n : tổng số đối tượng quan sát.
Xi : giá trị từng đối tượng quan sát.



: là ký hiệu tổng cộng.

- Độ lệch chuẩn (  )
=

 ( Xi  X )

2

( n  30 )

i

: là sai số chuẩn của số trung bình :  x 
11


n


- Tiêu chuẩn t-student
+ So sánh 2 hai số trung bình quan sát
t

XA  XB

 A2
nA



 B2

với ( nA  30, nB  30 )

nB

Trong đó:

X A : Giá trị trung bình của nhóm A
X B : Giá trị trung bình của nhóm B

 A 2 ,  B 2 : Phương sai của A, B

 d 
 

 n 

2

- Nhịp phát triển Brody
W% 

100(V2  V1 )
.
0.5(V1  V2 )

Trong đó: W%: Nhịp độ tăng trưởng (%)
V1:

Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm

V2:: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm
- Chỉ số Quetelet= Cân nặng (g)/chiều cao (cm)
2.7. Thời gian nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành trong năm học 2011 -2012
* Giai đoạn 1: thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan, viết đề tài nghiên cứu, tiến
hành phỏng vấn, lấy số liêu lần 1.
* Giai đoạn 2: thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan, viết đề tài nghiên cứu, ứng
dụng lồng ghép các trò chơi vận động, tiến hành lấy số liệu lần 2.
* Giai đoạn 3: thu thập và tổng hợp tài liệu có liên quan, viết đề tài nghiên cứu, hoàn
thành đề tài và nghiệm thu.
12


GDTC nhằm phát triển thể lực cho HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
(n=45)
Nội dung phỏng vấn

TT

Kết quả
Số phiếu Tỉ lệ %

Ý nghĩa của việc phát triển thể lực cho học sinh THPT

1

2

3

Formatted: Space Before: 0 pt

Rất quan trọng
Quan trọng
Bình thường
Không quan trọng
Ngoài các nội dung của khung chương trình giảng dạy GDTC
của BGD&ĐT (kèm theo chương trình khung) theo ý kiến
Thầy, Cô nên ưu tiên phát triển thể lực chung cho HS THPT
mà đặc biệt là trường chuyên khi các em xem môn thể dục là
gánh nặng với các em?
Các trò chơi vận động


Điền kinh

36

80

Formatted: Space Before: 0 pt

Ý kiến khác

0

0

Formatted: Space Before: 0 pt

82.22
17.78

Formatted: Space Before: 0 pt

Theo quý Thầy cô ngoài các nội dung GDTC mà BGD&ĐT
quy định cho khối trường THPT thì việc lồng ghép thêm nội
dung TCVĐ vào chương trình giảng dạy hợp lý không?

Formatted: Space Before: 0 pt

Rất phù hợp


8/45 ý kiến tán thành chiếm tỉ lệ 17.78%. Như vậy, các ý kiến đều cho rằng phát triển
tố chất thể lực chung cho HS THPT có 1 vị trí, vai trò rất quan trọng. Không có ý

14


kiến nào phủ nhận tầm quan trọng của việc phát triển tố chất thể lực chung cho HS
THPT.

15


Từ bảng 2.1 chúng tôi nhận thấy:
Về ý nghĩa của việc phát triển thể lực cho HS THPT, kết quả thu được như

-

sau: mức rất quan trọng có 37/45 ý kiến, chiếm tỉ lệ 82.22%, còn mức quan trọng có
8/45 ý kiến tán thành chiếm tỉ lệ 17.78%. Như vậy, các ý kiến đều cho rằng phát triển
tố chất thể lực chung cho HS THPT có 1 vị trí, vai trò rất quan trọng. Không có ý
kiến nào phủ nhận tầm quan trọng của việc phát triển tố chất thể lực chung cho HS
THPT.
-

Về ý kiến Thầy, Cô nên ưu tiên phát triển thể lực chung cho HS THPT mà đặc

biệt là trường chuyên ngoài các nội dung của khung chương trình giảng dạy GDTC
của BGD&ĐT như sau: về các TCVĐ có 43/45 phiếu đồng tình chiếm tỉ lệ 95.55%;
Các môn bóng có 38/45 phiếu đồng tình chiếm 84.44%; Bài tập phát triển chung có
10/45 phiếu đồng tình chiếm 22.22%, Thể dục nhịp điệu có 15/45 đồng tình chiếm

triển thể lực cho HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh.
Các TCVĐ được sử dụng phỏng vấn sẽ được lựa chọn khi có kết quả từ 80%
điểm tối đa trở lên theo cách trả lời sau:
- Thường xuyên: 1.5 điểm.
- Có sử dụng

: 1 điểm.

- Ít sử dụng

: 0.5 điểm.

15


Bảng 2.2. Kết quả lần phỏng vấn về mức độ ưu tiên sử dụng các TCVĐ lồng ghép vào
nội dung giảng dạy GDTC cho HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh.

TT

Trò chơi vận động

Kết quả phỏng vấn
(n=45)
Điểm

1
2
3
4

Chim sồ lồng
Nhảy cừu
Đội nào cò nhanh
Đuổi bắt
Đứng quay người nhanh
Chuyền bóng qua đầu
Hoàng anh, hoàng yến
Kéo co
Đổi chỗ nhanh
Đàn vịt nào nhanh
Xuất phát nhanh
Chạy tiếp sức
Tạo sóng
Chọi gà
Chong chóng
Chọi cóc
Phá vây

16

62
63
55.5
56
57
55
61
64
31
39

44.44
48.14
41.48
59.25
63.70
62.22
77.03
37.04
59.25
32.59
29.63
2.96

Formatted: Left: 1.18", Right: 0.59", Top:
0.59", Bottom: 0.79"


Qua bảng 2.2 ta thấy: như vậy theo nguyên tắc chọn thì những chỉ tiêu đạt kết quả ≥
80% điểm mới đưa vào nội dung giảng dạy. Do vậy, chỉ có 8 bài tập (phần in đậm)
đạt chỉ tiêu điểm ≥ 80% điểm tối đa đủ điều kiện lựa chọn.
* Hiện nay, một thực trạng trong các trường THPT ở nước ta do cơ sở vật chất, sân
bãi, nhà tập, trang thiết bị tập luyện đều thiếu và yếu kém, không đáp ứng được nhu
cầu giảng dạy và học tập môn GDTC. Do đó, việc sử dụng TCVĐ để phát triển thể
lực HS là phù hợp và cần thiết trong điều kiện cơ sở vật chất còn yếu và thiếu trong
các trường học, với các giờ nội khóa và ngoại khóa, TCVĐ thường xuyên giúp các
HS được vận động đều đặn và tạo được sân chơi cho HS… Trong điều kiện như
vậy, việc sử dụng TCVĐ vào lồng ghép trong nội dụng giảng dạy GDTC cho HS
THPT của BGD&ĐT là phù hợp nhất.
Mặt khác, vì đặc thù trường chuyên nên việc áp dụng kết quả trên lại càng có
ý nghĩa thiết thực cho HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh vừa giải tỏa được

- Học kì I: 18 tuần (36 tiết).
- Học kì II: 17 tuần (34 tiết).
- Mỗi tuần 1 buổi.
- Mỗi buổi 2 tiết (mỗi tiết 45 phút).
- Mỗi buổi áp dụng TCVĐ vào cuối phần cơ bản của giáo án với thời gian
khoảng 16 – 20 phút.
- Ngày tập cụ thể theo kế hoạch của trường đề ra.
● Mục đích của việc áp dụng trò chơi vận động vào chương trình:
- Nhằm phát triển các tố chất vận động và thể lực cho HS.
- Phát huy khả năng linh hoạt, sáng tạo, ngẫu hứng, phối hợp đồng đội và sức
bền.
- Rèn luyện khả năng phản xạ cho HS, khả năng mềm dẻo và xử lý tình huống
của các thành viên trong nhóm.
- Nhằm phát triển khả năng tổ chức nhóm, nâng cao tinh thần đoàn kết của
HS.
- Qua đó góp phần giáo dục ý thức và tính kỷ luật cho HS khi tham gia trò
chơi.
● Nhiệm vụ và yêu cầu tập luyện:
- Về thái độ:
+ Thái độ HS: tập luyện nghiêm túc, tập trung lắng nghe và thực hành thật tốt.
+ Thái độ giáo viên: Tận tình hướng dẫn trò chơi, có phương pháp đổi mới
gây hứng thú cho HS trong quá trình tập luyện.
- Về kỹ năng: Rèn luyện kỹ năng phối hợp nhóm thật tốt, HS đạt được các mục
đích của việc tập luyện.
Ngoài ra có chế độ ưu tiên và khen thưởng cho những cá nhân và đội chơi có
thái độ và thành tích tốt.
● Tiến trình giảng dạy TCVĐ:
18



Rèn luyện sức mạnh
chân, nhanh, bền, khéo
léo.

x

Phát triển tố chất nhanh,
khéo léo, khả năng
phản xạ.

x

TT

4

Cướp cờ

TiẾN TRÌNH THỰC NGHIỆM TCVĐ
1

5

Đội có
người bật
xa vô
địch

Phát triển sức mạnh bộc
phát và rèn luyên kĩ

năng quan sát, thể lực,
tinh thần đồng đội.

Formatted: Not Different first page header

2

3

4

5

x

6

7

8

9

x

x

10

11


7

x

x

x

3

x

x

x

17

8

9

10

x

x

12


x

x

x

x
x

x

x
x

x

x

x

x

x

x

x

x


x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x



* Bước 3: Kiểm tra sau thực nghiệm.
3.1. Trước thực nghiệm sư phạm:
Để đánh giá thực trạng hình thái và thể lực HS chúng tôi tiến hành tổ chức kiểm tra
lấy số liệu qua 9 chỉ tiêu trước khi tiến hành thực nghiệm để so sánh giữa nhóm đối
chứng và nhóm thực nghiệm. Kết quả được trình bày ở bảng 3.1

20

Formatted: Line spacing: Multiple 1.3 li
Formatted: Left: 1.18", Right: 0.59", Top:
0.59", Bottom: 0.79", Not Different first page
header



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status