ĐỀ TÀI VẬN DỤNG KỸ NĂNG SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ - Pdf 37

PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN KRÔNG BŨK
TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT
********

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI:

VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN VẬT LÝ Ở
TRƯỜNG THCS HIỆN NAY

NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ MAI

EaBLang, tháng 2 năm 2008


Tiểu luận Trết học

I.

II.

III.

Trang:

A. PHẦN MỞ ĐẦU

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Xã hội phát triển trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau. Ứng với

- Thời gian thực hiện đề tài: Từ ngày 16/ 11 / 2007 đến 14 / 12 / 2007.

Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
- Cơ sở lý luận và phương pháp luận: Chủ nghóa duy vật biện chứng và
Chủ nghóa duy vật lòch sử, phép biện chứng duy vật ; Tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước về lực lượng sản xuất.
- Phương pháp cụ thể: Nghiên cứu tài liệu, tham khảo, so sánh, phân
tích, tổng hợp và khái quát hóa.

Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I.


đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến nay, đó là nguyên
nhân sâu xa của sự biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ
lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là
tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lòch sử.
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

Khi công cụ sản xuất thay đổi hoàn thiện và phát triển thì kinh
nghiệm và kỹ năng lao động của người lao động cũng thay đổi, phát
triển hoàn thiện. Ngày nay khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp thì trình độ của những người lao động trong quá trình sản xuất
cũng mang tính khoa học. Nhưng những tư liệu sản xuất dù có vai trò
quan trọng đến đâu thì riêng bản thân chúng cũng không thể tạo ra
của cải vật chất cho xã hội, nếu tách khỏi vai trò của con người thì
tác dụng của chúng rất hạn chế. Chúng chỉ phát huy vai trò trọng yếu
của mình như những nhân tố hữu cơ của lực lượng sản của xã hội khi
được kết hợp với lao động sống. Như vậy người lao động là nhân tố
cơ bản của lực lượng sản xuất, là lực lượng sản xuất chủ yếu đầu tiên
của xã hội, vì chính con người sáng chế ra công cụ lao động và sử
dụng công cụ sản xuất ấy tiến hành sản xuất tạo ra của cải vật chất
cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.
2.- Vai trò của khoa học-kỹ thuật đối với sự phát triển của lực lượng
sản xuất:
Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học đóng vai

trong thời đại chúng ta là khoa học đã biến thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Như chúng ta biết một số nước có nền khoa học và kỹ thuật
tiên tiến như: Mỹ, Nga, Nhật bản v v... nhờ vận dụng lực lượng sản
xuất phát triển mà các nước đó đã đạt tới đỉnh cao của công nghệ kỹ
thuật mà trực tiếp là phát triển của lực lượng sản xuất đến điểm cao.
Quan hệ sản xuất tuy phụ thuộc vào lực lượng sản xuất nhưng có tác
động trở lại quan trọng đối với sự vận động và phát triển của lực
lượng sản xuất. Nếu thích hợp với trình độ và tính chất của lực lượng
sản xuất thì quan hệ sản xuất tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất
phát triển; còn nếu không thích hợp và lạc hậu đối với trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất thì sẽ trở thành lực cản lớn đối với lực
lượng sản xuất và đối với sự phát triển của xã hội. Như vậy quan hệ
sản xuất thích hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất là
một động lực trọng yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và của
toàn xã hội.
Các Mác viết: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng
các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những
quan hệ sản xuất hiện có, mâu thuẫn với quan hệ sở hữu trong đó từ
trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển từ chỗ là những
hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất. Những quan hệ ấy trở
thành những xiềng xích của lực lượng sản xuất, khi đó, bắt đầu thời
đại của cách mạng xã hội. Cơ sở kỹ thuật đã thay đổi thì tất cả các
thượng tầng đồ sộ cũng bò đảo lộn ít nhiều nhanh chóng phát triển.”
Còn đối với đất nước ta: muốn xây dựng thành công Chủ nghóa xã hội
phải biết vận dụng đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên
Chủ nghóa xã hội, có những lúc chúng ta cũng chưa vận dụng đúng
quy luật này. Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã chủ
trương đổi mới để khắc phục những sai lầm đã mắc phải trong cải tạo
xã hội và quản lý kinh tế chính là để có được những quan hệ sản xuất

hệ phân phối sản phẩm. Trong lòch sử có hai loại hình sở hữu cơ bản
về tư liệu sản xuất: sở hữu tư nhân và sở hữu công cộng. Sở hữu tư
nhân là loại hình sở hữu mà trong đó tư liệu sản xuất tập trung vào
trong tay một số ít người, còn đại đa số không có hoặc có rất ít tư liệu
sản xuất. Do đó quan hệ giữa người với người là quan hệ thống trò và
bò trò, bóc lột và bò bóc lột. Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà
trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng.
Do đó, quan hệ giữa người với người là quan hệ bình đẳng, hợp tác,
cùng có lợi.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá
trình sản xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó do
quan hệ sở hữu quy đònh và phải thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy
nhiên, có trường hợp, quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với
quan hệ sở hữu, làm biến dạng quan hệ sở hữu.
Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan
hệ sở hữu về tư liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý chi phối,
song nó tác động trực tiếp đến lợi ích của con người, nên nó tác động
đến thái độ của con người trong lao động sản xuất và do đó có thể
thúc đẩy hoặc kìm hãm sản xuất phát triển.
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại không tách rời
nhau, thống nhất biện chứng với nhau trong từng giai đoạn lòch sử
nhất đònh tạo thành các phương thức sản xuất nhất đònh. Trong hai
mặt đó, lực lượng sản xuất là nội dung, thường xuyên biến đổi, phát
triển; quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, tương đối ổn
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

hệ sản xuất, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với nó. Khi một
phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sản xuất phù hợp
với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là trạng
thái mà trong đó, quan hệ sản xuất là hình thức phát triển của lực
lượng sản xuất. Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan hệ sản
xuất đều tạo đòa bàn đầy đủ cho lực lượng sản xuất phát triển. Điều
đó có nghóa là quan hệ sản xuất tạo điều kiện sử dụng và kết hợp
một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất, và do đó lực
lượng sản xuất có điều kiện phát triển hết khả năng của nó.
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

Song, sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ
nhất đònh lại làm cho quan hệ sản xuất từ chỗ phù hợp trở thành
không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi đó quan
hệ sản xuất trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực
lượng sản xuất phát triển. Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực
lượng sản xuất tất yếu sẽ dẫn đến thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng
quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới của lực
lượng sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển. Các
Mác viết: “ Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực
lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản
xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản


Tiểu luận Trết học

Trang:

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá
trình sản xuất vật chất – là quan hệ cơ bản chi phối và quyết đònh
mọi quan hệ xã hội. Nó là bộ xương của hình thái kinh tế xã hội, là
tiêu chuẩn khách quan để phân biệt hình thái hinh tế xã hội này với
hình thái kinh tế xã hội khác.
Quan hệ xã hội được hình thành một cách khách quan trong
quá trình sản xuất vật chất xã hội, không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con người, mà chỉ phụ thuộc vào tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất. Điều đó khẳng đònh rằng con người
không thể tùy tiện lựa chọn hay xóa bỏ một kiểu quan hệ nào đó, nó
hoàn toàn được quy đònh bởi tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất
và vì vậy lực lượng quyết đònh cả sự vận động, phát triển của hình
thái kinh tế xã hội.
Bộ phận thứ ba trong một hình thái kinh tế xã hội là kiến trúc
thượng tầng tương ứng, nghóa là kiểu kiến trúc thượng tầng do cơ sở
hạ tầng sinh ra. Đây là cái thứ sinh, cái phản ánh làm cho xã hội
được hiểu như một chỉnh thể, một chỉnh thể thống nhất, biện chứng
giữa cái khách quan và cái chủ quan của xã hội.
Trong cơ cấu và sự tác động của các yếu tố của hình thái kinh
tế xã hội còn có quan hệ giai cấp ( trong xã hội có giai cấp ), quan hệ
dân tộc, quan hệ gia đình... được hình thành và chòu sự tác động của
các yếu tố ta phân tích ở trên. Nghiên cứu lý thuyết hình thái kinh tế
xã hội của Mác cần chú ý một điều hết sức quan trọng là các yếu tố
hợp thành hình thái kinh tế xã hội có mối quan hệ và tác động lẫn
nhau theo các quy luật khách quan vốn có của nó. Trước hết và cơ

xuất, các phương thức sản xuất. Phương thức sản xuất thay đổi kéo
theo toàn bộ trật tự xã hội thay đổi, tức là sự thay thế của các hình
thái kinh tế xã hội. Theo quy luật hình thái xã hội sau cao hơn, tiến
bộ hơn thay thế hình thái xã hội trước. Nói cách khác, sự thay thế của
các hình thái kinh tế xã hội trong lòch sử là một quá trình phát triển từ
thấp đến cao theo quy luật khách quan, không phụ thuộc ý muốn chủ
quan của con người. Đó là một quá trình tiến hóa bao hàm những
bước nhảy vọt tạo lên sự tiến bộ của lòch sử loài người.
Thứ hai: Sự phát triển của xã hội, sự thay thế nhau của các
hình thái kinh tế xã hội tuân theo những quy luật khách quan vốn có
của nó. Động lực phát triển của xã hội nằm ngay trong lòng xã hội.
Đó là sự vận động của các mâu thuẫn xã hội mà trước hết là mâu
thuẫn giữa các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, mâu thuẫn giữa giai cấp
( trong xã hội có giai cấp ) ...
Tóm lại, nếu đem các quan hệ xã hội vào các quan hệ sản
xuất, rồi đem quy luật quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất chúng ta sẽ thấy được quá trình lòch sử tự nhiên
của sự phát triển các hình thái kinh tế- xã hội.
Lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội của Mác vạch ra cấu trúc
và các quy luật chung nhất trong sự vận động của xã hội. Song, khi
vận dụng nó vào trường hợp cụ thể từng quốc gia, từng dân tộc phải
tính đến sự tác động phức tạp của hoàn cảnh lòch sử cụ thể từ tổng
hợp nhiều yếu tố.
Lòch sử phát triển của xã hội loài người nói chung phải trải qua
các hình thái kinh tế – xã hội từ thấp đến cao, song lòch sử nhân loại
cũng không loại trừ sự phát triển đặc thù của các quốc gia, dân tộc
trong hoàn cảnh nhất đònh, có thể bỏ qua hình thái kinh tế xã hội này,
nhảy vọt lên hình thái kinh tế – xã hội cao hơn nghóa là việc bỏ qua
Nguyễn Văn Thức

bản chưa bò đánh bại tại quê hương của nó.
- Do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất, tính chất quốc tế
hóa của lực lượng sản xuất đã tạo lên một xu thế mới trong quan hệ
giữa các quốc gia, dân tộc làm thức tỉnh các dân tộc có thể đi vào con
đường phát triển phi Tư bản chủ nghóa.
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất trong các nước Tư bản
chủ nghóa do cách mạng khoa học và công nghệ đưa lại, cũng mở ra
nhiều yếu tố tăng trưởng kinh tế – là thành tựu chung của nhân loại
mà các nước xã hội chủ nghóa có thể sử dụng như những bước trung
gian, quá độ về kinh tế đi lên Chủ nghóa xã hội.
2. Điều kiện chính trò:
- Có Đảng của giai cấp vô sản đã giành được chính quyền và
trở thành Đảng cầm quyền.
- Xây dựng và thực hiện được một nhà nước kiểu mới: của dân,
do dân và vì dân.
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

- Có một hệ thống chính trò đủ mạnh để đưa nền kinh tế đất nước
theo đònh hướng Xã hội chủ nghóa.
Trong thời đại ngày nay, nhân tố kinh tế – sự phát triển cao
của lực lượng sản xuất suy cho cùng là nhân tố quyết đònh thắng lợi
của Chủ nghóa xã hội. Song nhân tố chính trò xét về mặt chủ thể của
lòch sử lại trở thành nhân tố quyết đònh trong bước đường phát triển

triển hợp quy luật. Quá độ lên Chủ nghóa xã hội bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghóa, tức là bỏ qua việc xác lập vò trí thống trò của quan hệ sản xuất
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

và kiến trúc thượng tầng Tư bản chủ nghóa, nhưng tiếp thu, kế thừa
những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ Tư bản, đặc biệt
là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,
xây dựng nền kinh tế hiện đại. Đồng thời chúng ta xác đònh rõ ràng là
cần phải từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp
với sự phát triển theo đònh hướng Xã hội chủ nghóa; chống tư tưởng duy
lực lượng sản xuất, chủ nghóa kỹ trò.
Xây dựng Chủ nghóa xã hội bỏ qua chế độ Tư bản chủ nghóa, tạo ra
sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lónh vực là một sự nghiệp
rất khó khăn, phức tạp, có sự đan xen và đấu tranh quyết liệt giữa cái
mới và cái cũ, giữa chủ nghóa xã hội và không chủ nghóa xã hội, phải sử
dụng một số hình thức không gian, cho nên tất yếu phải trải qua một thời
kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh
tế, xã hội có tính chất quá độ . Ví dụ chúng ta phải chấp nhận còn nhiều
hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, nhiều giai
cấp, tầng lớp xã hội khác nhau.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã phân tích đặc
điểm thời đại, tình hình kinh tế xã hội của đất nước đã đưa ra quyết đònh
đổi mới, mà trước hết là đổi mới tư duy. Từ đổi mới tư duy chuyển sang

trong nước cũng như trên thế giới.
Nước ta lựa chọn con đường Xã hội chủ nghóa bỏ qua chế độ tư bản
chủ nghóa từ một nước nông nghiệp lạc hậu, do đó xây dựng phương thức
sản xuất xã hội chủ nghóa là một quá trình lâu dài và đầy khó khăn,
phức tạp. Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bò kìm hãm
không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc hậu mà cả khi quan hệ
sản xuất phát triển không đồng bộ và có những yếu tố đi quá xa so với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Tình hình thực tế của nước ta đòi hỏi phải coi trọng những hình thức
kinh tế trung gian, quá độ từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô
lớn. Để xây dựng phương thức sản xuất xã hội chủ nghóa, chúng ta chủ
trương xây dựng một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần với cơ chế
thò trường có sự quản lý của nhà nước nhằm phát huy mọi tiềm năng của
các thành phần kinh tế, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất để xây
dựng cơ sở kinh tế của chủ nghóa xã hội. Từng bước xã hội hóa xã hội
chủ nghóa, quá trình đó được thực hiện không phải bằng gò ép mà được
thực hiện từng bước thông qua sự hỗn hợp các hình thức sở hữu như công
ty cổ phần, chủ nghóa tư bản nhà nước, các hình thức hợp tác xã... để dần
dần hình thành các tập đoàn kinh doanh lớn, trong đó các đơn vò kinh tế
quốc doanh và tập thể là nòng cốt. Chúng ta chỉ bỏ qua những gì của xã
hội cũ không còn phù hợp với xã hội mới thay thế và không đem lại
hiệu quả kinh tế xã hội cao hơn; chúng ta chủ trương thực hiện sự
chuyển hóa cái cũ thành cái mới theo đònh hướng xã hội chủ nghóa.
II. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN
LỰC LƯNG SẢN XUẤT Ở NƯỚC TA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nêu ra mục tiêu
của thời kỳ công hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta trở thành một
nước công nghiệp cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,
quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng

huống, tăng nhanh nguồn lương thực thực phẩm và rau quả, cải thiện
chất lượng cuộc sống, giảm suy dinh dưỡng. Miễn dòch cơ cấu nông
nghiệp và kinh tế nông thôn có hiệu quả, mở rộng diện tích trồng cây
công nghiệp, cây ăn quả, tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, phát triển
kinh tế thôn buôn, kinh tế rừng, tăng nhanh sản lượng hàng hóa gắn với
công nghiệp chế biến và xuất khẩu.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra những chính sách lớn,
trong đó có chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đẩy nhanh quá trình chuyển dòch cơ cấu kinh tế gắn với phân công
lao động ở nông thôn.
Thực hiện tốt các chủ trương về phát triển nông, lâm, ngư nghiệp và
một số chủ trương mới như đẩy nhanh chương trình thoát lũ, đẩy mạnh
công nghệ sinh học, ưu tiên phát triển cây trồng, vật nuôi có quy mô
xuất khẩu...
Thực hiện chính sách ruộng đất phù hợp với sự phát triển nông
nghiệp hàng hóa và chuyển dòch cơ cấu kinh tế nông thôn tạo việc làm
và thu nhập cho nông dân nghèo. Cụ thể, khẩn trương hoàn thành việc
giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nông dân, khắc
phục tình trạng ruộng đất quá phân tán và manh mún.
Phát triển mạnh các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, đặc
biệt là một số khu quy mô nhỏ các trung tâm kinh tế xã hội ở các vùng
nông thôn, xây dựng các khu công nghiệp chế biến.
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học


xuất các loại sản phẩm có thò trường và hiệu quả kinh tế cao. Phát triển
chăn nuôi với tốc độ tăng trưởng cao, nâng tỷ trọng ngành này trong giá
trò sản xuất nông nghiệp. Quy hoạch xây dựng các vùng sản xuất hàng
hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất, chế biến.
Tiếp tục chương trình bảo vệ và phát triển rừng, đổi mới chính sách giao
đất, giao rừng, bảo đảm cho người làm nghề rừng có cuộc sống ổn đònh
và được cải thiện. Nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu
gỗ cho chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
Hai là, chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học và công nghệ vào
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trong khâu giống, kỹ thuật canh tác và
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch, gắn với hệ thống khuyến nông,
khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật.
Ba là,tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn trong tổng thể quy
hoạch chung của từng vùng, từng đòa bàn. Hình thành các khu dân cư đo
thò hóa với kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội ở nông thôn như hệ thống
thủy lợi, giao thông, các khu, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế,
chợ, bưu chính –viễn thông, điện, nước sạch. Chú trọng giải quyết việc
làm, đào tạo nghề cho nông dân, đặc biệt các vùng sử dụng đất nông
nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, phát triển hạ tầng giao
thông, xây dựng các khu đô thò mới. Tạo điều kiện cho lao động nông
thôn có việc làm tại chỗ và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ra nước



Tiểu luận Trết học

Trang:

đòa phương, thành lập đội ngũ những người tình nguyện gồm cán bộ kỹ
thuật, sinh viên tốt nghiệp đại học và những nông dân giỏi, những doanh
nghiệp trẻ thành đạt xuống các thôn buôn hướng dẫn, phổ biến kỹ thuật
giúp đỡ người nghèo sản xuất kinh doanh.
III. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN LỰC LƯNG SẢN XUẤT Ở
ĐỊA PHƯƠNG.
1. Sử dụng vốn vay đầu tư và nội lực của nhân dân trong việc cải tiến
các công cụ sản xuất và phương tiện sản xuất.
Phát huy tiềm năng của từng hộ gia đình để phát triển sản xuất,
những gia đình có mức thu nhập cao và khá thì khuyến khích động
viên họ làm giàu, tổ chức cho các hộ gia đình tham quan học tập và
giúp đỡ nhau cùng làm ăn tương trợ lẫn nhau, hỗ trợ vốn để mua sắm
trang thiết bò máy móc, vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu.
Chính quyền đòa phương bằng mọi cách tạo điều kiện cho nhân
dân vay vốn như q tín dụng, ngân hàng nhà nước và các tổ chức
kinh tế khác để bà con mua sắm máy móc, đầu tư phát triển kinh tế.
Tạo điều kiện khuyến khích nhân dân mạnh dạn đầu tư vào
các ngành nghề truyền thống ở đòa phương. Có chính sách thu hút
vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp trên đòa bàn nhằm
giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân đòa phương.
2. Từng bước ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất.
Do trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng hiện đại, nên các cấp
ủy Đảng và chính quyền đòa phương cần có kế hoạch thường xuyên
cử cán bộ hội nông dân và các hộ sản xuất giỏi đi tham quan học tập

vai trò lãnh đạo của Đảng và chính quyền trong việc phát triển lực
lượng sản xuất, đẩy mạnh và hình thành các vùng sản xuất tập trung
như rau hoa quả, lúa nước chất lượng cao, tập trung đầu tư cho vùng
chuyên canh cà phê để có hiệu quả và năng suất cao. Chăm lo đầu tư
nhiều hơn nữa để phát triển lực lượng sản xuất, từng bước thay thế
những phương tiện máy móc cũ kỹ lạc hậu bằng máy móc hiện đại
để mang lại hiệu quả năng suất lao động nhằm phát triển kinh tế.
Làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện tốt chính sách dân
tộc. Các cấp ủy Đảng và chính quyền đòa phương cần quan tâm xây
dựng các công trình đòa phương như đường, điện, trường, trạm nhằm
nâng cao đời sống văn hóa xã hội cho nhân dân.

C.KẾT LUẬN.

Quá độ lên chủ nghóa xã hội, không qua giai đọan phát triển Tư bản chủ nghóa,
hiện nay đất nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức. Để thực hiện chủ trương đó chúng ta cần chú trọng
phát triển lực lượng sản xuất, vì lực lượng sản xuất là nhân tố quyết đònh trực tiếp
quan hệ sản xuất , kiến trúc thượng tầng của hình thái kinh tế xã hội. Ngày nay
khoa học kỹ thuật đã thâm nhập vào sản xuất làm cho nó trở thành lực lượng sản

Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:


ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn
chúng ta cần phải tiếp tục xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất tiến bộ
theo hướng xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đònh hướng
xã hội chủ nghóa, để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất
hiện có ở các đòa phương nước ta hiện nay.

Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO.
- Các Mác: Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trò.
Mác – Ăngghen: Tuyển tập-tập 2
NXB sự thật Hà Nội 1981 trang 637-638.
- Lênin toàn tập.

Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:


1

I. Tính cấp thiết của đè tài
II. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
III. Phạm vi nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.

2

IV. PHẦN NỘI DUNG.
Nguyễn Văn Thức

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng


Tiểu luận Trết học

Trang:

CHƯƠNG I.
I. Cơ sở lý luận về lực lượng sản xuất.
1. Cở sở lý luận.
2.Vai trò của khoa học-kỹ thuật đối với
sự phát triển của lực lượng sản xuất.
3. Phép biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
4. Sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội
trong quá trình lòch sử tự nhiên

CHƯƠNG II.


20
22
23

Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status