GIÁ TRỊ của PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật, ý NGHĨA lý LUẬN và THỰC TIỄN đối với CÁCH MẠNG VIỆT NAM - Pdf 37

Giá trị của phép biện chứng duy vật đối với lí
luận và thực tiển cách mạng việt nam
Cách đây tròn 90 năm, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng mời Nga
thành công(7/11/1917). Đây là cuộc cách mạng có ý nghĩa thời đại, là sản
phẩm tất yếu của việc giải quyết các mâu thuẫn thời đại đầu thế kỷ xx, của
quy luật vận động và phát triển khách quan của lịch sử nhân loại, đánh dấu sự
thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện
thực, mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới.Chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực, sinh động ở một nớc,
nở rộng ra một loạt nớc ở Châu Âu, Châu á, Mỹ la-tinh và phát triển thành hệ
thống là chỗ dựa và là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của cách mạng
thế giới. Từ đây, triết học Mác-Lênin đợc truyền bá một cách rộng rãi và thuận
lợi, có ảnh hởng sâu rộng trong quần chúng và trên mọi mặt của đời sống xã
hội. Với t cách là một bộ phận hợp thành, đồng thời là cơ sở lý luận chung của
chủ nghĩa Mác-Lênin, nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của các Đảng
cộng sản, triết học Mác-Lênin đóng vai trò quan trọng không thể thiếu đợc
trong sự phát triển của thực tiển xây dựng xã hội mới với những thành tựu to
lớn không thể phủ nhận đợc. Triết học Mác-Lênin không chỉ trang bị thế giới
quan và phơng pháp luận khoa học mà còn góp phần tích cực vào việc trau dồi
năng lực t duy lý luận cho chủ thể xây dựng xã hội mới, xã hội- xãhội chủ
nghĩa. Song, thực tế lịch sử cũng chứng minh rằng, bất cứ hành động cách
mạng nào,nếu xa rời nhữmg quan điểm và nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác-Lênin thì phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cũng nh phong trào
cách mạng thế giới sớm hay muộn gì cũng sẽ phải trả giá.
Từ những năm 90 đến nay, Chủ nghĩa xã hội thế giới tạm thời lâm vào
thoái trào. Cùng với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nớc Đông Âu
và Liên Xô, Các thế lực phản động quốc tế đang dùng mọi thủ đoạn để xoá bỏ
vai trò chủ nghĩa Mác-Lênin, phá hoại sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
của các nớc xã hội chủ nghĩa còn lại càng trở nên cấp bách. Nhng, sự sụp đổ
của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô vừa qua do nhiều
nguyên nhân, cả khách quan và chủ quan, nhng chủ yếu là do sai lầm chủ

vấn đề mà cuộc sống đang đang đặt ra, trên cơ sở đó cung cấp những giải pháp
khoa học, hữu hiệu cho hoạt động cải tạo hiện thực của con ngời, nhất là các
Đảng cộng sản chân chính phải nắm vững giá trị đích thực của phép biện
chứng duy vật trong đấu tranh cho mục tiêu giải phóng con ngời, giải phóng
nhân loại, đó cũng là yêu cầu cấp thiết của sự phát triển lý luận triết học
mácxít hiện nay.
Có thể khẳng định: Triết học Mác-Lênin là cơ sở thế giới quan và phơng
pháp luận, là hạt nhân của toàn bộ chủ nghĩa Mác-Lênin. Giá trị, vai trò của
triết học Mác-Lênin trớc hết, đợc thể hiện ở chính hạt nhân của hệ thống đó.
Nghiên cứu đánh giá triết học Mác-Lênin mà tập trung ở phép biện chứng duy
vật không thể tách rời, cô lập với toàn bộ lịch sử t tởng triết học nhân loại, mà
ngợc lại triết học Mác-Lê nin xuất hiện là một tất yếu hợp quy luật, là sự kế
thừa, kết tinh toàn bộ các giá trị tinh hoa của nhân loại đã tạo ra trớc đó. Nó là
hình thức phát triển cao nhất của lịch sử t tởng triết học nhân loại, là đỉnh cao


3
của trí tuệ loài ngời. Việc nghiên cứu, khẳng định và có niềm tin vững chắc
vào bản chất cách mạng, khoa học của phép biện chứng duy vật sẽ giúp những
ngời cộng sản có cơ sở nắm vững bản chất những nguyên lý về thế giới quan
và phơng pháp luận của triết học mácxít, không rơi vào tả khuynh hoặc hữu
khuynh, khắc phục bệnh giáo điều, chủ quan duy ý chí, chủ nghĩa xét lại,
nhằm vận dụng sáng tạo lý luận triết học Mác-Lênin vào thực tiển. Đồng thời,
để đáp ứng yêu cầu thực tiển trong thời đại ngày nay. Với ý nghĩa đó, bài tiểu
luận này chỉ nghiên cứu Giá trị của phép biện chứng duy vật, ý nghĩa phơng
pháp luận của nó đối với lí luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.
I Khái quát lịch sử và nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
trong triết học Mác-Lênin
Nghiên cứu lịch sử phát triển của triết học nhân loại cho ta nhận thức
rằng: chỉ có triết học Mác-Lênin mới luận giải một cách khoa học về sự tồn

học trong nhận thức và thực tiển hiện nay vì sự tiến bộ của xã hội. Vì vậy việc
nghiên cứu giá trị hiện thực cách mạng khoa học phép biện chứng duy vật có ý
nghĩa hết sức quan trọng nhằm xây dựng thế giới quan duy vật triệt để và hệ
phơng pháp khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Vào giữa thế kỷ XIX, Mác và Ăngghen đã kế thừa và phát triển sáng tạo
những hạt nhân hợp lý trong lịch sử t tởng triết học nhân loại; mà trực tiếp
là phép biện chứng duy tâm của Hêghen và đặt nó trên nền tảng duy vật. Phép
biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phơng pháp biện chứng; giữa lý luận nhận thức với lôgíc biện chứng. Sự ra đời
của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phơng pháp t duy trớc
đó; làphơng pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản
ánh của chúng trong t tởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng,trong
sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng 1. Phép
biện chứng duy vật có khả năng đem lại cho con ngời tính tự giác cao trong
mọi hoạt động. Mỗi luận điển của phép biện chứng là kết quả của sự nghiên
cứu rút ra từ giới tự nhiên, cũng nh lịch sử xã hội loài ngời. Nhờ vậy, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã khắc phục đợc những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự
phát thời cổ đại cũng nh những sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách
quan thời cận đại, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học,
thể hiện ở việc giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan
điểm thực tiển, ở sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phép
biện chứng, ở quan niệm duy vật triệt để và ở tính thực tiển-cách mạng của
nó.
Thứ nhất: Bằng việc đa quan điểm thực tiển vào hoạt động nhận thức,
đặc biệt việc thấy vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất đối với sự
tồn tại và phát triển của xã hội, các nhà duy vật biện chứng đã khắc phục đợc
hạn chế của chủ nghĩa duy vật trớc đó để giải quyết thoả đáng vấn đề cơ bản
của triết học. ở đây, trong khi khẳng định vai trò quyết định của các yếu tố vật
chất, các nhà duy vật biện chứng đã không loại trừ việc các lĩnh vực t tởng,
1


nhiên, dựa vào khoa học tự nhiên, đây chính là cơ sở bảo đảm cho sức sống
bền vững của triết học Mác-Lênin. Trong quá trình phát triển, ở mỗi giai đoạn
lịch sử triết học Mác-Lênin lại đợc bổ sung những khái quát mới từ những
thành tựu khoa học. Đồng thời triết học Mác-Lênin còn là lý luận của giai cấp
vô sản, vạch ra con đờng đấu tranh cho sự thắng lợi của CNCS, do vậy nó đã
trở thành vũ khí tinh thần có giá trị quan trọng trong cuộc đấu tranh chống lại
các trờng phái phản động và khắc phục những hạn chế của t tởng phản khoa
học, cũng nh chứng minh xu hớng vận động tất yếu của xã hội loài ngời. Bằng
2
3

C.Mác&Ăngghen:toàn tập, Nxb-CTQG,H1997,t37.tr603

V.I.Lênin:toàn tập,Nxb,tiến bộ,Mcv,1980,t23,tr53.
C.Mác&Ăngghen:toàn tập,Nxb CTQG
Phoiơbắc, Mác viết: Các nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách
khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới5.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định sự tất thắng của cái
mới. Ph.Ăngghen cho rằng không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng
cả. Trên mọi sự vật và trong mọi sự vật đều mang dấu ấn của sự suy tàn tất yếu
bởi không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và tiêu
vong, của sự tiến triển vô cùng tận từ thấp đến cao.6
Tính cách mạng sâu sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng thể hiện qua
việc nó phản ánh đúng đắn các quy luật chi phối sự vận động và phát triển;
qua đó, qúa trình xoá bỏ cái cũ, cái lỗi thời để xác lập cái mới, cái tiến bộ hơn
là tất yếu.
Hệ thống các quy luật, phạm trù của nó không chỉ phản ánh đúng đắn
thế giới khách quan mà còn chỉ ra những cách thức để định hớng cho con ngời
trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật không
chỉ khái quát những thành tựu của tất cả các khoa học cụ thể, mà nó còn kết
tinh những tinh hoa trong quá trình phát triển t tởng triết học của nhân loại.
Nội dung của phép biện chứng duy vật đợc trình bày một cách có hệ thống,
chặt chẻ gồm nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển.
Các phạm trù, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là sự cụ thể
hoá các nguyên lý trên. Nghiên cứu và làm sáng tỏ các nguyên lý, các phạm
trù, quy luật cơ bản đó là nhiệm vụ của phép biện chứng duy vật. Ph.Ăngghen
nhấn mạnhVậy là từ trong lịch sử của giới tự nhiên và lịch sử của xã hội loài
ngời mà ngời ta đã rút ra đợc các quy luật của biện chứng. Những quy luật
không phải là cái gì khác ngoài những quy luật chung nhất của hai giai đoạn
phát triển lịch sử ấy cũng nh là bản thân t duy7
Tính cách mạng và tính khoa học của phép biện chứng duy vật thống
nhất chặt chẽ với nhau bởi vì phép biện chứng là học thuyết về sự phát triển,
dới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về
tính tơng đối của nhận thức của con ngời, nhận thức này phản ánh vật chất
luôn luôn phát triển không ngừng8. phép biện chứng duy vật về bản chất có

hệ khác; bởi trên thực tế, các mối liên hệ còn phải đợc nghiên cứu cụ thể trong
sự biến đổi và phát triển của chúng. Đó là phải xem xét toàn diện các mối liên
hệ; trong tổng số các mối liên hệ phải rút ra đợc những mối liên hệ bản chất,
chủ yếu để hiểu thấu bản chất của sự vật; từ bản chất của sự vật phải quay lại
hiểu rõ toàn bộ sự vật trên cơ sở liên kết các mối liên hệ bản chất, chủ yếu với
tất cả các mối liên hệ khác của sự vật để bảo đảm tính đồng bộ khi giải quyết
các vấn đề của đời sống. Quan điểm toàn diện, đối lập với mọi suy nghĩ và
hành động phiến diện, chiết trung, siêu hình.
Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật phản ảnh đặc trng biện chứng phổ quát quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là một trờng
hợp đặc biệt của vận động. Trong quá trình phát triển, sự vật, hiện tợng chuyển
hoá sang chất mới, cao hơn phức tạp hơn; làm cho cơ cấu tổ chức, phơng thức
vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển có tính
khác quan, phổ biến,đa dạng, mọi sự vật hiện tợng luôn vận động, biến đổi
không ngừng và về phơng diện bản chất của mọi sự vận động, biến đổi của thế
giới có xu hớng phát triển. Vì vậy quán triệt quan điểm phát triển là nguyên
tắc chung trong chỉ đạo hành động và suy nghĩ của con ngời. Đó là phải xem
9

C.Mác&Ph.Ăngghen:toàn tập,Nxb-CTQG,H2004,t20,tr364.


9
xét sự vật trong sự vận động, biến đổi và phát triển của nó, phải t duy năng
động, linh hoạt, mềm dẻo, phải nhận thức đợc cái mới và ủng hộ cái mới.
Đi liền với những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là
những quy luật cơ bản phản ảnh cái bản chất trong sự vận động của vũ trụ. Nó
là những mối liên hệ quy định bản chất của sự vật, hiện tợng cho nên là mối
liên hệ tất yếu chi phối sự phát triển của sự vật hiện tợng. Quy luật mang tính
ổn định, tồn tại khách quan và phổ biến. Song tính phổ biến của các quy luật

10
hậu. Do đó, cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái củ. Trong công tác,
chúng ta phải biết phát hiện và quý trọng cái mới, phải tin tởng vào tơng lai
phát triển của cái mới,mặc dù lúc đầu nó còn yếu ớt, ít ỏi, phải ra sức bồi dỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho nó chiến thắng cái cũ. Trong khi đấu
tranh với cái cũ, chúng ta phải biết sàng lọc, biết giữ lấy những gì là tích cực,
có giá trị của cái cũ, biết cải tạo cái cũ cho phù hợp với những điều kiện mới.
Vừa phải chống thái độ h vô chủ nghĩa trong khi nhìn nhận lịch sử, đánh giá
quá khứ, vừa phải chống thái độ bảo thủ, kh kh giữ lại những gì đã lỗi thời
cản trở bớc tiến của lịch sử.
Ba quy luật trên thống nhất hữu cơ với nhau, phản ánh sự tác động qua
lại của những mặt quan trọng nhất trong sự liên hệ và vận động phát triển của
sự vật hiện tợng. Cùng với ba quy luật cơ bản, phép biện chứng duy vật còn có
hệ thống các phạm trù, đó là những khái niệm chung nhất phản ánh những
mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, bản chất của sự vật hiện tợng
về phơng diện nào đó của hiện thực. Ngoài tính khách quan, các phạm trù còn
mạng tính biện chứng, chúng luôn có sự liên hệ chằng chịt với nhau, trong
những điều kiện nhất định có thể chuyển hoá lẫn nhau.
Những phạm trù có tính liên hệ trực tiếp với nhau đợc xếp thành những
cặp đôi, gọi là những cặp phạm trù cơ bản hay những quy luật không cơ bản
của phép biện chứng duy vật. Những cặp phạm trù quen thuộc trong phép biện
chứng duy vật là: phạm trù cái riêng và cái chung; nguyên nhân và kết quả; tất
nhiên và ngẫu nhiên; nội dung và hình thức; bản chất và hiện tợng; khả năng
và hiện thực.Nh vậy, phép biện chứng duy vật là một hệ thống hoàn chỉnh bao
gồm nhiều yếu tố, mỗi yếu tố có một vai trò nhất định nhng có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Trong đó quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
giữ vai trò quan trọng nhất, là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Lênin
viết: Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng duy vật là học thuyết về sự
thống nhất của các mặt đối lập, nh thế là nắm đợc hạt nhân của phép biện
chứng, nhng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển 10.
Có thể thấy vai trò hạt nhân của quy luật mâu thuẫn ở chỗ nó cho phép ta nắm

là một phơng pháp luận triết học biện chứng, luận giải, xem xét các sự vật
hiện tợng một cách biện chứng, nó hoàn toàn đối lập với phép siêu hình, chính
vì vậy phép biện chứng duy vật là hình thức cao nhất của t duy khoa học.
Đồng thời phép biện chứng duy vật là sự tổng kết toàn bộ sự phát triển của
triết học và khoa học tự nhiên, là sự khái quát cao quy luật của tự nhiên và thế
giới. Phép biện chứng duy vật không chỉ là khoa học t duy mà còn là khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động, phát triển của tự nhiên và xã hội
loài ngời.
Phép biện chứng duy vật không chỉ là một hệ thống lý luận của con ngời
mà nó còn là một hệ thống phơng pháp phổ quát, chung nhất giúp con ngời
trong hoạt động thực tiễn, trong nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan. Hệ
phơng pháp luận chung đó đợc nghiên cứu và rút ra từ những nguyên lý, quy
luật, phạm trù của phép biện chứng duy vật, trở thành những nguyên tắc chung
nhất chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con ngời. Đó là nguyên tắc khách quan,
toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển. Quán triệt nguyên tắc này khi xem xét
sự vật hiện tợng phải đặt sự vật trong tổng hoà các mối quan hệ của các mặt,
các thuộc tính của chính sự vật ấy; phải xem xét chúng trong trạng thái vận
động, biến đổi và theo xu hớng chung là phát triển tiến lên. Lênin đã từng


12
khẳng định: Phép biện chứng đòi hỏi ngời ta phải chú ý đến tất cả các mặt
của những mối quan hệ trong sự phát triển cụ thể của những mối quan hệ đó,
chứ không phải lấy một mẩu ở chỗ này, một mẩu ở chỗ kia 11Bên cạnh đó
phải tìm ra nguyên nhân quan trọng quyết định đến sự vận động của sự vật,
tìm ra nguồn gốc động lực của sự phát triển là giải quyết các mâu thuẫn nảy
sinh tồn tại trong mỗi sự vật. Muốn cải tạo sự vât phải thờng xuyên tăng cờng
sự tích luỹ về lợng, khi có điều kiện tạo nên sự nhảy vọt về chất, chống mọi
biểu hiện chủ quan duy ý chí, nôn nóng đốt cháy giai đoạn trong sự phát triển,
đồng thời chống t tởng bảo thủ trì trệ, khi lợng đã đến giới hạn độ, điểm nút


13
động, phát triển bao giờ cũng do nguyên nhân vật chất, nguyên nhân kinh tế
với những quy luật cơ bản của nó.
Quá trình tiếp cận, xem xét giá trị của phép biện chứng duy vật cần
khẳng định rõ: Với hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù, phép biện
chứng duy vật là công cụ nhận thức vĩ đại, là cơ sở cách mạng- khoa học chỉ
đạo quá trình nhận thức hiện thực khách quan. Cho dù thế giới có vận động,
biến đổi thế nào đi chăng nữa, dù phong phú thế nào đi chăng nữa thì cũng
đều nằm trong quỹ đạo, phạm vi mà phép biện chứng duy vật đã khái quát.
Với chức năng trang bị thế giới quan và phơng pháp luận khoa học, phép biện
chứng duy vật đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và có vai trò ngày càng tăng
trong thời đại ngày nay. Nó cho phép chúng ta có những kết luận khoa học về
xã hội t bản từ bản chất, xu hớng vận động và sự diệt vong tất yếu của nó.
Đồng thời cho phép chúng ta nhận thức đúng đắn sự khủng hoảng, tìm ra
nguyên nhân và biện pháp khắc phục sự khủng hoảng của xã hội chủ nghĩa.
Nh vậy ở đây chính là phép biện chứng duy vật đã tạo ra tính cách mạng
bằng cách xuất phát từ vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn để cải tạo thế giới.
Xuất phát từ quan điểm duy vật triệt để, triết học Mác-Lênin đã nhận thức
đúng đắn vai trò, vị trí của thực tiễn đối với sự tồn tại, vận động và phát triển
của thế giới, đặc biệt trên lĩnh vực xã hội. Thực tiễn không chỉ là cơ sở động
lực của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra, đánh giá nhận thức mà còn đóng
vai trò quyết định đối với quá trình cải tạo thế giới, cải tạo hiện thực. Trong
triết học Mác-Lê nin nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng thì toàn
bộ quá trình nhận thức đều xuất phát từ thực tiễn với mục đích cuối cùng là
chỉ đạo hoạt động cải tạo thực tiễn, chính vì vậy cho đến nay cha có một học
thuyết nào thay thế đợc. Tuy nhiên, khẳng định bản chất cách mạng và khoa
học, chúng ta cũng nhận thức sâu sắc rằng triết học Mác-Lênin nói chung và
phép biện chứng duy vật nói riêng là một hệ thống mở nên chúng ta không coi
nó nh một cáI đó đã xong xuôI hẳn, bât khả xâm phạm mà coi nó luôn cần đợc bổ sung, phát triển trên nền tảng phát triển của hoạt động thực tiễn và hoạt

bộ đảng viên xác định tinh thần lạc quan cách mạng, giữ vững niềm tin vào lý
tởng xã hội xã hội chủ nghĩa, mặc dù hiện nay hệ thống xã hội chủ nghĩa thế
giới đang lâm vào khủng hoảng và thoái trào, triết học Mác-Lênin bị các thế
lực thù địch phê phán, nhng bằng cách nhìn khách quan toàn diên Đảng ta tiếp
tục khẳng định con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta : Con đờng đi lên
của nớc ta là phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ
nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến
trúc thợng tầng t bản chủ nghĩa, nhng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà
nhân loại đã đạt đợc dới chế độ tbản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công
nghệ để phát triển nhanh lực lợng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi
về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp,
cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đờng12
12

Văn kiẹn ĐHĐ IX,Nxb CTQG,H2001,tr12


15
Đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa đó là con đờng
quá độ lâu dài, mâu thuẫn cơ bản của nó là mâu thuẫn giữa xu hớng tự phát
lên chủ nghĩa t bản với xu hớng tự giác lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta phải
giải quyết đúng đắn mâu thuẫn này mới đảm bảo yêu cầu của quá trình lịch sử
tự nhiên trong quá trình phát triển cách mạng nớc ta. Trong đó tính chủ động
sáng tạo và tự giác của Đảng và nhà nớc ta giữ vai trò quyết định.
Quá trình giải quyết mâu thuẫn cơ bản trên đây của cách mạng nớc ta là
quá trình vừa tuân theo những sự phát triển tiến hoá dần dần về lợng, lại vừa
tranh thủ những bớc phát triển cách mạng nhảy vọt về chất; vừa kế thừa tất cả
những mặt hợp lý của chủ nghĩa t bản để phát triển lực lợng sản xuất, lại
phải vừa đấu tranh tích cực để loại bỏ những mặt tiêu cực, mất nhân tính của

chứng duy vật là một trong những bảo đảm về t tởng, đờng lối đúng đắn tận
dụng thời cơ, thuận lợi để tiến lên, đẩy lùi nguy cơ đa cách mạng Việt Nam
tiến vững chắc trên con đờngyax hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân
ta lựa chọn.
Để khắc phục những biểu hiện lệch lạc, trong quá trình giáo dục lý luận
Mác-Lênin, đồng thời tăng cờng truyền thụ lý tởng xã hội chủ nghĩa, niềm tin
cộng sản cho cán bộ đảng viên và nhân dân hiện nay, một trong những yêu cầu
cấp bách là phải trang bị cho các thế hệ kiến thức khoa học về những quy luật
phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và t duy. Đó là
những nguyên lý, quy luật, phạm trù, khái niệm của triết học Mác-Lênin, bởi
đây là cơ sở khoa học để khẳng định tính đúng đắn xu thế phát triển khách
quan của nhân loại và chủ nghĩa xã hội. Thế giới quan triết học Mác-Lênin
phải giữ vai trò chủ đạo trong định hớng quan điểm chính trị, t tởng trong đời
sống tinh thần của nhân dân ta, giúp cho cán bộ đảng viên và nhân dân nhận
thức đúng đắn và lý giải có cơ sở khoa học, xây dựng niềm tin lý tởng ở chủ
nghĩa xã hội, tin vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, khẳng định sự tất
thắng của chủ nghĩa xã hội.
III- ý nghĩa phơng pháp luận của phép biện chứng duy vật trong
lĩnh vực quân sự
Đối với hoạt động thực tiễn quân sự, phép biện chứng duy vật cũng cung
cấp nguyên tắc, phơng pháp luận khoa học và cách mạng trong thực tiễn hoạt
động quân sự, đó là nguyên tắc: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát
triển.
Lĩnh vực quân sự căn bản khác với các hiện tợng khác của đời sống xã
hội. Bản chất của chiến tranh, tính đặc thù của nó và những điều kiện trong đó
chiến tranh đợc tiến hành quy định hình thức biểu hiện đặc biệt của những quy
luật và phạm trù của phép biện chứng trong lĩnh vực quân sự. Phép biện chứng
cũng đợc thể hiện cụ thể hoá khi phân tích những cuộc chiến tranh của các
thời đại khác nhau và khi nghiên cứu từng hiện tợng riêng biệt của một cuộc
chiến tranh nào đó. Sẽ là sai lầm nếu gán ghép một cách máy móc những biểu

biểu hiện đặc thù của những quy luật và phạm trù của phép biện chứng duy vật
trong lĩnh vực quân sự hiện đại, cần hiểu biết sâu sắc những vấn đề chiến
tranh và xây dựng quân đội, làm việc một cách tích cực, chủ động, tự giác, vận
dụng một cách sáng tạo thế giới quan, phơng pháp luận của phép biện chứng
duy vật vào trong thực tiễn lĩnh vực quân sự.
Nghiên cứu lĩnh vực quân sự một cách biện chứng có nghĩa là xem xét tất
cả các mặt của nó trong sự phát triển và vận động thờng xuyên, trong tổng thể
những mối liên hệ đa dạng của nó. Bởi vì, lĩnh vực quân sự, nh bất kỳ quá
trình nào khác, đợc hoàn thiện trên cơ sở tất cả những quy luật đợc phản ánh
và đợc khái quát trong những luận điểm của phép biện chứng duy vật, cho nên
khi nghiên cứu các hiện tợng và quá trình của nó, cần tính toán đến các tác
động không phải của một mà là tất cả các quy luật và phạm trù của phép biện


18
chứng duy vật. Phơng pháp biện chứng cũng đòi hỏi nghiên cứu triệt để các
mặt bản chất của lĩnh vực quân sự, đi từ cái đã biết đến cái cha biết, từ biết cha sâu đến biết sâu, đến nhận thức đầy đủ toàn bộ các mối liên hệ qua lại và
mạng tính quy định lẫn nhau. Trong đó cần phát hiện tính quy luật của sự phát
sinh và phát triển các hiện tợng chiến tranh và xây dựng quân đội ta hiện nay.
Những hiện tợng của chiến tranh và của việc xây dựng quân đội luôn vận
động, biến đổi và phát triển. Do đó trong lĩnh vực quân sự, những biến đổi về
lợng và chất dẫn tới phủ định cái cũ và xuất hiện cái mới thờng đợc diễn ra
trên cơ sở của cuộc đấu tranh của các khuynh hớng đối lập. Sự phủ định biện
chứng, trớc hết, đó là một quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong, là sự thủ
tiêu một mặt đối lập và sự ra đời của một sự vật, của một hiện tợng mới về
chất với những mặt đối lập riêng của nó. Cái mới không sinh ra từ trớc, nó ra
đời và phát triển đến một lúc nào đó từ trong cái cũ, trong cuộc đấu tranh với
cũ. Và do đó trong những hiện tợng của chiến tranh và xây dựng quân đội, cái
mới chỉ có thể đợc xác lập trong điều kiện nếu xoá bỏ đợc cái lỗi thời, thủ tiêu
đợc tất cả những cái gì ngăn cản sự phát triển. Không có sự phủ định cái cũ đã

quả là không tạo đợc sự nhảy vọt về chất.
Phép biện chứng duy vật cũng đòi hỏi phê phán những quan điểm duy
tâm, siêu hình trong xây dựng quân đội, không tuân theo quan điểm lịch sử, cụ
thể và phát triển, mà trái lại xây dựng một cách cắt xén, phiến diện, không
thống nhất đồng bộ, đề cao mặt này, hạ thấp mặt kia trong xây dựng và kết
quả là không tạo nên sức mạnh tổng hợp cho quân đội, không tạo nên sự phát
triển về chất của quân đội.
Tóm lại: Từ bản chất cách mạng và khoa học của phép biện chứng duy
vật, nó trang bị cho chúng ta thế giới quan, phơng pháp luận khoa học về
những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội
loài ngời và của t duy. Đồng thời phép biện chứng duy vật cũng có ý nghĩa phơng pháp luận sâu sắc trong lĩnh vực quân sự nói chung và trong việc xây
dựng quân đội ta nói riêng. Từ bản chất của phép biện chứng duy vật giúp
chúng ta có nhận thức đúng đắn và nhất trí cao với các chủ trơng, biện pháp
của Đảng, nhà nớc ta về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng,
chính quy, tinh nhuệ và từng bớc hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn
mới.
Những ý nghĩa to lớn và giá trị bền vững của phép biện chứng duy vật
trong nhận thức và cải tạo thế giới là những di sản giá trị văn hoá tinh thần
mang bản chất cách mạng, khoa học. Nó đã và đang mãi mãi có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc đối với lịch sử phát triển của xã hội loài ngời, nó đã
vợt ra ngoài giới hạn một giai cấp, một quốc gia dân tộc để trở thành tài sản
tinh thần vô giá của nhân loại, trở thành công cụ vĩ đại của nhận thức khoa
học, cải tạo thế giới.
Những t tởng, quan điểm của chủ nghĩa Mác về phép BCDV đến nay vẫn
còn nguyên giá trị và có ý nghĩa vô cùng to lớn trong công cuộc đổi mới ở nớc
ta hiện nay. Trớc hết, nó là công cụ để nhận thức đúng quá trình đổi mới, là cơ
sở phơng pháp luận để Đảng ta có cơ sở khoa học xác định phơng pháp cách
mạng đúng đắn, đó là tất yếu phải thực hiện nền kinh tế thị trờng theo định h-


Mác, Ăng-ghen vào tất các các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an
ninh - quốc phòng,...góp phần đa sự nghiệp đổi mới theo định hớng xã hội chủ
nghĩa trên đất nớc ta ngày càng phát triển, đạt những thành tựu mới vững chắc
hơn.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status