Xác định nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn văn giang huyện văn giang tỉnh hưng yên - Pdf 37

Tóm tắt luận văn
* Khung phân tích

Xác định
nhu cầu
tham gia

- Cơ sở lý luận
và thực tiễn về
BHYT và
BHYT TN.
- Cơ sở lý luận
về nhu cầu

- Các trang
web
- sách báo, tạp
chí
- ấn phẩm định
kỳ

- Quá trình
xây dựng và
phát triển
BHYT TN của
Việt nam và
thế giới.

- Đặc điểm địa
bàn nghiên cứu.
- Tình hình tham

pháp.

Mục tiêu
nghiên cứu

- Thái độ, mong
muốn của các hộ
nông dân khi
tham gia BHYT
TN.
- Xem xét mức
bằng lòng trả
của người nông
dân.

Nội dung tiếp
cận

- Hộ nông dân
trên địa bàn,
lập phiếu điều
tra bảng hỏi,
phỏng vấn trực
tiếp.

Đối tượng tiếp
cận

- Tuổi, giới
tính, nghề

lý do trên, chúng tôi xin nghiên cứu đề tài: “Xác định nhu cầu tham gia Bảo
hiểm y tế tự nguyện (BHYT TN) của các hộ nông dân trên địa bàn thị trấn
Văn Giang huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên”.
Mục tiêu nghiên cứu nhằm: 1, Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn
về BHYT và BHYT tự nguyện; 2, Tìm hiểu thực trạng tham gia BHYT TN của
người nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang; 3, Nghiên cứu nhu cầu tham gia
BHYT tự nguyện của hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Văn Giang; 4, Phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân khi tham gia
BHYT; 5, Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện BHYT tự nguyện của
các hộ nông dân.
2. Giải quyết vấn đề
Số liệu về nhu cầu tham gia BHYT TN của người nông dân trên địa bàn thị
trấn Văn giang được thu thập bằng phiếu điều tra xác định từ trước với 90 hộ nông
dân và 2 cán bộ (1 người ở BHXH huyện và 1 người thu BHYT TN ở UBND thị
trấn Văn giang) được phỏng vấn trực tiếp.
Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên - Contingent Valuation Method
(CVM) là tìm hiểu khả năng bằng lòng chi trả của khách hàng (WTP) về sự thay
đổi của chất lượng hàng hóa dịch vụ nào đó. Các hộ nông dân trên địa bàn thị

2


trấn được coi là đối tượng nghiên cứu của đề tài. Đường cầu về việc tham gia
BHYT TN của các hộ nông dân được mô tả là đường “sẵn lòng chi trả”.
*Thực trạng tham gia BHYT TN trên địa bàn thị trấn
Người nông dân ở thị trấn ngày càng quan tâm đến sức khỏe của bản thân
hơn. Điều đó được thể hiện qua việc số lượng người nông dân tham gia BHYT
TN tăng dần lên qua 3 năm gần đây. Thôn Công luận 1 có số lượng người tham
gia BHYT TN nhiều nhất trong 3 thôn. Theo giới tính thì trên địa bàn thị trấn có
số lượng nữ giới tham gia BHYT TN nhiều hơn nam giới, chứng tỏ nữ giới quan

nhất. BHYT TN cũng có nhiều người tham gia hơn trước, nhưng cho đến nay so
với yêu cầu thì BHYT TN cũng chưa thu hút được nhiều người tham gia như
những người làm chính sách mong đợi.
Thứ hai, Người dân trên địa bàn đã và đang tích cực tham gia BHYT TN.
Số lượng người tham gia BHYT TN qua các năm 2007, 2008, 2009 cho thấy
nhận thức về vai trò, lợi ích từ việc tham gia BHYT của người nông dân đang
được nâng lên.
Thứ ba, Mức đóng 351.000 đồng/năm/người như hiện nay đối với người
nông dân ở thị trấn Văn giang là vẫn còn cao. Bằng phương pháp bình quân số
học gia quyền tính được mức sẵn lòng chi trả bình quân là 315.480
đồng/năm/người.
Thứ tư, Yếu tố độ tuổi, thu nhập và sự không hiểu biết về chính sách
BHYT của người nông dân có ảnh hưởng lớn đến mức sẵn lòng chi trả của
người nông dân trong khu vực. Nhưng yếu tố ảnh hưởng lớn nhất là yếu tố thu
nhập.
Thứ năm, Một số giải pháp đề tài đưa ra về cơ sở khám chữa bệnh, triển
khai tuyên truyền, thủ tục đi khám chữa bệnh và chuyển tuyến điều trị đối với
những người có thẻ BHYT.

4


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo như qui luật hình thành và phát triển của con người đó là “sinh lão
bệnh tử”. Một con người từ khi sinh ra, lớn lên và mất đi thì ốm đau bệnh tật là
vấn đề không thể tránh khỏi, từ đó phát sinh các khoản chi phí khám chữa bệnh.
Do đó việc đảm bảo khả năng tài chính cho việc chi trả các khoản chi phí khám
chữa bệnh là rất quan trọng đối với tất cả mọi người trong xã hội.
Trong sự nghiệp đổi mới, đất nước ta ngày một đi lên, đời sống của người

khỏe một cách chu đáo, chưa nói gì đến quyền được hưởng những thành tựu của
nền y học hiện đại. Một thực tế đang diễn ra là người nông dân không có chế độ
BHYT nếu không tham gia loại hình BHYT tự nguyện. Khi chưa có BHYT, tự
bản thân người nông dân hoặc gia đình mình phải lo trang trải chi phí khi đi
khám chữa bệnh, việc trợ giúp của cộng đồng là không có hoặc không đáng kể.
Người nông dân rơi vào tình trạng bị động, bán nhà bán cửa và các tài sản khác
để đối phó với đau ốm, bệnh tật. Không ít trường hợp người nông dân đã phải
trốn viện, bỏ mặc tính mạng do không có tiền chữa trị bệnh tật. Việc thực hiện
BHYT cho người nông dân trong thời gian qua là một giải pháp đúng đắn trong
công tác khám chữa bệnh, giúp cho người nông dân chủ động nguồn tài chính
khi đi khám chữa bệnh, từng bước nâng cao nhận thức của họ về văn hóa bảo
hiểm trong xã hội.
Với những lý do trên, chúng tôi xin nghiên cứu đề tài: “Xác định nhu
cầu tham gia Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYT TN) của các hộ nông dân trên
địa bàn thị trấn Văn Giang huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên”.
Câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết:
- BHYT tự nguyện là gì? Xác định nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện
gồm những nội dung gì?
- Thực trạng tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn như
thế nào?

6


- Hiện nay nhu cầu tham gia BHYT tự nguyện của các hộ nông dân ở thị
trấn Văn Giang như thế nào?
- Những giải pháp gì để thúc đẩy các hộ nông dân tham gia BHYT TN?

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung

Giang tỉnh Hưng Yên.
1.3.2.3 Tthời gian
- Đề tài thu thập các số liệu trong 3 năm từ 2007- 2009.
- Đề tài được triển khai nghiên cứu từ 23/01/2010 đến 23/05/ 2010.

8


PHẦN II: TÔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Tổng quan về nhu cầu
2.1.1.1 Khái niệm về nhu cầu
Theo Kinh tế học: Nhu cầu được hiểu là nhu cầu về tiêu dùng, là sự cần
thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Khi nhu cầu của toàn
thể các cá thể đối với một mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có nhu cầu
thị trường. Khi nhu cầu của tất cả các cá thể đối với tất cả các mặt hàng gộp lại
ta có tổng cầu.
Theo Philip Kotler chuyên gia marketing hàng đầu thế giới: “ Nhu cầu là
cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu của con
người là một tập hợp đa dạng và phức tạp, từ những nhu cầu có tính chất bản
năng sinh tồn như ăn, uống, mặc, ở, an toàn… đến những nhu cầu về tình cảm
tri thức, tôn trọng, tự thể hiện mình. Những nhu cầu đó gắn liền với tình cảm
con người, gắn liền với sự phát triển của xã hội mà mỗi con người sống trong
đó” ( Nguyễn Nguyên Cự, 2005).
Về bản chất, nhu cầu là một khái niệm tâm – sinh lý. Tìm cách thỏa mãn
nhu cầu luôn là ý chí của con người thuộc các thời đại khác nhau, đặc biệt trong
nền sản xuất hàng hóa.
D.N. Uznetze người đầu tiên trong tâm lý học Xô viết nghiên cứu về nhu
cầu. Ông khám phá ra mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi. Tương ứng theo
mỗi kiểu hành vi là một nhu cầu. Ông cho rằng: không có gì đặc trưng cho một

hoạt động.[2]
Tiêu biểu cho lý thuyết về nhu cầu của trường phái tâm lý học nhân văn là
“Thuyết thứ bậc nhu cầu” của A.Maslow (1908-1970). Theo lý thuyết của ông
thì nhu cầu của con người hình thành tạo nên một hệ thống và có thứ bậc từ cấp
thiết đến ít cấp thiết hơn. Hệ thống đó được trình bày như sau:

10


1. Physiological: các nhu cầu cơ thể như đói, khát, mệt,……
2. Safety/security: nhu cầu được an toàn, không bị nguy hiểm
3. Belonginess and love: nhu cầu sở hữu và yêu thương, liên hệ với người
khác và được chấp nhận.
4. Esteem: nhu cầu được tôn trọng, được tán thành, được biết đến.
5. Cognitive: nhu cầu nhạn thức, khám phá.
6. Asethetic: nhu cầu thẩm mỹ, vươn tới cái đẹp.
7. Self-actualization: nhu cầu tự hoàn thiện, tự khẳng định mình.
8. Self-transcendence: nhu cầu tham gia vào những mối liên hệ liên cá
nhân, vượt ra khỏi cái tôi của mình, giúp người khác tự khẳng định họ và tự
nhận ra những giá trị của họ.
Theo ông, tầm quan trọng của các nhu cầu được sắp xếp theo thứ tự từ
dưới lên trên theo thang nhu cầu: từ mức thứ nhất đến mức thứ năm. Bốn mức
nhu cầu đầu tiên ông gọi đó là nhóm nhu cầu thiếu hụt. Còn ở mức thứ năm, ông
chia nhỏ hơn: nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu biết…ông gọi là
nhóm các nhu cầu phát triển. Sự phân chia này tuy theo thang bậc nhưng nó
không phải là cố định mà chúng linh hoạt, thay đổi tuỳ theo điều kiện cụ thể.[2]
2.1.1.2 Khái niệm cầu
Có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa cầu, ở đây, tôi xin đưa ra
quan điểm của các chuyên gia trường đại học Nông nghiệp Hà Nội: “Cầu là số
lượng hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng (với tư cách là người mua) có


QD (x,t) = f (Px ; I; Py; T; N; E…)

Trong đó:
- QD (x,t) là cầu hàng hóa X xác định trong khoảng thời gian t (ngày,
tháng, quý, năm...) và đóng vai trò hàm số cầu.
- PX ; I ; PY ; T ; N ; E.....là các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa X và
đóng vai trò như những biến của hàm cầu. Cụ thể, PX là giá cả hàng hóa X ; là
thu nhập của người tiêu dùng ; Py là giá cả hàng hóa liên quan ; T là chuẩn mực
về thị hiếu sở thích của người tiêu dùng ; N là quy mô dân số ; E là kỳ vọng của
người tiêu dùng về sự thay đổi các yếu tố trên.

12


* Các yếu tố ảnh hưởng đến Cầu
a, Giá cả hàng hóa dịch vụ đang xét (P X): Nếu các yếu tố khác không đổi,
khi giá hàng hóa X tăng thì lượng cầu của nó giảm và ngược lại. Nói cách khác
giữa PX và QD tồn tại mối quan hệ nghịch biến như trong luật cầu đã chỉ ra.
b, Thu nhập của người tiêu dùng (I): Thu nhập thể hiện khả năng thanh
toán của người tiêu dùng khi mua hàng hóa dịch vụ. Do đó, sự thay đổi thu nhập
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cầu hàng hóa trên thị trường. Khi thu nhập tăng cầu
hàng hóa thông thường tăng còn cầu hàng hóa thứ cấp giảm và ngược lại.
c, Giá cả hàng hóa liên quan (PY): Cầu của hàng hóa không những chỉ
phụ thuộc vào giá của hàng hóa đó mà còn phụ thuộc vào giá của các hàng hóa
có liên quan. Các hàng hóa liên quan được chia làm hai loại: hàng hóa thay thế
và hàng hóa bổ sung.
+ Hàng hóa thay thế: Hai hàng hóa được gọi là thay thế khi người ta có
thể sử dụng hàng hóa này thay thế cho hàng hóa kia và ngược lại mà không làm
thay đổi giá trị sử dụng của chúng. Ví dụ: cơm và phở, thịt lợn và thịt gà, bia và

Chẳng hạn về mùa hè cầu về nước giải khát, quạt điện, máy điều hòa sẽ tăng;
còn về mùa đông cầu về quần áo ấm, chè, thức ăn nóng sẽ tăng…
2.1.1.3 Thặng dư của người tiêu dùng và mức sẵn lòng chi trả (willingness to pay)
a, Thặng dư của người tiêu dùng
Đối với các loại hàng hóa thặng dư của người tiêu dùng là sự chênh lệch
giữa lợi ích của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hóa, dịch vụ và
những chi phí thực tế để trả cho đơn vị hàng hóa đó.
P

A
P*

B

0

Q*

D

Q

Hình 2.2 Mức sẵn lòng chi trả và thặng dư người tiêu dùng

14


Trong đó : P là giá hàng hóa.
Q là khối lượng hàng hóa.
P*, Q* là giá và khối lượng hàng hóa cân bằng trên thị trường.



nhân cần sử dụng các phương pháp khác như phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
(CVM), phương pháp du lịch chi phí (TCM)….
2.1.2 Một số khái niệm cơ bản
2.1.2.1 Bảo hiểm xã hội (BHXH)
Bảo hiểm xã hội theo tổ chức lao động thế giới ILO: là sự bảo vệ của cộng
đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn
đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương
tật, già yếu, thất nghiệp. Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông
con để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn xã hội”.
Theo luật BHXH ở Việt Nam: “ BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù
đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao
động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào bảo hiểm xã hội.”
Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN): “là loại hình BHXH mà người
lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng góp và phương thức
đóng góp phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH”.
Bảo hiểm xã hội bắt buộc: “là loại hình BHXH mà người lao động và
người sử dụng lao động phải tham gia”.
2.1.2.2 Bảo hiểm y tế (BHYT)
Theo luật BHYT số 25/2008/QH12 tại Việt Nam: “BHYT là hình thức
bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích
lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham
gia theo quy định của Luật này”.
Theo quy định tại Điều 1 Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định
63/2005/NĐ-CP thì: "Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ
chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người
lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí KCB theo quy định của
Điều lệ này cho người có thẻ BHYT khi ốm đau".[3]

các nội dung:

17


a) Chỉ đạo, tổ chức triển khai chính sách về bảo hiểm y tế, bao gồm cả
bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện trên địa bàn tỉnh, thành phố.
b) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo
hiểm y tế và giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc khám, chữa bệnh cho
người có thẻ bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Đặc điểm của bảo hiểm y tế
Trên cơ sở khái niệm BHYT nói trên, có thể thấy bên cạnh những tính
chất chung của một chế độ an sinh xã hội, BHYT còn có một số đặc điểm sau:
- BHYT có đối tượng tham gia rộng rãi, bao gồm mọi thành viên trong
xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan
hệ lao động…
- BHYT không nhằm bù đắp cho thu nhập cho người hưởng bảo hiểm
(như chế độ BHXH ốm đau, tai nạn lao động…) mà nhằm chăm sóc sức khỏe
cho họ khi bị bệnh tật, ốm đau… trên cơ sở quan hệ BHYT mà họ tham gia.
BHYT được nhiều nước trên thế giới triển khai độc lập. Loại hình này có
đối tượng tham gia rất rộng, đó là mọi người dân có nhu cầu bảo hiểm cho sức
khỏe của mình. Trong thời kỳ đầu triển khai, các nước thường chia ra 2 nhóm
đối tượng tham gia là: đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc và đối tượng tham
gia bảo hiểm tự nguyện. Căn cứ vào mức độ thanh toán chi phí khám chữa bệnh
cho người có thẻ BHYT người ta phân ra: BHYT trọn gói và BHYT thông
thường. (PGS.TS Nguyễn Viết Vương, 2006).
Ở nước ta, BHYT được triển khai độc lập từ năm 1992 theo Nghị định
299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ). Bộ Y
tế chịu trách nhiệm quản lý nhà nước, còn cơ quan BHYT phối hợp với các cơ
sở khám chữa bệnh quản lý nghiệp vụ. Đối tượng tham gia BHYT cũng được

tham gia BHYT theo đối tượng khác;
d) Người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và
diêm nghiệp;
đ) Thân nhân người lao động làm công hưởng lương theo quy định của
pháp luật về tiền lương, tiền công; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.

19


2. Đối tượng quy định tại các điểm a, d và đ khoản 1 Điều này thực hiện
theo địa giới hành chính; các đối tượng quy định tại các điểm b và c khoản 1
Điều này thực hiện theo đơn vị cơ quan, trường học.
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn cụ thể việc cấp thẻ BHYT cho
các đối tượng, bảo đảm tính liên tục khi chuyển từ hình thức tự nguyện sang
thực hiện theo quy định của Luật BHYT.[4]
2.1.3.2 Đặc điểm của BHYT TN
Mục tiêu của BHYT TN là nhằm thực hiện chính sách xã hội trong khám,
chữa bệnh, không vì mục đích kinh doanh, không áp dụng các quy định của
pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2010, mức đóng hàng tháng đối với đối
tượng tự nguyện tham gia BHYT bằng 4,5% mức lương tối thiểu và do đối
tượng đóng.
Căn cứ mức đóng BHYT, người tự nguyện tham gia BHYT đóng 6 tháng
một lần hoặc đóng một lần cho cả năm vào quỹ BHYT.
Khi đi khám bệnh, ngoài thẻ BHYT tự nguyện, người dân phải mang theo
chứng minh thư hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh hoặc sổ hổ khẩu. Người dân xã nào
thì đăng ký mua thẻ BHYT ở tại xã đó hoặc các đại lý do xã chứng nhận. Chỉ
trong trường hợp cấp cứu thẻ BHYT mới có giá trị ở bất kỳ cơ sở y tế nào, hoặc
bệnh viện đó tự chuyển lên bệnh viện tuyến trên (phải có chứng minh thư và
giấy chuyển viện) và trước khi ra viện phải xuất trình thẻ BHYT cùng với giấy

phát hành thẻ bảo hiểm y tế tự nguyện và chi bổ sung cho công tác tuyên
truyền, vận động, khen thưởng. Tỷ lệ kinh phí được trích do liên Bộ Y tế Tài chính quy định cụ thể.
3. Sau mỗi năm hoạt động, nếu Quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện có kết dư thì
chuyển toàn bộ số kết dư sang năm sau để sử dụng cho công tác khám, chữa bệnh
của đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Nếu tổng số thu của Quỹ Bảo
hiểm y tế tự nguyện nhỏ hơn tổng số chi thì được phép dùng nguồn kết dư của

21


Quỹ Bảo hiểm y tế bắt buộc hoặc nguồn hỗ trợ khác theo quy định để bảo đảm
chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ cho đối tượng được hưởng theo quy định.
4. Liên Bộ Tài chính - Y tế hướng dẫn chi tiết việc thực hiện, quản lý và
sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế tự nguyện theo quy định trên và phù hợp với Quy
chế quản lý tài chính của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.
2.1.4 Quyền và trách nhiệm của các bên tham gia BHYT TN[3]
2.1.4.1 Quyền và trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm y tế
1. Tổ chức bảo hiểm y tế có quyền:
a) Yêu cầu người sử dụng lao động đóng và thực hiện chế độ bảo hiểm
y tế; cung cấp các tài liệu liên quan đến việc đóng và thực hiện chế độ bảo
hiểm y tế.
b) Tổ chức các đại lý phát hành thẻ bảo hiểm y tế.
c) Ký hợp đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh đủ tiêu chuẩn theo quy
định để khám, chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế.
d) Yêu cầu cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp hồ sơ, bệnh án, tài liệu liên
quan đến thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
đ) Từ chối thanh toán chi phí khám, chữa bệnh không đúng quy định của
Điều lệ bảo hiểm y tế hoặc không đúng với các điều khoản ghi trong hợp đồng
đã được ký giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với cơ sở khám, chữa bệnh.
e) Thu giữ các chứng từ và thẻ bảo hiểm y tế giả mạo để chuyển cho các

thanh toán, bảo đảm cân đối quỹ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế và các vấn đề
có liên quan đến bảo hiểm y tế.
2.1.4.2 Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám, chữa bệnh
1. Cơ sở khám, chữa bệnh có quyền:

23


a) Yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội tạm ứng kinh phí và thanh toán chi
phí khám, chữa bệnh theo quy định của Điều lệ Bảo hiểm y tế và theo hợp đồng
khám, chữa bệnh đã ký.
b) Khám, chữa bệnh và cung cấp các dịch vụ y tế cho người bệnh bảo
hiểm y tế theo đúng quy định chuyên môn.
c) Yêu cầu tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp số liệu về số người đăng ký
tại cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
d) Từ chối thực hiện các yêu cầu ngoài quy định của Điều lệ Bảo hiểm y
tế và hợp đồng đã ký với tổ chức bảo hiểm xã hội hoặc những yêu cầu không
phù hợp với quy chế chuyên môn bệnh viện do Bộ Y tế ban hành.
đ) Sử dụng nguồn kinh phí do tổ chức bảo hiểm xã hội thanh toán theo
quy định.
e) Khiếu nại với các cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi
phạm Điều lệ Bảo hiểm y tế hoặc khởi kiện ra toà khi phát hiện tổ chức bảo
hiểm xã hội vi phạm hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
2. Cơ sở khám, chữa bệnh có trách nhiệm:
a) Thực hiện đúng hợp đồng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
b) Thực hiện việc ghi chép, lập chứng từ và cung cấp các tài liệu liên quan
đến khám, chữa bệnh của người bệnh bảo hiểm y tế, làm cơ sở thanh toán và
giải quyết các tranh chấp về bảo hiểm y tế.
c) Chỉ định sử dụng thuốc, vật phẩm sinh học, thủ thuật, phẫu thuật, xét
nghiệm, chuyển viện và các dịch vụ y tế khác một cách an toàn, hợp lý cho

c) Bảo quản và không cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế.
d) Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm xã hội,
của cơ sở y tế khi đi khám, chữa bệnh.

2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 BHYT của các nước trên thế giới

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status