hực tiễn thi hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo - Pdf 37

Bài làm
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã thừa nhận việc thúc
đẩy bình đẳng giới sẽ đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho tất cả mọi
người. Các quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế đã đạt được sự
đồng thuận cao cho rằng, nếu những phân biệt đối xử trên cơ sở giới bị xóa bỏ
sẽ đem lại lợi ích không chỉ cho các cá nhân mà còn mang lại lợi ích cho toàn
thể cộng đồng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định chính trị và
công bằng xã hội. Việt Nam là một trong những nước đã cam kết mạnh mẽ
trong việc đảm bảo bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới về mọi mặt, thể hiện ở
việc phê chuẩn hàng loạt công ước quốc tế có liên quan và phản ánh ở hệ
thống luật pháp, chính sách của quốc gia, từ Hiến pháp tới các Bộ luật, Luật.
Đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền bình đẳng cho cả nam
giới và phụ nữ trong thực tiễn. Một trong những cơ sở pháp lý đó là các quy
định cụ thể của Luật bình đẳng giới hiện hành (Luật bình đẳng giới) cùng các
văn bản hướng dẫn thi hành và nội dung thể hiện biện pháp thúc đẩy binh
đẳng giới là một trong những nội dung khá quan trọng. Sau đây, em xin phép
được trình bày nội dung bài tập học kỳ của mình liên quan đến vấn đề ‘‘thực
tiễn thi hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo’’ như sau:
I. Khái quát chung về biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo.
1. Khái niệm biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 5 Luật bình đẳng giới ‘‘Biện pháp thúc
đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch
lớn giữa nam, nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ
hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau
giữa nam, nữ không làm giảm được sự chênh lệch này. Biện pháp thúc đẩy
1



hành , hướng dẫn tổ chức thực hiện quy định nữ được quyền lựa chọn hoặc ưu
tiên nữ trong tuyển dụng khi nữ có đầy đủ điều kiện tiêu chuẩn như nam; quy
định việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho lao động nữ...
3


1.1. Quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia học tập, đào tạo
1.1.1. Về ưu điểm
Phụ nữ và trẻ em gái đã được tạo điều kiện bình đẳng với nam
giới trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn. Tỷ lệ phụ nữ so với
nam giới trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể. Chênh lệch về tỷ lệ học
sinh nam - nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp (Báo cáo Quốc gia
của Việt Nam, tháng 8-2005 đã khẳng định điều này). Về cơ bản, Việt Nam có
thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệt giới ở các cấp học trước năm 2015. Có
4 loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho người lớn, trong đó
có phụ nữ. Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ
hơn rất nhiều so với trước. Hiện nay, tỷ lệ nữ biết đọc, biết viết tăng liên tục
đến 91,4%. Nữ sinh viên Đại học hơn 50%. Nữ thạc sỹ gần 40%, nữ tiến sỹ
chiếm hơn 10%. Từ 2007-2009, các nhà khoa học nữ đã chủ trì thành công
gần 70 đề tài khoa học cấp nhà nước được ứng dụng vào thực tiễn đem lại hiệu
quả thiết thực. Nhiều chị nhận được các giải thưởng khoa học, được phong
hàm giáo sư, phó giáo sư và danh hiệu Nhà giáo, Thày thuốc ưu tú, Nhà giáo,
Thày thuốc Nhân dân.
Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của người phụ nữ, đặc
biệt là vai trò của giáo dục đối với xã hội, ngành GD&ĐT đã thực hiện tương
đối tốt vấn đề bình đẳng giới. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Đặng Huỳnh Mai đã
từng khẳng định vai trò to lớn của giới nữ: “chiếm hơn 70% đội ngũ toàn
ngành, giới nữ đóng vai trò đáng kể vào sự phát triển của sự nghiệp GD&ĐT
nước nhà”. Một số cơ sở đào tạo lớn vốn có truyền thống nam giới lãnh đạo
như Bách khoa Hà Nội nay đã có nữ giới giữ vị trí Phó hiệu trưởng. Nhiều nữ

Về chủ quan, nhiều chị em chưa thoát ra khỏi tâm lí tự ti, an phận,
không cần phấn đấu, không chịu khó học tập để nâng cao trình độ, chưa nhận
thức hết vai trò và chưa thay đổi cách nhìn mới về chính mình. Mặt khác, các
5


chính sách trong GD&ĐT ngoài ảnh hưởng chung đối với xã hội còn có ảnh
hưởng trực tiếp đến bình đẳng giới. Ví dụ, việc tăng giảm học phí ảnh hưởng
rất nhiều đến quyền lợi của trẻ em gái. Bởi vì trẻ em gái có nguy cơ bị buộc
nghỉ học cao hơn bé trai khi điều kiện gia đình khó khăn.
1.2. Lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của
pháp luật
Ở Việt Nam, phụ nữ nông thôn là lực lượng to lớn và quan trọng của
quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Theo số liệu từ Tổng điều
tra dân số năm 2009, phụ nữ chiếm 50,5% số người hoạt động trong lĩnh vực
nông nghiệp (năm 1989 tỷ lệ này là 60%). Trong tổng lực lượng lao động nữ,
có 68% là hoạt động trong nông nghiệp, tỷ lệ này đối với nam giới là 58%.
Phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đất nước. Là
một lực lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm đông đảo trong nguồn
nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp nhiều khó khăn so
với nam giới nông thôn và phụ nữ đô thị. Chính vì vậy, cần có những quan
tâm hợp lý đến phụ nữ nông thôn. Sau đây sẽ là một số thành công cũng như
hạn chế mà biện pháp thúc đẩy bình giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo đã
và đang đạt được:
1.2.1. Về ưu điểm.
Một chú ý nhất trong thời gian gần đây liên quan đến việc hỗ trợ dạy
nghề cho phụ nữ ở nông thôn đó là Chỉ thị số 11/2006/CT-TTg ngày 27-32006 của Thủ tướng Chính phủ về giải pháp hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho
lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã nhấn mạnh:
“Tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm hiện đang là vấn đề bức xúc ở

đoạn 2006-2010 và trong giai đoạn sắp tới.

7


Nhiều nội dung đã được triển khai cho lao động nữ như: Đào tạo nghề,
tư vấn giới thiệu việc làm, nâng cao kiến thức giáo viên, tạo điều kiện giúp lao
động nữ tiếp cận nguồn vốn quốc gi giải quyết việc làm...
Theo Hội LHPN VN, quá trình triển khai được thực hiện trong giai
đoạn 5 năm 2006-2010,với nhiều kết quả tích cực: Hội LHPN Lào Cai có hơn
18.300 LĐ nữ được học nghề, Hải Phòng có 8000 LĐ, Nghệ An có 7.300 LĐ,
Đà Nẵng có 9000 LĐ, Long An có 13.000 LĐ... Đa số LĐ nữ được học nghề
phù hợp với đặc thù địa phương như: Chăn nuôi gia súc, thú y, dệt, thuê, trồng
trọt, trang điểm, dịch vụ nhà hàng...
Qua triển khai, nhiều cấp hội phụ nữ đã rút ra nhiều kinh nghiệm. Theo
bà Phạm Hải Yến - PCT Hội LHPN Hải Phòng, việc dạy nghề đã được khảo
sát để phù hợp với đối tượng cụ thể, gắn dạy nghề với tạo việc làm và lồng
ghép dạy nghề với tổ tín dụng - tiết kiệm - vay vốn cơ sở nhằm giúp LĐ nữ có
việc làm.
Với Hội LHPN Thái Bình, công tác gắn dạy nghề với DN được chú
trọng, cán bộ Hội phối hợp chặt chẽ với các DN nữ trong việc dạy nghề, tạo
việc làm cho LĐ sau khi học nghề.
Theo bà Đỗ Thái Mười - PCT Hội LHPN tỉnh Long An, việc tuyên
truyền nâng cao nhận thức về nâng cao thu nhập và việc làm bền vững cũng
giúp LĐ nữ tham gia học nghề nhiều hơn...
1.2. Một số tồn tại
Năm 2011, Hội LHPN tiếp tục triển khai tiếp nhiều hợp tác với TC Dạy
nghề, với mục tiêu tăng cường công tác đào tạo nghề, tạo việc làm cho LĐ nữ,
tăng tỉ lệ LĐ nữ qua đào tạo nghề. Theo đó, phấn đấu đưa trên 70 % LĐ nữ
được tuyên truyền, phổ biến các chủ trương chính sách về dạy nghề và việc

Nghệ An, quy mô đào tạo LĐ nữ nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội,
chất lượng đào tạo nghề còn hạn chế, thiếu tính bền vững, việc phối hợp khảo
9


sát đánh giá vấn đề "giới" trong đào tạo giữa các ngành chưa thường xuyên, số
liệu chưa khách quan. Theo bà Đỗ Thái Mười - PCT Hội LHPN tỉnh Long An,
trình độ của LĐ nữ ở nông thôn còn hạn chế, việc tiếp thu còn chậm, ảnh
hưởng đến chất lượng và quá trình đào tạo. Trong khi đó, nhận thức về vai trò
của phụ nữ trong nghề nghiệp - việc làm ở nhiều nơi còn hạn chế...
2. Ý nghĩa của việc thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào
tạo.
Bình đẳng giới trong giáo dục làm tăng chất lượng nguồn nhân lực
trung bình của xã hội. Nếu chúng ta giả định rằng, trẻ em trai và gái có khả
năng thiên bẩm như nhau và những đứa trẻ có khả năng hơn sẽ được học tập
và đào tạo nhiều hơn, thì việc thiên vị trẻ em trai có nghĩa là những trẻ em trai
có tiềm năng thấp hơn trẻ em gái lại được học hành nhiều hơn, như thế, chất
lượng nguồn nhân lực trong nền kinh tế sẽ thấp hơn mức có thể đạt được và
kìm hãm tiềm năng tăng trưởng kinh tế.
Bình đẳng giới trong giáo dục có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng
nguồn nhân lực của tương lai. Khi mức độ bất bình đẳng giới trong giáo dục
giảm đi, tức là ở mỗi cấp đào tạo, tỷ lệ nữ so với nam tăng lên và khi trình độ
và nhận thức của phụ nữ trong gia đình được cải thiện, số lượng và chất lượng
đầu tư cho giáo dục đối với con cái sẽ được cải thiện trực tiếp thông qua sự
dạy dỗ của người mẹ cũng như khả năng thuyết phục hoặc quyền của người
mẹ trong việc đầu tư nhiều hơn cho giáo dục đối với con cái. Ngoài ra, trình
độ của người mẹ cao hơn, đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc và dinh
dưỡng đối với con cái. Về lâu dài, các tác động này sẽ làm cho chất lượng
nguồn nhân lực được cải thiện và năng suất lao động trung bình của toàn xã
hội sẽ được nâng lên.

trình phát triển kinh tế – xã hội của cả nước”, đồng thời nhấn mạnh việc ưu
tiên đào tạo nghề và việc làm cho những gia đình mất ruộng “Có kế hoạch cụ
11


thể về đào tạo nghề và chính sách bảo đảm việc làm cho nông dân, nhất là ở
các vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất”. Có cơ sở để thấy rằng phụ nữ
nông thôn cần được quan tâm đào tạo nghề hơn nam giới, ít nhất là ở mấy lý
do: a) phụ nữ là “nhân vật chính” vì họ đảm nhận hầu hết các công việc
trồng trọt, chăn nuôi; b) ở các vùng quê nam giới đi làm ăn xa, nếu có ở lại
quê thì họ cũng dễ tìm kiếm việc làm và ít gặp rủi ro hơn so với phụ nữ; c)
phụ nữ không chỉ gắn với ruộng đồng mà còn gắn với làng xóm vì xu hướng
“nữ hóa nông thôn” đang diễn ra; và d) phụ nữ thường gặp trở ngại nhiều
hơn nam giới trong cơ hội tiếp cận giáo dục, đào tạo do vẫn còn quan niệm
thiên vị giới ở mức độ khác nhau.
Bốn là, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực.
Không làm chủ được các nguồn lực (đất đai, tài sản, phương tiện sản xuất,…)
thì phụ nữ sẽ thuộc “nhóm yếu thế”, không thể tự chủ và khó phát huy được
sức mạnh của vai trò nữ giới. Điều này sẽ càng thêm bất lợi nếu như đời sống
gia đình của người phụ nữ có vấn đề, gặp chuyện “cơm không dẻo, canh
chẳng ngọt” dẫn đến gia đình tan vỡ. Chính vì lẽ đó, cần thúc đẩy việc cấp lại
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai theo Luật Đất đai 2003. Đứng tên
trong giấy tờ sử dụng đất không chỉ cho phép phụ nữ tiếp cận dễ dàng hơn với
các nguồn vốn mà còn nâng cao sự an toàn cho chính họ trong trường hợp ly
hôn hoặc thừa kế. Với phụ nữ nông thôn, đất đai là một phương tiện bảo đảm
an sinh xã hội đồng thời cũng là phương tiện duy nhất để thoát nghèo. Vì thế,
cần tính đến những khác biệt giữa nam và nữ trong tiếp cận và sử dụng vốn
vay tín dụng từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác để có chính sách, chế
độ riêng đối với nam và nữ nông dân trong triển khai chính sách tín dụng hiện
nay.

và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt
là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhằm tạo ra sự chuyển biến tích cực và kết
13


quả cụ thể trong tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ Việt
Nam, thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 “nước ta là một trong các
quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực”.
Thứ bảy, xây dựng và hoàn thiện các chính sách, luật pháp. Đảng đoàn
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiếp tục kiến nghị với Đảng và Nhà nước sớm
xem xét chỉ đạo rà soát, sửa đổi bổ sung có hướng dẫn cụ thể các chính sách,
luật pháp để đảm bảo tính đồng bộ và thực hiện đúng nhiệm vụ, giải pháp đề
ra trong Nghị quyết 11 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ là “Thực hiện
nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề
bạt và bổ nhiệm” và quy định của Luật bình đẳng giới là “Nam nữ bình đẳng
về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí
quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức”. Đề nghị Đảng và Nhà nước ban hành
chính sách tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt vai trò trong xây dựng gia
đình và nuôi dạy con, nhất là các chính sách phát triển nhà trẻ, mẫu giáo; các
trung tâm tư vấn hôn nhân – gia đình và phòng chống tệ nạn xã hội, buôn bán
phụ nữ - trẻ em và bạo lực gia đình; chính sách hỗ trợ cho phụ nữ nghèo khi
sinh con đúng chính sách dân số; chính sách đào tạo lại cho phụ nữ trí thức, hỗ
trợ phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi tham gia đào tạo, bồi dưỡng; nâng tỷ lệ
lao động nữ được đào tạo nghề có chứng chỉ chuyên môn, kỹ thuật; chính sách
thuế đối với nữ chủ doanh nghiệp; hỗ trợ nhà ở cho phụ nữ cao tuổi đơn thân,
phụ nữ khuyết tật có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Hiến Pháp 2013
2. Luật Bình đẳng giới 2006


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status