Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện phong điền, thành phố cần thơ - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Đặng Phúc Tònh

Chuyên ngành : Quản lí giáo dục
Mã số
: 60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. VÕ THỊ BÍCH HẠNH

Thành phố Hồ Chí Minh, 2010


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, quý Thầy Cô trường Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh, Phòng Khoa học Công nghệ và Sau Đại học, Khoa Tâm lý Giáo dục
trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi xin chân thành cám ơn phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền đã tạo điều
kiện, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, quý thầy cô các trường Trung học cơ sở
huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ: trường THCS Giai Xuân, trường THCS Mỹ Khánh,
trường THCS Nhơn Nghĩa, trường THCS Tân Thới, trường THCS Thị trấn Phong Điền,
trường THCS Trường Long.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc đến Tiến sĩ Võ Thị Bích Hạnh
đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin cám ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích lệ để tôi hoàn thành


: học sinh

HT

: Hiệu trưởng

PPDH

: phương pháp dạy học

QLGD

: quản lí giáo dục

TBDH

: thiết bị dạy học

THCS

: trung học cơ sở


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Nâng cao dân trí,
bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”[15].

định các biện pháp quản lý hợp lý để phát huy hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học là rất cần thiết. Từ
thực tế đó, tôi chọn đề tài “Thực trạng và một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các trường
THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ”, với mong muốn tìm một số biện pháp thích hợp cho
công tác quản lý thiết bị dạy học trong trường THCS.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý thiết bị dạy học và khảo sát thực trạng quản lý thiết
bị dạy học ở các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, đề xuất một số biện pháp
quản lý thiết bị dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của các trường THCS tại
huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: công tác quản lý cơ sở vật chất và các thiết bị trường học tại các
trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Đối tượng nghiên cứu: thực trạng công tác và các biện pháp quản lý thiết bị dạy học ở các
trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
4. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý thiết bị dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS huyện Phong Điền, thành
phố Cần Thơ chưa được chú ý đúng mức, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu đổi
mới giáo dục phổ thông hiện nay. Cần đề xuất các biện pháp quản lý thiết bị dạy học phù hợp với
các trường THCS góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học trong các trường THCS tại huyện Phong
Điền, thành phố Cần Thơ.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về thiết bị dạy học và công tác quản lý thiết bị dạy học trong
trường THCS.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý thiết bị dạy học của Hiệu trưởng ở các
trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý thiết bị dạy học cho trường THCS.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
6.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc
Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ chặt chẽ

6.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: lấy ý kiến một số nhà quản lý có kinh nghiệm, lãnh đạo
và chuyên viên trong việc đề xuất các biện pháp mang tính đột phá, cấp bách trong việc nâng cao
chất lượng quản lý TBDH ở các trường THCS.
6.2.3 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng toán thống kê để việc xác định các thông số cần
thiết mang tính chính xác, khoa học.
7. Phạm vi nghiên cứu


Đề tài nghiên cứu thực trạng thiết bị dạy học và công tác quản lý thiết bị dạy học của Hiệu
trưởng trên tất cả 06 trường THCS (gồm: trường THCS Mỹ Khánh, trường THCS Giai Xuân,
trường THCS Nhơn Nghĩa, trường THCS Tân Thới, trường THCS Trường Long và trường THCS
Thị trấn Phong Điền) trực thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Phong Điền, thành phố Cần
Thơ. Quá trình nghiên cứu cũng như kết quả của đề tài chỉ tiến hành, áp dụng trong phạm vi huyện
Phong Điền, thành phố Cần Thơ.


Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối với công tác dạy học, TBDH là công cụ lao động sư phạm của GV và HS, những yếu tố
không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của GV và
HS, trong những trường hợp sử dụng đúng qui trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn,
TBDH đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho HS trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV
trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở HS những phương pháp
học tập tích cực, chủ động.
Chính vì vậy, công tác quản lý cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản lý
TBDH nói riêng đã được nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu.
Trần Văn Long với đề tài: “Thực trạng và giải pháp quản lý cơ sở vật chất các trường tiểu
học ở tỉnh Khánh Hòa”[37], tác giả đánh giá thực trạng quản lý CSVC các trường tiểu học để xác
định được các giải pháp có tính khoa học và khả thi trong quản lý CSVC các trường tiểu học, góp

mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dụng có
hiệu quả TBDH là một nhiệm vụ nặng nề, khó khăn của người thầy giáo. Điều này đòi hỏi người
thầy giáo phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao với yêu cầu sử dụng TBDH. Người GV không
những cần hiểu biết về TBDH, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học
với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc
điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử
dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo
và bồi dưỡng nhân cách cho HS”[21, tr.29].
Trong cuốn: “Quản lý giáo dục”[30] do Bùi Minh Hiền chủ biên, ở chương 10 tác giả đã đề
cập đến vai trò của TBDH trong sự phát triển hệ thống giáo dục quốc dân, phân loại các nhóm
TBDH mà người quản lý cần bao quát và đưa ra một số nguyên tắc cùng giải pháp quản lý TBDH ở
trường học trong giai đoạn hiện nay.
Giáo trình: “Bồi dưỡng Hiệu trưởng trường trung học cơ sở”, tập 3 [45] do Chu Mạnh
Nguyên chủ biên, ở bài 22 tác giả đã nêu những vấn đề chung về CSVC-TBDH và công tác quản lý
về CSVC-TBDH. Đây là những nội dung giúp người Hiệu trưởng có thể áp dụng trong công tác
quản lý CSVC và TBDH ở trường của mình.
Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã xây dựng được một hệ thống lý luận
về vai trò, tác dụng của TBDH cùng một số yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong quá trình dạy
học. TBDH được xác định là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, nhất là ở cấp THCS,
nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Lý luận về TBDH đã được
làm sáng tỏ trong nhiều công trình nghiên cứu và trong các giáo trình về lý luận dạy học. Tuy vậy,
trong các hướng nghiên cứu trên, lĩnh vực nghiên cứu quản lý TBDH trong quá trình dạy học nói
chung và trong các trường THCS huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ nói riêng chưa được
nghiên cứu đầy đủ. Do đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề này.


1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.2.1 Quản lý
Hoạt động quản lý hình thành từ sự phân công hợp tác lao động, từ sự xuất hiện của tổ chức,
cộng đồng. Với nhu cầu hướng đến hiệu quả tốt hơn, năng suất cao hơn trong sự hợp tác lao động


Quan niệm về quản lý vĩ mô và quản lý vi mô trong giáo dục, sẽ gồm hai nhóm khái niệm
tương ứng: quản lý một hệ thống giáo dục (quản lý vĩ mô) và quản lý một nhà trường (quản lý vi
mô). Ở đây, ta chỉ xem xét trên khía cạnh cấp quản lý vi mô.
Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ quản lý vi mô, có thể định nghĩa khái niệm về QLGD như
sau: “ Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế
hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể
học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất
lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.” [34, tr.37].
Hay cũng có thể định nghĩa “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản
lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của
các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào
tạo của nhà trường.” [34, tr.38].
Thuật ngữ “quản lý trường học” có thể xem là đồng nghĩa với QLGD thuộc tầm vi mô. Đây
là những tác động quản lý diễn ra trong phạm vi nhà trường.
Từ các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ bốn yếu tố của QLGD, đó là: chủ thể quản
lý, đối tượng quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý. Ta có thể biểu diễn bốn yếu tố này
bằng sơ đồ 1.1:
Chủ
thể
quản


Đối
tượng
quản


Mục tiêu
quản lý

phận hay một cá nhân bao hàm bộ phận hay cá nhân đó hiểu rõ công việc mình làm nằm trong một
phạm vi nào, nhằm mục đích hoặc mục tiêu nào, công việc của họ ăn khớp như thế nào với các cá
nhân hoặc bộ phận khác và những thông tin cần thiết để hoàn thành công việc.
Vì vậy, ta có thể hiểu rằng, chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ
phận cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức. Song, không phải chỉ có vậy, mà việc thực hiện chức
năng tổ chức trong quản lý còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ
phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ là người vận
hành các bộ phận của tổ chức.
c. Chức năng điều khiển (chỉ đạo thực hiện) trong quản lý giáo dục
Đây là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp
xếp tổ chức, người cán bộ quản lý phải điều khiển cho hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu
đã đề ra. Đây là quá trình sử dụng quyền lực của người quản lý để tác động đến các đối tượng bị
quản lý (con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng
vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống. Người điều khiển hệ thống phải là người có tri thức và kỹ
năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định.
d. Chức năng kiểm tra trong quản lý giáo dục
Đây là chức năng quan trọng của nhà quản lý, có thể nói, chức năng này xuyên suốt quá trình
quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý. Kiểm tra là một hoạt động nhằm thẩm định, xác định
một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Ngoài ra, còn có thể
hiểu là hoạt động quan sát và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của đối tượng
bị quản lý với các quyết định quản lý đã lựa chọn.


Kế hoạch

Kiểm tra

Thông tin

Tổ chức

Học cụ - learning equipments

-

Học liệu – learning (school) materials

Về bản chất, các tên gọi trên đều phản ánh các dấu hiệu chung như sau:
- Đó là tất cả những phương tiện rất cần thiết cho GV và HS tổ chức và tiến hành hợp lí, có hiệu
quả quá trình giáo dục và dạy học ở các môn học, cấp học.
- Đó là một vật thể hoặc một tập hợp đối tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư cách là
phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức; là phương tiện giúp HS lĩnh hội khái niệm, định luật,
thuyết khoa học… nhằm hình thành ở họ các kĩ năng, kĩ xảo, đảm bảo việc giáo dục, phục vụ mục
đích dạy học và giáo dục.
- TBDH là điều kiện đảm bảo cho hoạt động dạy học, là thành tố chủ yếu và quan trọng nhất
trong cấu trúc hệ thống cơ sở vật chất trường học.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Bảo định nghĩa: “Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng
vật chất được giáo viên sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động
nhận thức của học sinh, và đối với học sinh, đó là phương tiện để tiến hành hoạt động nhận thức của
mình, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học.” [3, tr 115].


Trong cuốn “Quản lý giáo dục” do PGS.TS Bùi Minh Hiền chủ biên ở chương 10 “Quản lý
thiết bị dạy học trong nhà trường”, tác giả nêu khái niệm về TBDH như sau: “Trong công tác dạy
học, thầy và trò ngoài chương trình sách giáo khoa, trường lớp… thường phải sử dụng đến phương
tiện được gọi là học cụ, đồ dùng dạy học, thiết bị giáo dục, thiết bị dạy học. Thiết bị dạy học có thể
được coi thuật ngữ đại diện cho các cách gọi khác nhau nêu ra trên đây. Nó là một bộ phận cơ sở vật
chất trường học trực tiếp có mặt trong các giờ học được thầy và trò cùng sử dụng. Thuật ngữ này có
tên tiếng Anh tương ứng: Equypment for Teaching.” [30, tr 285].
Theo tác giả Vũ Trọng Rỹ đã viết: “TBDH là thuật ngữ chỉ một vật thể hoặc một tập hợp đối
tượng vật chất mà người GV sử dụng với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của

tri thức đã lĩnh hội được; rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết; phát triển hứng thú nhận thức,
năng lực quan sát, phân tích tổng hợp các hiện tượng, rút ra những kết luận có độ tin cậy.
- Giúp giáo viên có điều kiện trình bày bài giảng một cách khoa học, tinh giản, đầy đủ, sâu sắc,
sinh động, điều khiển hoạt động nhận thức cũng như kiểm tra đánh giá học sinh.
Tóm lại, nếu sử dụng đúng các TBDH sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu suất lao động của
thầy và trò.
Từ những vấn đề cơ bản của quá trình dạy học, chúng ta nhận thấy rằng, hoạt động dạy là hoạt
động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, mà một trong những nhiệm vụ tổ chức, điều
khiển nhận thức đó là việc tổ chức, điều khiển quá trình tri giác những hiện tượng hoặc đối tượng
được nghiên cứu của HS. Tuy nhiên, những hiện tượng đối tượng đó không phải bao giờ cũng được
hiện ra một cách trực tiếp ngay tại phòng học. Trong trường hợp đó, TBDH tạo khả năng tái hiện
chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình… Nhờ chúng mà tạo nên
trong ý thức của người HS những hình ảnh trực quan cảm tính của những hiện tượng và sự vật.
1.3.3 Đặc trưng và yêu cầu của thiết bị dạy học
1.3.3.1 Đặc trưng của thiết bị dạy học
- TBDH ở trường phổ thông rất đa dạng phong phú.
- TBDH ở trường phổ thông là sự kết hợp các tính chất khoa học, sư phạm và kinh tế :
+ Tính khoa học: Là mức độ chuẩn xác trong việc phản ánh hiện thực.
+ Tính sư phạm: Là sự phù hợp với các yêu cầu về mặt sư phạm như độ rõ, kích thước, màu
sắc, dễ sử dụng phù hợp tâm sinh lý học sinh...
+ Tính kinh tế: Là giá thành tương xứng với hiệu quả giáo dục - đào tạo. CSVC và TBDH
cũng được đánh giá theo một số tiêu chuẩn trên. Công thức ước lệ sau đây thể hiện sự đánh giá
chung nhất đối với một TBDH.
Hiệu quả sư phạm
Hiệu quả đầu tư =
Giá thành TBDH
1.3.3.2 Yêu cầu đối với thiết bị dạy học
TBDH có thể đơn giản hay hiện đại nhưng qua sử dụng, nó phải cho kết quả khoa học, đảm bảo
yêu cầu về mặt mỹ quan, sư phạm, an toàn và giá cả hợp lý, tương xứng với hiệu quả mà nó mang
lại và không nhất thiết là những thiết bị đắt tiền.

triển nhanh chóng nhiều phương tiện thiết bị kỹ thuật dạy học.
- Các thiết bị kỹ thuật dạy học bao gồm các phương tiện nghe nhìn và các máy móc dạy học.
Trong đó các phương tiện nghe nhìn chiếm vị trí quan trọng nhất.
- Các phương tiện nghe nhìn gồm:
+ Các giá mang thông tin (bản trong, phim, băng từ âm và hình, đĩa ghi âm, ghi hình...).


+ Các máy móc chuyển tải thông tin ghi ở các giá mang thông tin như đèn chiếu, máy chiếu
phim, Radio, Cassette, Ti vi, Camera, máy vi tính...
d.2. Hệ thống đồ dùng trực quan:
- Mẫu vật: vật thật, tiêu bản, vật nhồi, các sản phẩm nhân tạo và các bộ sưu tập.
- Mô hình ma két.
- Hình vẽ, sơ đồ, bản đồ, tranh vẽ, ảnh.
d.3. Thiết bị và đồ dùng thí nghiệm nhà trường:
- Là hệ thống trang bị nhằm thể hiện những giờ lên lớp có thí nghiệm hoặc giờ thực hành của
học sinh, giúp học sinh nắm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo bằng con đường thực nghiệm. Gồm các loại
thí nghiệm:
+ Thí nghiệm chứng minh (thí nghiệm biểu diễn): Là thí nghiệm thầy giáo tiến hành trước
toàn lớp nhằm tìm ra những hiện tượng, những định luật mới v.v…
+ Thí nghiệm thực hành: Là học sinh tự tiến hành thí nghiệm theo từng cá nhân hay từng
nhóm nhằm kiểm tra hay khẳng định một vấn đề đã học; đồng thời giúp học sinh rèn luyện các kĩ
năng thực nghiệm.
+ Thí nghiệm thực tập: Là những đề tài, những thí nghiệm tổng hợp nhằm củng cố, ôn tập
một chương hay một chương trình đã học.
Các loại thí nghiệm trên có thể được tiến hành trên lớp học, trong phòng học bộ môn, phòng
thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường.
e/ Mối quan hệ giữa thiết bị kỹ thuật, đồ dùng dạy học với thí nghiệm
Đối với nhiều môn như Vật lý, Hóa, Sinh, Kỹ thuật, Công nghệ thì thí nghiệm là phương pháp
dạy học quan trọng. Khi tiến hành thí nghiệm giáo viên và học sinh thường sử dụng phối hợp các
phương tiện kỹ thuật, đồ dùng dạy học với thiết bị thí nghiệm.

học tập.
1.3.5 Các nguyên tắc quản lý TBDH
Lý luận và thực tiễn công tác quản lý nhà trường cho thấy, quản lý tốt các TBDH đòi hỏi
người cán bộ quản lý trường học cần nắm vững một số yêu cầu sau:
- Các yêu cầu về nội dung chương trình và phương pháp bộ môn, qui định các TBDH cho từng
môn học và cho các hoạt động giáo dục khác.
- Biết cách phân loại và nắm vững nội dung quản lý các TBDH.
- Phải có giải pháp xây dựng, trang bị và tổ chức sử dụng các TBDH có hiệu quả cao. Giữ gìn
và bảo quản tốt các TBDH đã được trang bị.
- Phải có lộ trình đầu tư ngắn hạn và dài hạn để trang bị TBDH.
Để đáp ứng các yêu cầu nêu trên, người quản lý cần phải tuân thủ một số nguyên tắc quản lý
TBDH trong trường học.
* Nguyên tắc tính mục đích của quản lý TBDH
Quản lý TBDH là một trong những nội dung và nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý
trường học. Quản lý TBDH để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý của người Hiệu trưởng nhằm nâng
cao chất lượng dạy học trong nhà trường.
* Nguyên tắc tính hai mặt hành chính và chuyên môn trong quản lý TBDH


Quản lý TBDH phải đảm bảo có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa công tác quản lý hành
chính và chuyên môn. Kế hoạch và nội dung quản lý chuyên môn phải đồng bộ và ăn khớp với kế
hoạch quản lý hành chính. Ngược lại, kế hoạch và nội dung quản lý hành chính phải nhằm phục vụ
tốt nhất cho hoạt động dạy và học. Việc trang bị, sử dụng và bảo quản các TBDH phải tuân thủ các
thủ tục quản lý hành chính Nhà nước.
* Nguyên tắc tính khoa học và thực tiễn trong quản lý TBDH
Việc trang bị, sử dụng, bảo quản TBDH phải xuất phát từ nhu cầu của việc thực hiện nội
dung chương trình và đổi mới phương pháp dạy học cùng các điều kiện thực tế của nhà trường và
địa phương. Đồng thời nó cũng là những căn cứ và cơ sở để kiểm tra và đánh giá công tác quản lý
TBDH của nhà trường. Nhà trường cần sắp xếp và bố trí nhân lực, vật lực, tài lực phục vụ một cách
tốt nhất cho công tác này.

Trong quyển “ Hỏi đáp về đổi mới THCS ” của Nxb Giáo dục 7/2001 có ghi: Học xong
THCS, học sinh THCS đạt được những yêu cầu chủ yếu dưới đây:
a) Có tư tưởng, đạo đức, lối sống phù hợp với mục tiêu GD chung, thích hợp với lứa tuổi học
sinh THCS. Cụ thể là có lòng yêu nước, có ý thức rõ ràng về lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; có
lòng tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, giàu truyền thống cách mạng; có niềm tin quyết
tâm thực hiện sự nghiệp “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng
dân chủ văn minh”; có lối sống văn hóa lành mạnh, biết cư xử hợp lý trong quan hệ gia đình, bạn bè
và ngoài xã hội; lòng nhân ái.
b) Có học vấn phổ thông cơ sở, bao gồm các kiến thức cơ sở về tự nhiên, xã hội và con người,
gắn với cuộc sống cộng đồng và thực tiễn địa phương, có kiến thức cần thiết, tối thiểu về tiếng Việt,
Toán, các môn khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, về tin học, công nghệ, về những vấn đề thời sự
cuộc sống như môi trường, dân số… bước đầu sử dụng được một ngoại ngữ, làm quen với máy tính,
có hiểu biết ban đầu về nghề nghiệp và lựa chọn đúng hướng nghề nghiệp.
c) Có kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết những vấn đề thường gặp trong
cuộc sống bản thân và cộng đồng, bước đầu thể hiện ở tính linh hoạt, độc lập, sáng tạo trong học tập
và lao động, có kĩ năng cơ bản về sử dụng những phương tiện đại chúng, thu thập xử lý thông tin để
nâng cao hiểu biết, phục vụ học tập; có kĩ năng giao tiếp, ứng xử với môi trường xung quanh tạo
nên quan hệ tốt đẹp; có kĩ năng lao động đơn giản; có thói quen tự học; biết cách làm việc khoa học;
sử dụng thời gian hợp lý; biết thưởng thức cái đẹp trong cuộc sống và trong văn học, nghệ thuật; có
lòng ham muốn hiểu biết; có thói quen kĩ năng rèn luyện thân thể, vệ sinh cá nhân và môi trường.
Thông qua tất cả hoạt động GD mà hình thành và phát triển cho HS những năng lực then chốt
sau đây:
- Năng lực thích ứng với những thay đổi trong thực tiễn để tự chủ, tự lập, năng động trong
lao động, trong cuộc sống.
- Năng lực hành động: biết làm, biết giải quyết những tình huống thường gặp trong cuộc
sống.
- Năng lực cùng sống và làm việc với tập thể và cộng đồng.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status