Nghiên cứu thành phần loài tuyến trùng ký sinh trên cây lạc ở tỉnh hưng yên - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong các cây công nghiệp ngắn ngày đang được sản xuất ở Việt Nam thì cây Lạc
có một vị trí rất quan trọng. Cây Lạc, còn được gọi là Đậu phộng hay Đậu phụng (tên
khoa học là Arachis hypogaea), là một loài cây thực phẩm thuộc họ Đậu có nguồn
gốc tại Trung và Nam Mỹ. Sản phẩm của cây lạc rất giàu lipit, protein dùng làm thức
ăn cho người và gia súc, dầu lạc cũng được sử dụng trong công nghiệp. Ngoài tiêu
dùng nội địa, sản phẩm của cây lạc còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao,
mỗi năm Việt Nam xuất khẩu 100.000-135.000 tấn thu về 65-120 triệu USD [26].
Cây lạc được trồng khá phổ biến tại Việt Nam, trong đó tỉnh Hưng Yên là một
trong những tỉnh trồng nhiều nhất. Nằm gọn trong một ô trũng thuộc đồng bằng sông
Hồng, được cấu tạo bằng các trầm tích thuộc kỷ Đệ Tứ, với chiều dài 150m - 160m và
đất đai trong tỉnh được hình thành do phù sa sông Hồng bồi đắp. Thành phần cơ giới
của đất khá đa dạng từ đất thịt nhẹ đến đất thịt pha nhiễm chua. Bên cạnh tài nguyên
đất đai, tỉnh Hưng Yên còn có nguồn tài nguyên nước khá phong phú, có thể cung cấp
nước trực tiếp cho nông nghiệp qua các hệ thống sông ngòi tự nhiên và hệ thống trung
đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải. Với những ưu thế đó thì cây lạc được chú trọng quan
tâm đặc biệt bởi nó phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh Hưng Yên.
Thành phần sinh hoá của hạt lạc có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, vào sự biến
động các điều kiện khí hậu giữa các năm, vào vị trí của hạt ở quả, các yếu tố không
bình thường như: sâu bệnh hại, và phương pháp phân tích khác nhau cũng ảnh hưởng
đến thành phần sinh hoá của hạt lạc [1].
Các loại bệnh hại trên cây lạc chủ yếu do các loài sâu, rệp, vi khuẩn... gây ra và
còn một loại bệnh nữa do tuyến trùng gây ra cũng gây hại không kém tới năng suất
cây trồng. Tuyến trùng gây thiệt hại ở tất cả các khu vực trồng cây lạc trên thế giới.
Theo khảo sát của các nhà tuyến trùng học, tổn thất hàng năm gây ra bởi các loài
tuyến trùng trên cây lạc được ước tính khoảng 12% và thiệt hại ước tính khoảng 1,03
tỷ USD [26].

1


của thực vật, bao gồm rễ, thân, lá và các hoa của thực vật đang phát triển. Do quá trình
sống và sinh sản trên hoặc trong cơ thể thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều biến
đổi theo chiều hướng bất lợi đối với thực vật-cây chủ như phá hủy mô thực vật, tạo
các vết thương, các biến đổi về sinh lý…Ngoài tác hại trực tiếp trên, chúng còn có
mối quan hệ với các tác nhân gây bệnh khác, từ đó làm giảm khả năng miễn dịch của
thực vật [4].
Tuyến trùng thuộc ngành Nemata, trong đó tuyến trùng ký sinh thực vật gồm các
loài tuyến trùng ở 4 bộ, khác nhau về cấu tạo hình thái, giải phẫu và tính chất ký sinh
ở thực vật. Bộ Tylenchida: bao gồm hầu hết các loài tuyến trùng là đại diện cho các
nhóm ký sinh ở các phần khác nhau của thực vât. Bộ Aphelenchida: gồm một số loài
tuyến trùng ký sinh ở các phần trên mặt đất của cây như lá, hoa. Bộ Dorylaimida: gồm
các loài họ Longidoridae là nhóm tuyến trùng ngoại ký sinh thực vật, một số loài có
khả năng mang truyền virus. Bộ Triplonchida: gồm các loài của 2 họ Trichodoridae
và Diphterophoridae là nhóm ngoại ký sinh thực vật, nhiều loài có khả năng mang
truyền virus. Trong đó bộ Tylenchida là nhóm tuyến trùng ký sinh đông đảo nhất và
có tầm quan trọng nhất trên phạm vi toàn thế giới [4].
Theo báo cáo tổng quan của các nhà nghiên cứu về tuyến trùng học, cho đến nay
đã xác định hàng trăm loài tuyến trùng ký sinh gây thiệt hại trên cây lạc tại nhiều khu
vực khác nhau trên thế giới, trong đó phổ biến nhất là: Meloidogyne spp.,
Pratylenchus brachyurus, Belonolaimus longicaudatus, Criconemella ornata,
Aphelenchoides arachidis, Aphasmatylenchus straturatus, Scutellonema cavenessi,
Tylenchorhynchus brevilineatus và Ditylenchus destructor [26].

3


Tuyến trùng sần rễ Meloidogyne spp.
Giống tuyến trùng sần rễ Meloidogyne có 3 loài ký sinh trên cây lạc là:
M. arenaria, M. javanica, M. hapla. Ba loài này được biết đến rộng rãi ở cả 3 vùng
bắc, trung và nam nước Mỹ, Châu Phi, Ấn Độ, Châu Âu bao gồm cả Địa Trung Hải,

ngoài của trụ rễ, chúng được nhân rộng và phát triển ra ngoài vỏ. Các tế bào lân cận
của vỏ tế bào cũng đã bị phá hủy bởi sự nhân lên nhanh chóng của mật độ tuyến trùng
và các mô tế bào bắt đầu bị hoại tử, sự phát triển về chiều dài của rễ bị hạn chế bởi
những u nốt trên rễ, chức năng vận chuyển nước và chất dinh dưỡng của rễ cũng bị
phá hủy [26].
Tất cả sự thay đổi về cấu tạo giải phẫu bởi M. javanica trên các tế bào rễ cây lạc
chính là sự tăng nhanh và phình to ra của các tế bào mà kết quả là do sự hình thành
của các tế bào khổng lồ đa nhân ở vỏ và thân của rễ. Các nốt sần trên rễ và củ lạc do
M.arenaria và M. javanica thường giống nhau và lớn hơn so với các nốt sần do
M. hapla [9,19]. Các nốt sần được tạo ra bởi M. arenaria và M. javanica có thể có
đường kính lớn gấp vài lần so với các rễ bên cạnh, do đó nó ít mở rộng hơn so với các
rễ nhánh không bị nhiễm. Sakhuji và Sethi (1985) quan sát ở các rễ bị nhiễm bởi
M. javanica thì chúng tăng lên nhanh chóng từ 2 đến 5 lần so với các rễ bên cạnh ở tất
cả vị trí. Nốt sần tạo ra do Rhizobium trên rễ cây lạc có thể được chẩn đoán nhầm
giống như nốt sần do tuyến trùng gây ra nhưng thực tế chúng lại rất khác nhau [32].
Machmer (1951) đã mô tả các triệu chứng trên cây lạc bị nhiễm bởi M. arenaria
như sau: sự sây sát xảy ra trên tất cả các phần dưới của cây lạc kể cả vỏ lạc cũng xuất
hiện các nốt mụn. Thân củ lạc thường rất nhiều nốt mụn và dễ dàng bị cắt đứt nếu củ
lạc bị nhiễm sớm từ đó sẽ ảnh hưởng tới phôi thai hạt giống. Machmer cũng nói thêm
về quần thể thực vật cây lạc không biểu hiện bệnh dễ thấy cho đến khi chúng gần
được thu hoạch. Tại Trung Quốc, Zhang (1985) cũng đã thông báo cây lạc bị nhiễm
tuyến trùng M. arenariasau khoảng 40 ngày trồng thì lá cây lạc đã bắt đầu chuyển
màu vàng và cây bị còi cọc. Biểu hiện trên mặt đất của M. hapla (Taylor & Sasser,
1978) và M. javanica (Minton & cs., 1969b) tương tự giống như của M. arenaria. Khi
cây bị ảnh hưởng thì tăng trưởng và năng suất đều kém [44].

5


Hình 1.1. Triệu chứng bệnh trên cây lạc do loài Meloidogyne spp. gây ra

vực bị nhiễm bệnh có thể bị lây vào các khu vực khác khi chúng được đào xới bằng
các phương tiện vận chuyển hoặc sự đi lại của vật nuôi, con người cũng có thể là
nguồn gốc cho trứng và ấu trùng phát triển [15].
Các yếu tố môi trường ảnh hướng tới hoạt động ký sinh của tuyến trùng: Nhiệt độ
được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự tồn tại và hoạt động ký sinh của
Meloidogyne và nhiệt độ thấp nhất và cao nhất cho sự tồn tại tương ứng vào khoảng
từ 00C- 50C và 350C- 400C (Taylor & Sasser, 1978). Nói chung nhiệt độ tối ưu cho sự
phát triển của trứng và ấu trùng là 100C-150C (Bergeson, 1959; Thomason & cs.,
1964). Nhiệt độ tối ưu cho sự ấp trứng của M. hapla và M. javanica tương đối từ
250C-300C (Birdge& Wallace, 1965). Nhiệt độ để trứng nở của M. javanica vào
khoảng 300C, cao hơn so với M. hapla. Milne & Du Plessis (1964) đã nhận thấy rằng
chu kỳ sống của M. javanica là 56 ngày tại nhiệt độ 14,30C và 21 ngày ở nhiệt độ

7


26,10C [11, 12, 34].
Độ ẩm đất là yếu tố cần thiết để duy trì mọi hoạt động sống của Meloidogyne.
Trong đất ẩm khoảng từ 40-60% thì ấu trùng có thể hoạt động và di chuyển trong đất
qua lớp màng nước.Trong đất khô chúng trở nên kém hoạt động và có thể bị chết (Van
Gundy, 1985). Trong đất ẩm, quá trình trứng nở có thể bị ức chế và ấu trùng di chuyển
chậm do thiếu oxy. Baxter và Blake (1969) đã nhận thấy rằng tất cả các hoạt động của
M. javanica sẽ tăng lên nếu nồng độ của oxy tăng từ 0,2 tới 21% và kết luận rằng môi
trường cung cấp thuận lợi đó là khi đất ẩm thoát nước nhanh và nồng độ oxy tăng trên
10%. Zhang (1985) báo cáo rằng M. arenaria ít nghiêm trọng hơn trong các khu vực
thấp nhưng có các mạch nước cao hơn so với khu vực thoát nước tốt. Mặc dù vậy
M. arenaria ít gây nguy hiểm trên cây lạc trong các ruộng bị ngập hơn so với các
ruộng không bị ngập lụt [8, 45].
Trong các nghiên cứu phòng trừ mức độ phụ thuộc vào nhiệt độ, Vrain (1978) đã
tìm thấy mức độ lây nhiễm của M. incognita và M. hapla thấp hơn sau khi tiếp xúc

Thiệt hại trong các khu vực bị tàn phá có thể vượt quá 50%, tuy nhiên thiệt hại
thường phân bố không đều và tổn thất trung bình có thể ít hơn 50%. Gần đây, thiệt hại
ước tính do M. arenaria trong rễ chính của cây lạc tại những vùng sản xuất dao động
từ 0,5% ở Oklahoma tới 5,4% ở Alabama. Thiệt hại do M. hapla dao động từ 0,3% ở
Georgia tới 4,7% ở Bắc Carolina. Sasser (1979b) đã chỉ ra rằng ước tính thiệt hại sản
xuất do Meloidogyne ở phía tây Châu Phi và Đông nam Châu Á là 15% [26].
M. arenaria được chỉ ra là nguyên nhân chính gây bệnh ở cây lạc tại Trung Quốc
(Zhang,1985). M. arenaria xuất hiện lần đầu tiên ở phía bắc của khu vực trồng cây lạc
còn M. hapla ở khu phía Nam. Điều tra cho thấy rằng khoảng 61% trong số diện tích
6200 ha trồng cây lạc đã bị nhiễm M. arenaria (Zhang, 1985).Trong các thí nghiệm
về tiêu diệt tuyến trùng, sản lượng thường tương quan với số lượng ấu trùng
Meloidogyne có trong đất. Phân tích hồi quy dữ liệu từ 16 thí nghiệm ở cây lạc trên
vùng Alabama chỉ ra rằng sản lượng xấu có liên quan tới số lượng của ấu trùng
M.arenaria trong đất xác định khi gần thu hoạch [44].
Các biện pháp phòng trừ: Sự phòng trừ Meloidogyne có thể là cần thiết đối với
một số khu vực đem lại lợi nhuận từ việc trồng cây lạc nhưng ở một số khu vực khác

9


thì không. Do đó trên mỗi khu vực nên có các đánh giá dựa trên mức độ gây hại của
tuyến tùng theo các thời điểm, các loại cây trồng khác phát triển luân canh với cây lạc,
mức độ số lượng tuyến trùng hiện tại. Dựa vào các khảo sát, Motsinger & cs. (1976)
đã nhận thấy rằng chỉ có 26,6% diện tích trồng cây lạc ở Georgia là đáp ứng được các
quy trình trong việc hạn chế số lượng tuyến trùng. Tuy nhiên những điều trên không
hoàn toàn giải thích đúng cho các biện pháp bởi nó còn phụ thuộc sự luân canh và chế
độ canh tác ở những khu trồng cây lạc. Ngăn chặn sự phát triển của tuyến trùng là một
vấn đề đem lại kinh tế hơn là việc quản lý sự phát triển của chúng [28].
Loài tuyến trùng nội ký sinh rễ lạc Pratylenchus brachyurus
P. brachyurus là loài gây hại chính trên cây lạc. Chúng thường tập trung ở các

trong các vùng. Get & cs. (1958) đã phân biệt được sự tổn thương trên vỏ trưởng
thành có màu nâu tím với các tổn thương gây ra bởi vi sinh vật đất thường có màu tối
hơn và thường không phai dần vào các mô khỏe mạnh xung quanh cũng như không
phân hủy vi sinh vật [29].

Hình 1.2. Tổn thương trên củ lạc do P. brachyurus gây ra (theo T.E. Boswell, 1968)
Hình thức tồn tại và cách lây nhiễm: P. brachyurus rất dễ lây nhiễm vào rễ và củ
lạc bởi nó có thể chịu được nhiệt độ và độ ẩm ở mức thấp nhất, điển hình nó có thể tồn
tại ở Đông nam Mỹ trong những mô chết thực vật của mùa đông. Ở phía nam Châu
Phi, Keon (1967) đã nghiên cứu với khoai tây và ngô thì thấy rằng vào cuối mùa đông
có khoảng 66,1% P. brachyurus được tìm thấy trong các chất hữu cơ của đất mặc dù
các chất hữu cơ chỉ chiếm 0,29% của đất. Boswell (1968) đã tái sinh P. brachyurus từ

11


vỏ lạc và lưu trữ ở 240C trong khoảng 3, 6 và 28 tháng. P. brachyurus là tuyến trùng
ký sinh đa thực nên có thể tồn tại qua mùa đông trong rễ của nhiều loại cây trồng và
cỏ dại [22, 40].
P. brachyurus có thể được lây nhiễm bằng nhiều cách giống như Meloidogyne. Vì
đây là một ký sinh trùng di chuyển và chúng có thể tấn công vào bất cứ cây trồng nào
trong đất. Chúng có thể dễ dàng di chuyển trong rễ và các bộ phận của cây trong đất.
Nói chung, phương pháp lây lan chủ yếu là do hoạt động của con người có liên quan
đến vận chuyển các cây trong đất cũng như cách làm đất.Vỏ lạc được sử dụng như lớp
phủ và đất giống như một môi trường chứa tuyến trùng sống. Ngoài ra, dòng chảy của
mạch nước ngầm cũng như nước tưới tiêu là một nguyên nhân dẫn đến lây lan tuyến
trùng trong đất [23].
Yếu tố môi trường ảnh hưởng tới việc ký sinh của tuyến trùng: Sự phân bố và ký
sinh của P. brachyurus có liên quan tới nhiệt độ và thường cư trú ở những nơi nóng
lên của thế giới (Loof, 1964). Boswell (1968) đã nghiên cứu được mức độ sinh sản tối

Biện pháp hóa học: Sự phá hoại nghiêm trọng của P. brachyurus có thể làm giảm
năng suất nhiều cũng như vài trăm kg mỗi ha. Những nơi xảy ra phá hoại nghiêm
trọng thì điều trị bằng phương pháp hóa học là hiệu quả nhất. Phòng trừ loài tuyến
trùng Meloidogyne cũng phòng trừ luôn cả P. brachyurus [26, 39].
Loài tuyến trùng ngoại ký sinh rễ lạc Belonolaimus longicaudatus
Đây là tuyến trùng dạng chích hút, B. longicaudatus, chúng tồn tại trong đất cát
dọc theo đồng bằng ven biển Đại Tây Dương từ Connecticut và New Jersey tới
Florida và Westward Texas, Oklahoma, Arkansas, Kansas và ở Mỹ. B. longicaudatus
ký sinh trên cây lạc ở hầu hết các quốc gia sản xuất cây lạc, thiệt hại ước tính đã được
báo cáo ở Virginia, Bắc Carolina và Oklahoma (Anon, 1987). Cooper & cs. (1959)
báo cáo rằng B. longicaudatus đã được tìm thấy ở 16 nước trồng cây lạc thuộc phía
bắc Carolina và trong đó có 8 nước sản xuất cây lạc chủ yếu. Ở Virginia,
B. longicaudatus là một vấn đề hết sức nghiêm trọng vì trong vòng chưa đầy 5% của
khu vực trồng cây lạc đã bị nhiễm [12, 13, 15].
Triệu chứng: B. longicaudatus ký sinh bên ngoài, dọc theo hai bên của rễ mọng
nước cũng như trên vỏ hạt non. Tổn thương hoại tử nhỏ có thể được quan sát thấy trên

13


rễ, củ (Owens, 1951). Esser (1976) thấy rằng khi bị nhiễm tuyến trùng thì gốc rễ sẽ bị
sưng và uốn ngược lên trên. Nếu nhiễm nặng có thể gây ra rễ cong queo và chỉ có rễ
cái còn lại (Owens, 1951). Biểu hiện trên mặt đất thường thấy cây bị còi cọc và úa
vàng. Tăng trưởng cây lạc có thể không đồng đều trong khu vực bị nhiễm chủ yếu.
Năng suất và chất lượng của cây lạc có thể giảm nghiêm trọng [18].

Hình 1.3. Hệ thống rễ cây lạc bị giảm đáng kể do loài tuyến trùng B. longicaudatus
ký sinh gây ra (theo J.N. Sasser, 1960)
Phương thức tồn tại: Sự phân bố hạn chế của B. longicaudatus có thể do một số
hạn chế sinh học và môi trường ảnh hưởng đến sự phát tán của chúng. Kết quả nghiên

Biện pháp phòng trừ: Không giống với giống cây lạc thương mại thì chúng có khả
năng chống B. longicaudatus. Với tuyến trùng này chỉ có khả năng ký chủ trên một
vài cây trồng như ngũ cốc nhỏ, thuốc lá (Nicotiana tabacum L.) và dưa hấu (Citrullus
vulgaris).Việc trồng luân canh cây lạc với các cây trồng khác đã làm giảm số lượng
tuyến trùng này. Việc sử dụng các phương pháp tiêu diệt truyến trùng là phương tiện
chủ yếu để phòng trừ chúng. Bằng việc áp dụng 2 phương pháp xông khói và không
xông khói đã làm gia tăng năng suất của cây lạc [9, 10].
Loài tuyến trùng ngoại ký sinh rễ cây lạc Criconemella ornata
Tuyến trùng C. ornata có dạng vòng, chúng được tìm thấy lần đầu tiên trên cây
lạc ở Georgia (Boyle, 1950; Machmer, 1953).Và hiện giờ chúng được tìm thấy với tỷ
lệ lớn ở các vùng sản xuất lạc của Mỹ.Tuyến trùng Criconemella đã được tìm thấy ở

15


Burkina Faso (Germani & Dhery, 1974), Ai Cập (Ibrahim & El-Saedy, 1976) [21].

Hình 1.4. Con cái và trứng của loài tuyến trùng C. ornata (theo Minton & Bell.,1969)
Triệu chứng: Machmer (1953) đã mô tả cây lạc bị úa vàng ngày càng tăng ở
Georgia trong đất bị nhiễm khuẩn mạnh với một loài Criconemella mà ông gọi là
bệnh "úa vàng lạc". Mặc dù ông không xác định loài nhưng nó có thể là C. ornata.
Barker & cs.(1982) thông báo cây lạc trồng trong nhà kính cũng có hiện tượng úa
vàng và rễ, củ, vỏ củ của cây lạc bị nhiễm khuẩn mạnh với C. ornata đã đổi từ màu
vàng sang màu nâu với tổn thương lớn hơn. Tổn thương nhỏ thường không thấy rõ,
nhưng với tổn thương lớn thì thường mở rộng sâu vào mô khiến nhiều rễ và rễ cái bị
chết, dẫn đến giảm số lượng rễ của cây. Từ đó, sản lượng cây lạc từ các khu vực bị
nhiễm tuyến trùng đã giảm khoảng một nửa [27].
Phương thức tồn tại phổ biến: Các thông tin liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng
đến sự sống còn của C. ornata thường rất ít và bị hạn chế. Một số thí nghiệm đã được
thực hiện để tìm ra loại đất thích hợp cho thấy chúng thích hợp với loại đất nhẹ

Phòng trừ: Mức độ thiệt hại do C. ornata trên cây lạc chưa được xác định rõ ràng,
vì thế các kiến nghị để phòng trừ tuyến trùng này chưa được chú trọng thực hiện và
cũng chưa có giống cây lạc nào kháng được tuyến trùng trên. Một số cây trồng như
bông, đậu tương, ngô và lúa được trồng luân canh với cây lạc để có thể làm giảm mức
độ số lượng của loài tuyến trùng này. Ngoài ra, hai phương pháp điều trị tuyến trùng
là xông khói và không xông khói cũng có hiệu quả chống lại tuyến trùng này [23].
Loài Tylenchorhynchus brevilineatus

17


T. brevilineatus lần đầu tiên được quan sát thấy hại trên cây lạc vào năm 1976 ở
khu vực Kalahasti Andhra Paradesh, Ấn Độ. Vì thế, các bệnh do tuyến trùng này gây
ra được gọi là "căn bệnh Kahahasti". Từ năm 1976, căn bệnh này đã được phổ biến
rộng rãi trong khu vực Kalahasti và cũng đã được quan sát thấy ở quận Nellore ở bang
Andhra Pradesh. Tuy nhiên trên thế giới, bệnh do tuyến trùng này gây ra chưa bao giờ
được báo cáo là một dịch hại đối với các khu vực trồng cây lạc trên thế giới [9, 16].
Triệu chứng: Các triệu chứng bệnh được đặc trưng bởi vỏ nhỏ và đổi màu nâu đen
trên bề mặt vỏ. Tổn thương nhỏ màu vàng nâu xuất hiện trên bề mặt củ và vỏ. Từ đó,
năng suất giảm sút do sự phát triển tế bào chủ xung quanh tổn thương. Trong giai
đoạn phát triển của bệnh thì chiều dài của vỏ bị giảm đi rất nhiều, bề mặt vỏ trở nên
hoàn toàn bị đổi màu, nhưng hạt giống từ củ bị bệnh đều khỏe mạnh [15].
Biện pháp phòng trừ: Aldicarb (10G) và Carbofuran (3G) áp dụng sau khi trồng
cây lạc được 20 ngày nhằm phòng trừ với liều lượng là 2.0, 4.0, 6.0 và 8.0 kg a.i / ha.
Các phương pháp trên nhằm làm giảm mật độ số lượng của tuyến trùng
T. brevilineatus trong đất và tỷ lệ quả bị bệnh [16].
Loài Ditylenchus destructor
D. destructor lần đầu tiên được báo cáo là tuyến trùng gây thiệt hại làm thối khoai
tây vào năm 1988. Một cuộc khảo sát tiếp theo đã tìm thấy sự xuất hiện của tuyến
trùng này trong 7 khu vực trồng cây lạc chính. Khoảng 73% của 877 mẫu hạt giống

ha. Và mẫu đất thu thập từ vùng rễ của cây bị bệnh luôn luôn có mặt của
Paralongidorus citri. Thỉnh thoảng, loài Helicotylenchus, Tylenchorhynchus và
Hoplolaimus cũng có mặt [36].
Hướng nghiên cứu trong tương lai
Thiệt hại năng suất do tuyến trùng ký sinh trên cây lạc xảy ra ở tất cả các vùng sản
xuất lớn trên thế giới. Ước tính thiệt hại là 12%, rõ ràng là tổn thất rất lớn và những nỗ
lực để giảm bớt những thiệt hại là điều cần thiết [26].
Loài Meloidogyne là các tuyến trùng lớn làm hư hại cây lạc ở hầu hết các khu vực
trên thế giới, nhưng ở một số vùng như ở phía tây Châu Phi, các loài khác có thể gây
hại nghiêm trọng hơn.Ví dụ ở Senagal, các loài Meloidogyne không gây thiệt hại trên

19


cây lạc và thường được trồng luân canh với các cây trồng khác nhằm giảm số lượng
tuyến trùng M. arenaria. Một số tuyến trùng như A. arachidis, A. straturatus,
S. cavenessi, T. brevilineatus và D. destructor đã được báo cáo là gây thiệt hại nghiêm
trọng trên cây lạc tại các khu vực cách ly của Châu Phi và Châu Á nhưng không phải
là tác nhân chính trong các khu vực khác trên thế giới. Belonolaimus longicaudatus là
một tác nhân gây bệnh chính trên cây lạc ở một số khu vực của Hoa Kỳ.
Câu hỏi có thể được đặt ra là tại sao những tuyến trùng này lại được báo cáo là tác
nhân gây hại duy nhất trên cây lạc ở các khu vực này và khả năng trở thành dịch bệnh
của chúng trong các khu vực khác trên thế giới là gì [37].
Trong quá khứ, ở các nước công nghiệp, họ quản lý tuyến trùng dựa vào hóa chất.
Nhưng hiện nay ở các nước này thiệt hại do các loại thuốc xông hơi như DBCP, EDB,
DD và mức độ ô nhiễm môi trường do thuốc này gây ra cùng với các chi phí tăng lên
của việc áp dụng hóa chất đang ở mức độ báo động khẩn cấp. Vì vậy, việc tìm kiếm
hóa chất an toàn hơn và kinh tế hơn để phòng trừ tuyến trùng là nhu cầu cấp thiết.
Phương pháp lý tưởng nhất hiện này là tìm ra các giống kháng tuyến trùng. Tuy
nhiên khả năng kháng của các tế bào mầm và cây non ở lạc đã không được xác định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status