B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
■
•
■
•
NGUYỄN THỊ XUYÊN
BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN
TRONG THƠ LƯU QUANG v ũ
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC S ĩ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
•
•
•
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Công Tài
HÀ NỘI, 2015
LỜ I CẢM ƠN
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đ ề ......................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 5
4. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 6
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 6
6. Đóng góp của luận văn............................................................................... 7
7. Cấu trúc của luận văn................................................................................. 7
CHƯƠNG 1. BIỂU TƯỢNG THƠ CA VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
THƠ LƯU QUANG v ũ .....................................................................................8
1.1. Biểu tượng................................................................................................8
1.1.1. Quan niệm về biểu tượng và biểu tượng nhìn từ các góc độ khác
nhau.............................................................................................................8
1.1.1.1. Quan niệm về biểu tượng.......................................................... 8
1.1.1.2. Biểu tượng nhìn từ các góc độ khác nhau............................... 10
1.1.2. Biểu tượng thơ ca............................................................................14
1.1.2.1. Khái lược về biểu tượng thơ ca............................................... 14
1.1.2.2. Đặc điểm của biểu tượng thơ ca........................................... 14
1.2. Hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ................................................. 15
1.2.1. Giai đoạn 1:1963 -1 9 7 0 .............................................................. 16
1.2.2. Gai đoạn 2:1971 -1 9 7 3 ............................................................... 20
1.2.3. Gai đoạn 3:1974 -1 9 8 8 ............................................................... 23
CHƯƠNG 2. BIỂU TƯỢNG THIÊN NHIÊN GẮN VỚI BẦU TRỜI
TRONG THƠ LƯU QUANG v ũ ................................................................... 26
2.1. Biểu tượng mưa..................................................................................... 26
2.2. Biểu tượng gió....................................................................................... 32
2.3. Biểu tượng mây......................................................................................38
2.4. Biểu tượng bàu trời, chân trời, mặt trời................................................. 40
2.5. Biểu tượng ừăng sao............................................................................. 43
2.6. Biểu tượng nắng.................................................................................... 46
họa, phê bình văn học... Ông khởi đầu là thơ và kết thúc với ánh hào quang
rực rỡ của kịch. Trong vòng tám năm từ năm 1980 đến ngày ông đột ngột ra
đi, Lưu Quang Vũ đã viết khoảng hơn năm mươi vở kịch đều là những tác
phẩm có giá trị, được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Hàng chục vở trong
số đó đã nhận được huy chương vàng các Hội diễn sân khấu toàn quốc. Lưu
Quang Vũ được coi là “Moliere ở Việt Nam”. Kịch Lưu Quang Vũ là những
trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người. Kịch đã mang lại cho ông ánh hào quang
rực rỡ bởi những đóng góp to lớn. Nhưng có lẽ thơ vẫn là nơi nương náu của
tâm hồn, là nơi ông gửi gắm nhiều tâm huyết của đời mình. Nhà thơ Vũ Quàn
Phương đã từng đánh giá: Có cảm giác anh viết kịch để sổng với mọi người
và làm thơ đế sống với riêng mình, đọc hết các bản thảo anh đế lại, tôi thấy
thơ mới là nơi anh kí thác nhiều nhất và tôi tin nhiều bài thơ của anh sẽ thẳng
được thời gian.
Thơ Lưu Quang Vũ đầy suy tư, trăn trở, và cả những khát khao đến
cháy lòng mong cho nhân dân, đất nước được yên ấm, hạnh phúc. Có lúc thơ
ông như một bó đuốc rực lửa muốn thiêu rụi, muốn đốt cháy tất cả đêm đen,
giả dối, đau thương, đổ vỡ... để vươn tới cuộc sống tốt đẹp: Thơ là bó đuốc
đốt thiêu là bàn tay thắp lửa.
Có lúc thơ ông lại giống như một cánh rừng nguyên sinh rậm rịt đầy bí ẩn,
cần được khai phá. Có lúc lại giống những mỏ quặng ẩn mình dưới lòng đất.
2
1.2.
Chọn đề tài “Biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ”,
chính là qua những tàng vỉa ngôn từ giàu hình tượng để thấy được những khát
khao, trăn trở và cả những hoài nghi đầy nhân bản của một thi nhân luôn nặng
Lưu Quang Vũ.
3
Lưu Quang Vũ tài năng và lao động nghệ thuật, Lưu Khánh Thơ chủ
biên, xuất bản năm 2001 nhân dịp Lưu Quang Vũ được nhà nước tặng Giải
thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Lưu Quang Vũ về tác gia và tác phẩm Lý Hoài Thu, Lưu Khánh Thơ
tuyển chọn và giới thiệu (Nxb giáo dục 2007) là cuốn sách tập họp những bài
viết của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình, những người bạn thơ cùng thế hệ với
ông và cả những độc giả mến mộ tài năng lao động nghệ thuật của ông. Trong
đó Hoài Thanh, một tài năng thẩm thơ tỉnh tế đã sớm nhận ra Lưu Quang Vũ
là một cây bút trẻ nhiều triển vọng, một tiếng nói nhỏ nhẹ mà sâu (35.12).
Hoài Thanh cũng nhận ra ở Lưu Quang Vũ truyện cũng như thơ đều có gì
buồn buồn, lặng lặng và cái buồn của anh là một cái buồn trung hậu (35.12).
Lý Hoài Thu trong bài: Sức sáng tạo của một tài năng đã nhận thấy Thơ
tình của ông có đủ vị mặn, ngọt, chua, cay của một thân phận tình yêu nhiều
nếm trải (42, tr.41). Đối với kịch, tác giả này khẳng định sự hưng thịnh của sân
khẩu Việt Nam từ năm 1985 trở đi có phần đóng góp rất quan trọng từ tài năng
và bút lực dồi dào củaLưu Quang Vũ (42, tr.42). Và Kịch của ông là tiếng nói
dõng dạc cất lên đòi đổi mới, đòi quyền sổng và quyền hạnh phúc, đòi trừng trị
cái ác, cái phỉ nhân đang hủy hoại đời sổng con người (42, tr.43). Và cũng như
thơ và kịch, truyện ngắn của ông có nhiều day dứt, trăn trở về nghề, về đời,
về lẽ sống, tình người (42, tr.54).
Lê Đình Kỵ trong Hương cây - Bếp lửa - Đất nước và đời ta cũng nhận
thấy: Thơ Lưu Quang Vũ có một điệu tâm hồn riêng và không thiểu tâm tình,
một tâm tình sâu sẳc, tự nhiên không dứt ra được, nó như có tự bao giờ và
được đem san sẻ cho các bài thơ (14).
Đọc thơ Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương lại nhận thấy: Đọc thơ anh
người đọc, người xem tâm hồn cao quỷ của anh: thơ và kịch (42, tr.160).
5
2.2.
Bên cạnh các bài viết, về những vấn đề khái quát trong sự nghiệp
sáng tác của Lưu Quang Vũ, có những nghiên cứu về biểu tượng và biểu
tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ.
Trước tiên phải kể đến Phạm Xuân Nguyên với Tâm hồn trở gió. Ông
khẳng định: Đời anh là gió, thơ anh là mây. Gió thổi mát và mây che mát.
Mầy cho gió dừng chân và gió cho mầy bay bổng. Gió và mầy hợp lại có thể
là mưa, mưa tưới nhuần mặt đất. Gió lòng anh đang thổi tới lòng ta (23).
Trong Một mảng đời, một mảng thơ thường bị lãng quên, Vương Trí
Nhàn nhận thấy: Trong các thi sĩ đưomg thời, Vũ là người nhạy cảm với mưa,
thân thuộc với mưa hơn ai hết. Ở anh, mưa cho thấy sự trôi qua của thời gian
mà con người bất lực, không sao níu kéo nổi. Mưa làm cho hiện thực trở nên
vô nghĩa và tương lai trở nên lờ mờ không xác định. Sở dĩ Vũ nói nhiều về
mưa vì cảm giác bao trùm trong anh lúc này là ngán ngẩm, thất vọng, không
tin vào điều gì, không biết hướng đời mình vào việc gì (42, ừ .115).
Phan Trọng Thưởng tinh tế khi nhận ra biểu tượng bầy ong trong tập
Hương cây khác với Bầy ong trong đêm sâu'. “Từ Hương cây đến Bầy ong
trong đêm sâu với Lưu Quang Vũ là cả một cơn biến loạn tâm hồn” (44).
Ngoài ra một số biểu tượng thiên nhiên khác cũng xuất hiện ừong
những bài viết của các nhà nghiên cứu và một số luận văn như: Biểu tượng
trong thơ Lưu Quang Vũ của Trần Thị Hường cũng đề cập đến một số biểu
tượng trong đó có một số biểu tượng thiên nhiên.
Những bài viết trên đây thực sự là những gợi mở hết sức quý báu cho
nhìn ra đặc trưng sáng tạo hệ thống biểu tượng trong thơ Lưu Quang Vũ.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh thường dùng trong
nghiên cứu văn học để so sánh cá thể các hiện tượng cùng loại (như biểu
tượng) hoặc các hiện tượng đối lập (như biểu tượng và hình ảnh không phải
biểu tượng) để thấy được bản chất của hiện tượng. Từ đó giúp chúng ta thấy
vị trí và đánh giá được ý nghĩa của các hiện tượng đó trong hệ thống.
7
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn nghiên cứu biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ
để tò đó làm cơ sở cho việc tìm hiểu, khám phá thơ Lưu Quang Vũ trên bình
diện tổng thể, đặc biệt là đặc trưng sáng tạo của nhà thơ.
- Lần đầu tiên biểu tượng thiên nhiên trong thơ Lưu Quang Vũ được
tiếp cận một cách toàn diện. Từ đó góp phần khẳng định phong cách, vai trò,
vị trí của Lưu Quang Vũ trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
ba chương:
Chương 1: Biểu tượng thơ ca và hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ
Chương 2: Biểu tượng thiên nhiên gắn với bàu trời ừong thơ Lưu
Quang Vũ
Chương 3: Biểu tượng thiên nhiên gắn với cảnh vật mặt đất trong thơ
Lưu Quang Vũ
8
CHƯƠNG 1
Henry Corbin cho rằng: Biểu tượng báo hiệu một bình diện ỷ thức khác
với cái hiển nhiên lỷ tính; nó là mật mã của một bỉ ẩn, là cách duy nhất để nói
ra được cái không thể nắm bắt bằng cách nào khác; nó không bao giờ có thể
được cẳt nghĩa một lần là xong, mà cứ phải giải mã lại mãi, cũng giống như
một bản nhạc không bao giờ chơi một lần là xong mà đòi hỏi một lối biểu
diễn luôn luôn mới (4, tr.XVIII).
Biểu tượng cơ bản khác với dấu hiệu ở chỗ, dấu hiệu là một quy ước
tùy tiện trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt (Khách thể hay chủ thể) vẫn
xa lạ với nhau trong khi biểu tượng giả định có sự đồng chất giữa cái biểu đạt
và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức.
Dựa ừên công trình của Jung, của Piaget, của Bachelard, Gilbert
Dururrand cho rằng: Căn cứ của lực năng động tổ chức đó... là nhân tố tạo
nên tỉnh đồng chất trong sự biểu hiện, nằm ngay trong cấu trúc của trí tưởng
tượng. Trí tưởng tượng không hề là khả năng tạo ra các hình ảnh mà là sức
mạnh năng động làm biển dạng các sao chép thực dụng do tri giác cung cấp
và lực năng động có tỉnh cải tạo cảm giác, đó là nền tảng của toàn bộ đời
sổng tâm thần. Có thể nói biểu tượng... rộng lớn hom cái ỷ nghĩa được gán
cho nó một cách nhân tạo, nó có một sức vang cốt yếu và tự sinh (4, tr.XIX).
Trên cở sở tổng hợp nhiều ý kiến có thể có một cái nhìn khái lược về
biểu tượng như sau:
Biểu tượng là môt loại tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái
được biểu đạt mang tính tất yếu có lý do. Mặt hình thức cảm tính, cái biểu đạt
tồn tại trong hiện thực khách quan hoặc trong trí tưởng tượng của con người.
Mặt ý nghĩa hay còn gọi cái được biểu đạt luôn luôn rộng hơn dồi dào hơn
(Chữ dùng của Tz. Todorov) rất nhiều cái biểu đạt.
Biểu tượng nói một cách khái quát, trước hết là hình ảnh của thế giới
khách quan, bên ngoài con người (màu sắc, vật thể, hiện tượng...) với phương
10
11
là biểu tượng được xây dựng do trí tưởng tượng của con người. Biểu tượng
trực quan cảm tính và biểu tượng của tưởng tượng mới chỉ là biểu tượng của
nhận thức, chưa thể trở thành biểu tượng nghệ thuật.
Từ góc độ văn hóa, biểu tượng văn hóa là những khái niệm nằm trong
lĩnh vực văn hóa, rộng hơn là môi trường văn hóa. Văn hóa là phức thể các
giá trị vật chất tinh thần do con người tác động đến tự nhiên, xã hội và bản
thân ừong quá trình lịch sử dài lâu mà tạo nên. Nó tích tụ và thể hiện diện
mạo, bản sắc của cộng đồng.
Do khái niệm và nội hàm văn hóa rất rộng nên không ai có thể nói rằng
mình đã tìm hiểu đến tận cùng của một nền văn hóa. Vì vậy việc nghiên cứu
biểu tượng văn hóa cũng là một cách chạm đến các yếu tố văn hóa cụ thể để
tìm hiểu tổng thể.
Biểu tượng trong tiếng Hán, bao gồm hai thành tố: Biểu là dấu hiệu, là
sự bộc lộ, phô bày. Tượng là hình. Ban đàu biểu tượng được dùng theo nghĩa
thực dụng là một vật (đá, ngọc, sành hay gỗ...) được chia làm hai trong một
giao ước như tín vật, khi gặp nhau chắp lại để làm tin.
về sau, biểu tượng là
phương tiện phản ánh tư duy, hành vi khát vọng kể cả điều cấm kỵ, ám ảnh,
sợ hãi. Biểu tượng thể hiện những góc khuất của tiềm thức và vô thức.
Biểu tượng văn hóa là một loại tín hiệu riêng có chiều sâu và phong
phú hơn tín hiệu văn hóa. Biểu tượng được hình thảnh trong quá trình lâu dài
có tính ước lệ và bền vững, là cảm quan nhận thức được lắng đọng, kết tinh,
chắt lọc trải qua bao biến cố thăng ừàm vẫn không bị phai mờ mà ngược lại
càng khắc sâu hơn vào tâm khảm con người. Biểu tượng văn hóa được hiểu
như là những hình ảnh tượng trưng được cả cộng đồng dân tộc chấp nhận và
sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài. Chính vì thế, biểu tượng góp phần
quá trình dài và sau đó sống hàng trăm năm. Ẩn dụ là yếu tố biến đổi, còn
biểu tượng thì không đổi, bền vững. Ẩn dụ là phạm trù thẩm mỹ và phần lớn
13
tự do tách khỏi phong cách ước lệ. Biểu tượng thì ngược lại, được giới hạn
nghiêm túc bởi hệ thống thi ca xác định.
Như vậy V.I Eremina đã phân biệt ranh giới giữa ẩn dụ và biểu tượng ở
tính biến đổi và bền vững, tự do và ước lệ.
Nhìn chung, biểu tượng là khái niệm bao quát, bao trùm cả ẩn dụ. Biểu
tượng là việc sử dụng ẩn dụ ở mật độ cao có tính quy ước. Việc phân biệt
giữa ẩn dụ và biểu tượng giúp người tiếp nhận văn học tránh cách hiểu đánh
đồng hai thuật ngữ trên bởi trong văn học, cụ thể là ừong thơ Lưu Quang Vũ
có những hình ảnh ẩn dụ không phải là biểu tượng hoặc ngược lại có những
biểu tượng thâu tóm cả ẩn dụ trong nó.
Thứ hai, cần phân biệt giữa biểu tượng và hình tượng. Văn học là loại
hình nghệ thuật phản ánh đời sống bằng các hình tượng nghệ thuật. Biểu
tượng và hình tượng đều có giá trị trong việc phản ánh hiện thực đời sống và
cùng có phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ. Tuy nhiên hai khái niệm này có
những điểm khác nhau.
Sự tồn tại của hình tượng nghệ thuật không bao giờ vượt quá giới hạn
của hình thức biểu đạt cụ thể, nó luôn có phương tiện biểu hiện trọn vẹn nghĩa
của hình tượng. Còn sự tồn tại của biểu tượng thì lại vượt quá giới hạn của
một sự biểu đạt, biểu nghĩa. Nói cách khác không có một phương tiện nào có
thể biểu đạt được trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng.
Hình tượng bao giờ cũng tách riêng hoặc có xu hướng tách riêng ra
khỏi hệ thống nào đó để phù hợp với yêu càu: tự do, hoàn thiện, độc đáo và
khác biệt. Trong khi đó, biểu tượng bao giờ cũng nằm trong một hệ thống
nhất định, không thể tách ra đứng độc lập ừong nhận thức của con người.
cầu này, việc sử dụng các biểu tượng là điều tất yếu. Thông qua biểu tượng
người đọc khám phá ra những tầng ý nghĩa khác nhau qua đó thấy được tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc của các nhà thơ.
15
Bên cạnh đó thơ cũng yêu cầu ngôn ngữ giàu hình ảnh. Hệ thống hình
ảnh trong thơ ngoài ý nghĩa tạo hình còn có ý nghĩa biểu hiện. Nhà thơ dùng
hình ảnh để miêu tả bức tranh đời sống và bức ừanh thiên nhiên, đồng thời
cũng biểu hiện tâm trạng suy nghĩ của mình trước bức tranh hiện thực ấy. Qua
hệ thống hình ảnh quen thuộc, nhà thơ bộc lộ cách cảm, cách nghĩ của mình,
hay nói cách khác là bộc lộ kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo của mình. Tuy
nhiên cũng cần phải nói thêm rằng biểu tượng hình thành trên cơ sở hình ảnh
nhưng không phải hình ảnh nào trong thơ cũng được coi là biểu tượng. Chẳng
hạn khi nói đến các hình ảnh thiên nhiên như: chim, hoa, cây trái, mưa, bão...
trước tiên là hình ảnh thế giới khách quan tồn tại bên ngoài con người, xung
quanh con người. Nhưng ngoài ý nghĩa đó nó còn gửi gắm tư tưởng, tình cảm,
cảm xúc của người nghệ sĩ.
Nói tóm lại việc giải mã các biểu tượng thơ ca là một con đường giúp
người đọc đi vào thế giới tâm hồn hết sức phong phú và độc đáo của người
nghệ sĩ.
1.2. Hành trình sáng tác thơ Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17/4/1948 mất ngày 29/8/1988. Ông sinh tại xã
Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa, tỉnh Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ). Cha là nhà thơ nhà
viết kịch Lưu Quang Thuận quê ở Thành phố Đà Nằng, tỉnh Quảng Nam. Mẹ
là Vũ Thị Khánh nữ sinh trường trung học Đồng Khánh, người Hà Nội gốc.
Lưu Quang Vũ nổi danh khá sớm, là cây bút được ái mộ ngay từ những
sáng tác đàu tay. Hoài Thanh đã sớm phát hiện ra đây là một cây bút trẻ nhiều
triển vọng (35). Trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, Lưu
thơ hồi ẩy. Cũng một cách nhìn đời hồn hậu, lạc quan quay về phía nào cũng
thấy sự hài hòa ưu ái (Vũ Quần Phương) (28). Tình cảm của nhà thơ lúc này
chủ yếu hướng về quê hương đất nước, về mẹ, về em... như một điểm tựa
vững chãi của lòng tin, sự chở che. Đó là hình ảnh thôn Chu Hưng tuy nghèo
khổ, thiếu thốn nhưng ấm áp, nghĩa tình:
17
ơi Chu Hưng đêm nằm nghe suối đổ
Nghe gió ngàn và tiếng hoẵng giữa rừng sâu
ơi Chu Hưng sắn vùi trong bếp đỏ
Ấm những ngày gian khổ khó quên nhau.
(Thôn Chu Hưng)
Có lúc tâm hồn nhà thơ lại được thanh lọc, được tắm mát trong hình
ảnh quê hương yêu dấu như một nỗi ám ảnh khôn nguôi, vừa gần gũi, bình dị,
vừa thiêng liêng, cao vời khi qua Phố huyện:
Ta bước đi thương nhớ những năm nào
ơi cái phổ tuổi thơ, phổ nghèo kháng chiến
Hương đất hương cây bồi hồi bao kỷ niệm.
Quê hương, nơi đó còn có sự hiện diện của người mẹ thân yêu. Tình
cảm biết ơn, yêu kính đối với mẹ được thể hiện qua các bài thơ giai đoạn này
như:
“Áo”, “Thôn Chu Hưng”, “Phố huyện”, “Gửi mẹ”, “Phủ Lý tháng
hai”... Hình ảnh người mẹ hiện lên trong sáng tác của Lưu Quang Vũ thật đẹp:
đảm đang, tháo vát, thương khó, tảo tàn và hơn hết là giàu đức hi sinh:
Mẹ vui vẻ gánh lấy phần khó nhọc
Việc cơ quan, việc Đảng, việc nhà
(Hoi ấm bàn tay)
Có thể nói, trước sau, dấu ấn sâu đậm nhất về một thi sĩ tài hoa, đa cảm
ở Lưu Quang Vũ vẫn là những bài thơ tình. Theo Lưu Khánh Thơ: Lưu
Quang Vũ là một người đàn ông may mắn. Trong cuộc đời long đong vất vả
của anh, hầu như giai đoạn nào anh cũng gặp một tình yêu lớn. Cho dù cải
mà tình cảm đó đem lại có thể là một vết thương, một nỗi đau suốt đời. Lưu
Quang Vũ quan niệm rằng sự sống đầy đủ của cuộc đời con người là ở chỗ
tìm thấy tình yêu mặc dù tình yêu ẩy có thể không ở lại cùng ta suốt cuộc đời
(42.tr.90).
19
Những cảm xúc tò mối tình đầu đã mang đến cho thơ ông hương vị tình
yêu ngọt ngào, say đắm, quyến rũ, đó là khu vườn tình ái đày hương sắc.
Vườn em là một cõi đi về đầy mộng mơ, nơi căng tràn nhựa sống, nơi chứa
bao điều bí ẩn, diệu kỳ:
Vườn em là nơi đọng gió ười xa
Hoa tỉm chìm kêu bàng thưa lá nắng
Con nhện đi về giăng tơ trắng
Trái tròn căng mập nhựa sinh sôi
(Vườn Trong Phố)
Vũ Quần Phương nhận xét đắm đuổi là bản sẳc cảm xúc của Lưu
Quang Vũ. Nó tạo nên sức lôi cuốn ma quái ở thơ anh và cũng tạo nên lắm
vất vả cho đời anh (42,tr.79).
Chất đắm đuối được thể hiện qua tất cả những trang thơ của thi sĩ họ
Lưu, nhưng trong thơ tình có lẽ chất đắm đuối ấy được thể hiện đậm đặc nhất.
Nếu ai đã một lần đọc Ảnh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa sẽ không thể quên được chất
đắm đuối đến mê hoặc ấy:
Anh chỉ sợ rồi trời sẽ mưa
Thậm chí có lúc ông rơi vào tâm trạng trống rỗng, vô nghĩa:
Có những lúc tâm hồn tôi rách nát
Như một chiếc lá khô như một chồng gạch vụn
Một tấm gương chẳng biết soi gì
Một đáy giếng cạn không một hốc mắt đen sì
Trời chật chội như chiếc lồng trổng rỗng.
(Có những lúc)
Nhưng cũng chính những nếm trải ẩm lạnh của thể thái nhân tình (Lý
Hoài Thu) đã giúp Lưu Quang Vũ nhận thức lại. Lúc này thơ ông ừở nên ừầm
lắng hơn, da diết hơn và cũng đau đáu, khắc khoải hơn. Vũ Quần Phương đã