TIỂU LUẬN ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT ĐẾN HỆ VI SINH VẬT ĐẤT - Pdf 37

CHUYÊN ĐỀ:
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG HÓA CHẤT BẢO VỆ
THỰC VẬT TRONG NÔNG NGHIỆP ĐẾN HỆ VI SINH VẬT
ĐẤT
NHÓM 09
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................1
B. NỘI DUNG.....................................................................................................2
I. Thuốc trừ sâu...................................................................................................5
II. Thuốc trừ cỏ………………………………………………………………10
C. TÁC ĐỘNG CỦA HÓA CHẤT BVTV ĐẾN VI SINH VẬT ĐẤT…........14
D. KẾT LUẬN……………………………………………………………......16
E. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………17

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hàng năm trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta và các nước trên thế giới, sâu,
bệnh, cỏ dại (gọi chung là sâu hại) là mối đe dọa lớn và nếu không được tổ chức
phòng trừ tốt, chúng có thể gây tổn thất nghiêm trọng về năng suất cây trồng và
chất lượng nông sản. Bởi vì, thiệt hại do các loại sinh vật hại gây nên đối với cây
trồng trên đồng ruộng có thể làm giảm 20-25% năng suất, có khi lại đến 50%.
Để phòng trừ các loại sinh vật hại nói trên, trong những năm qua chúng ta đã áp
dụng nhiều biện pháp khác nhau. Trong đó, biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật là biện pháp phổ biến và thông dụng nhất trong nền nông nghiệp hiện nay.
Theo thống kê năm 2009 của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay tại
Việt Nam có khoảng 926 tên thương phẩm thuốc trừ sâu và khoảng 400 tên thương
phẩm thuốc trừ cỏ, hàng trăm thương phẩm thuốc trừ bệnh nữa... và con số đó sẽ
không dừng lại ở đây, cách đây 30 năm, số hóa chất bảo vệ thực vật được sử dụng
chỉ có 20 loại. Về chủng loại hóa chất bảo vệ thực vật khá đa dạng, còn về số
lượng cũng gia tăng không ngừng. Năm 1980 lượng hóa chất bảo vệ thực vật sử
dụng ở việt nam khoảng 10.000 tấn /năm, đầu thập niên 90 thế kỉ XX con số này


gây độc đối với cây trồng, có tác dụng xấu(có khi diệt) đến hệ vi sinh vật đất. Điều
này xảy ra thì thật nguy hiểm vì hệ sinh thái đất có thể bị hủy diệt và rất lâu mới có
thể phục hồi được hệ sinh thái này và dù có thể phục hồi lại được cũng không bao
giờ được như cũ.


B. NỘI DUNG
I.

THUỐC TRỪ SÂU

Thuốc trừ sâu là một loại chất được sử dụng để chống côn trùng. Chúng bao gồm
các thuốc diệt trứng và thuốc diệt ấu trùng để diệt trứng và ấu trùng của côn trùng.
Các loại thuốc trừ sâu được sử dụng trong nông nghiệp, y tế, công nghiệp và gia
đình. Việc sử dụng thuốc trừ sâu được cho là một trong các yếu tố chính dẫn tới sự
gia tăng sản lượng nông nghiệp trong thế kỷ 20. Gần như tất cả các loại thuốc trừ
sâu đều có nguy cơ làm tham đổi lớn các hệ sinh thái; nhiều loại thuốc trừ sâu độc
hại với con người; và các loại khác tích tụ lại trong chuỗi thức ăn.
Thuốc trừ sâu ở liều thông dụng thường ít tác động xấu đến quần thể vi sinh vật
đất, nhiều khi ở liều này, thuốc còn kích thích vi sinh vật đất phát triển. Nhưng ở
liều lượng cao, thuốc trừ sâu ảnh hưởng xấu đến vi sinh vật đất, kéo dài thời gian
tác động của thuốc (Raglu & Mac Rae,1967; Tu,1970; Wolfe, 1973). Cũng có loại
thuốc trừ sâu ngay ở liều thấp cũng hạn chế sự gây hại của vi sinh vật đất.
- Phân loại:







ra quá trình bốc hơi và gây mưa, ảnh hưởng lớn đến con ngươi, sinh vật. Lượng
tích lũy trong đất ảnh hưởng rất lớn đến vi sinh vật trong đất. Khi đó hệ sinh thái
của đất có thể bị hủy diệt và khó có thể hồi phục. Một số loài xạ khuẩn có khả năng
phân giải DDT thành dẫn xuất DDD, ở điều kiện yếm khí ngập nước thì DDT bị
phân giải mạnh hơn
b. Actardor 100WP (Imidacloprid)
- Công thức hóa học: C9H10ClN5O2
- Imidacloprid có xuất xứ từ Trung Quốc.
- Cách dùng và liều lượng:thuốc có dạng bột pha nược nên thường phun trực
tiếp lên thực vật và thường được sử dụng với liều lượng 10ml/360 m2 .


Bảng 1:Ảnh hưởng thuốc trừ sâu Actardor 100WP đến vi khuẩn tổng số(10 6
CFU/g đất)
Công thức
CT0
CT1
CT2
CT3

0 ngày
7,96
7,96
7,96
7,96

5 ngày
7,74
6,93
6,80

hoạt chất Imidacloprid và có tăng lên trong ngày thứ 20 đến 30. Đến ngày
thứ 60 thì vi khuẩn trở về mức khá cân bằng với mẫu đối chứng. Điều này
chứng tỏ với mức sử dụng hóa chất BVTV Actardor 100WP ở mức khuyến
cáo chỉ ức chế vi khuẩn trong thời gian ngắn, sau đó có tác động kích thích
vi khuẩn sau 20-30 ngày và ổn định sau 60 ngày sử dụng.
- Trong CT2 với liều lượng cao gấp 5 lần mức khuyến cáo thì vi khuẩn tổng
số giảm so với mẫu đối chứng trong 20 ngày đầu thí nghiệm do tác động ức
chế của Imidacloprid ở nồng độ cao có thể kéo dài hơn, ngày thứ 30 đến 60
tăng không đáng kể so với mẫu đối chứng.
- Trong CT3 với liều lượng cao 100ml/360 m2, thể hiện rõ ràng hơn mức độ
ảnh hưởng của hóa chất BVTV Actardor 100WP đối vi khuẩn. Điều này
chứng tỏ ở liều lượng cao hoạt chất Imidacloprid có thể gây ức chế sự phát
triển của vi khuẩn (vi khuẩn tổng số đều giảm so với mẫu đối chứng). Sau


60 ngày thí nghiệm, vi khuẩn tổng số vẫn giảm và chưa trở lại trạng thái cân
bằng so với mẫu đối chứng (xuống còn 5,71x106 CFU/g đất). Tuy nhiên,
trong ngày thí nghiệm thứ 20 vi khuẩn tổng số vẫn có giảm so với mẫu đối
chứng nhưng lại tăng so với các ngày còn lại trong thí nghiệm. Điều này
chứng tỏ mức độ ảnh hưởng của Actardor 100WP ở liều lượng cao khá phức
tạp, khó xác định.
Bảng 2: Ảnh hưởng của Actardor 100WP tới số lượng xạ khuẩn tổng số
Công thức
CT0
CT1
CT2
CT3

0 ngày
6,82

8,94
8,03
6,13

- Trong mẫu đối chứng CT0 cũng tương tự như vi khuẩn tống số xạ khuẩn
cũng có xu hướng giảm theo thời gian thí nghiệm, tuy nhiên mức biến động
không lớn.
- Trong mẫu thí nghiệm CT1 với mức sử dụng liều lượng Actardor 100WP
10ml/360 m2, ta thấy xạ khuẩn có xu hướng tăng theo thời gian thí nghiệm
so với mẫu đối chứng và vẫn chưa có dấu hiệu suy giảm sau 60 ngày thời
gian thí nghiệm (tăng liên tiếp từ 6,77 x105 đến 8,94 x105 CFU/g đất). Điều
này có thể khẳng định Actardor 100WP ở liều lượng khuyến cáo có khả
năng kích thích sự phát triển của xạ khuẩn.
- Trong mẫu thí nghiệm CT2 với mức liều lượng Actardor 100WP 50ml/360
m2, vẫn thấy tác động tương tự như trong CT1, tuy nhiên mức độ tăng có xu
hướng chậm hơn so với CT0 (tăng từ 6,85 x105 đến 8,03 x105 CFU/g đất).
- Trong mẫu thí nghiệm CT3 với mức sử dụng 100ml/360 m2, lại cho thấy
một diễn biến trái ngược lại so với CT1 và CT2, số lượng xạ khuẩn tổng số
có xu hướng giảm dần theo thời gian thí nghiệm so với mẫu đối chứng (giảm
từ 6,57 x105 xuống còn 5,45 x105 CFU/g đất). Điều này chứng tỏ hóa chất
BVTV Actardor 100WP chỉ có tác dụng kích thích sự phát triển của xạ
khuẩn ở một khoảng nồng độ xác định, ngoài khoảng nồng độ đó lại có tác
dụng ngược lại, ức chế xạ khuẩn phát triển.
c. Chlorofrom


Chlorofrom được coi như là một chất độc đối với môi trường. Trước đây
Chlorofrom còn được sử dụng trong việc gây mê, thường được sử dụng trong phẫu
thuật. Tuy nhiên, người ta nhanh chóng cấm sử dụng vì tính độc của nó, đặt biệt là
khả năng gây ra chứng loạn nhịp tim chết người nhưng sau đó người ta sử dụng

100
100
100

76.2
81.7
88.2
92.4
108.9
116.2
125.8


Thuốc trừ sâu sinh học
Để dạt hiệu quả cao và lâu dài trong BVTV, đồng thời đảm bảo an toàn cho
con người, các sinh vật có ích, tránh gây ô nhiễm môi trường, sử dụng các chế
phẩm sinh học là một hướng đi mới đầy triển vọng.
Ở phương pháp này, người ta dùng các hợp chất có khả năng làm thay đổi
quá trình phát triển sinh học bình thường của từng cá thể hoặc của cả quần thể côn
trùng theo chiều hướng xấu đối với chúng.
Reasegant 3.6 EC
- Liều dùng: 0,15-0,26L/ha.
- Lượng nước: 500-600L/ha.
- Cách pha phun: pha 1 gói cho bình 16L/sào.

Bảng 4: Ảnh hưởng Reasegant 3.6 EC đến vi khuẩn tổng số(106 CFU/g đất)
Công thức
CT0
CT4
CT5



CT6

7,96

4,97

6,57

6,32

6,05

5,81

Trong 5 ngày đầu thí nghiệm ở công thức CT4 có sự giảm nhẹ so với đối chứng
của vi khuẩn tổng số, tuy nhiên ở các công thức CT5 và CT6 có sự giảm đáng kể
của vi khuẩn tổng số. Điều này chứng tỏ sự nhạy cảm của vi khuẩn với nồng độ
cao của hoạt chất Abamectin trong thuốc trừ sâu sinh học Reasegant 3.6 EC. Ngày
thí nghiệm thứ 10, vi khuẩn tổng số có xu hướng trở về cân bằng với mẫu đối
chứng hơn (với mẫu CT4), các mẫu CT5 và CT6 do hoạt chất Abamectin ở nồng
độ cao nên vi khuẩn chưa kịp phục hồi so với mẫu đối chứng. Từ ngày thí nghiệm
20 trở đi, vi khuẩn tổng số ở cả 3 mẫu CT4, CT5 và CT6 khá cân bằng với mẫu đối
chứng (do hoạt chất Abamectin có khả năng phân hủy nhanh trong môi trường có
ánh sáng). Tuy nhiên với mẫu CT6 với mức sử dụng hóa chất gấp 10 lần khuyến
cáo cho thấy khả năng phục hồi cân bằng chậm hơn so với các mẫu sử dụng hóa
chất thấp. Tóm lại, hóa chất BVTV sinh học Reasegant 3.6EC có tác dụng mạnh
đến sinh trưởng và phát triển của vi khuẩn trong những ngày đầu thí nghiệm do
độc tính cấp của hoạt chất Abamectin trong thuốc. Tuy nhiên, vi khuẩn trong đất

6,25
6,50
4,67

30 ngày
6,40
5,87
5,39
5,78

60 ngày
6,32
5,75
5,18
6,20

Trong 5 ngày đầu thí nghiệm cũng thấy sự giảm mạnh của xạ khuẩn tổng số ở cả 3
công thức thí nghiệm và giảm mạnh nhất ở công thức CT6 (mức sử dụng
150mg/360m2).
Ngày thí nghiệm thứ 10 đã thấy sự phục hồi cân bằng so với mẫu đối chứng của
công thức CT4, ở các công thức CT5 và CT6 cho thấy sự phục hồi chậm do tác
động độc tính của Abamectin vẫn còn hiệu lực. Ở ngày thứ 20 và 30 đã thấy sự
phục hổi của mẫu CT5 với mức sử dụng hóa chất gấp 5 lần khuyến cáo (phục hồi


vào ngày thứ 20 và có xu hướng giảm dần do nguồn hữu cơ giảm), tuy nhiên mẫu
CT6 vẫn chưa có khả năng phục hồi so với đối chứng. Tuy nhiên ở ngày thứ 60 số
lượng xạ khuẩn đã được phục hồi của mẫu CT6 với mức sử dụng hóa chất sinh học
cao. Điều đó chứng tỏ Reasegant 3.6EC đã bị phân hủy và không còn tác dụng độc
đối với sinh vật đất.

cho cây trồng.
1. Thuốc trừ cỏ 2,4D: (thuộc nhóm Fenoxy)

2,4 – điclophenoxyaxetic

Thuốc trừ cỏ hoạt chất 2,4 D (trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được
phép sử dụng ở Việt Nam có 21 tên thương mại như AD 600DD, Anco
720DD, Rada 80WP…) là thuốc trừ cỏ chọn lọc, nội hấp, có tác động kích
thích sinh trưởng thực vật, diệt trừ các loại cỏ năn, lác và lá rộng cho các cây
trồng hòa bản như lúa, ngô, mía. Ngoài việc sử dụng trừ cỏ cho cây trồng,


2,4 D còn dùng với liều lượng thấp để kích thích sự phát triển của cây, kích
thích ra rễ trong chiết cành, giâm cành.
Thuốc trừ cỏ hoạt chất 2,4 D thường sử dụng ở dạng muối Natri (Na), amine
và ester. Muối 2,4 D-dimethyl amine độc với mắt, xếp vào nhóm độc I, các
2,4 D khác xếp vào nhóm độc II. Về độ độc cấp tính đối với động vật máu
nóng, trị số LD50 (liều lượng ít nhất có thể gây chết tức thời 50% số cá thể
đối với chuột) của acid 2,4 D là 699mg/kg, muối Na là 500-805 mg/kg, muối
dimethyl amine là 949 mg/kg, các ester khác là 896 mg/kg. Dư lượng tối đa
cho phép của 2,4 D mà không gây hại đến cơ thể người và vật nuôi khi ăn
hạt lúa là 0,5 mg/kg. Thời gian cách ly của 2,4 D được quy định từ ngày
phun thuốc lần cuối đến ngày thu hoạch đối với hạt lúa là 42 ngày.
Trong các sản phẩm 2,4 D thường có một số lượng chất Chloro phenol
không được tổng hợp hết (gọi là Phenol tự do) tạo nên mùi nặng khó chịu
của 2,4 D. Trong tự nhiên, Chlorophenol tồn tại tương đối lâu và có thể
chuyển hóa thành chất Dioxin. Chất Dioxin có khả năng kích thích tế bào
ung thư phát triển, gây đột biến tế bào và dị dạng cơ thể người và động vật
máu nóng. Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới, hàm lượng
Chlorophenol trong các chế phẩm 2,4 D dùng trong nông nghiệp không

( Nguyễn Đường, ĐHNN1,1979, đơn vị 106 /gam trên đất khô kiệt)

Loại
thuốc

Lần
phun

Vsv
Vsv
hảo khí yếm
khí

Nấm

Xạ
khuẩn

Azotobacter Vi
khuẩn
NO3-

2,4D

1

16.69

7.0


0.09

0.17

0.60

1

53.2

3.0

0.07

0.1

0.14

0.03

2

59.7

3.0

0.06

0.13


0.25

Dalapon


2

42.8

4.0

0.07

0.08

0.12

0.21

3

39.6

4.0

0.05

0.06

011

hồi của VSV là chậm.
Dù xử lý bằng phương pháp nào, cuối cùng thuốc BVTV cũng đi vào đất, tồn
tại ở các lớp đất khác nhau, trong các khoảng thời gian không giống nhau.
Trong đất thuốc BVTV thường bị vi sinh vật đất phân giải hay bị đất hấp phụ
(bị sét và mùn hút). Nhưng có nhiều loại thuốc có thời gian phân huỷ dài, khi
dùng liên tục và lâu dài, chúng có thể tích luỹ trong đất một lượng rất lớn.
Thời gian tồn tại của thuốc ở trong đất được gọi là độ bền hóa học (chemical
persistent).Bao giờ tính bền hóa học cũng dài hơn độ bền sinh học. Nhiều hợp
chất hóa học có thể tồn tại dưới dạng liên kết không gây được tác động sinh
học, hoặc tồn ở dạng thông thường, nhưng ở lượng thấp, tuy có thể phát hiện
bằng phương pháp hóa học, nhưng không đủ thể hiện hiệu lực của chúng với
sinh vật.
Tác động của thuốc BVTV đến hệ vi sinh vật (vi sinh vật) đất


Để đánh giá khả năng tồn tại của thuốc trong đất, người ta thường dùng chỉ tiêu
Thời gian bán phân huỷ (half life), được ký hiệu bằng trị số DT50 (Disappeared
time - DT: thời gian bị biến mất): là khoảng thời gian tính bằng giờ, ngày, tuần,
tháng, năm kể từ khi hoạt chất được đưa vào đất đến khi hàm lượng chỉ còn một
nửa lượng thuốc đưa vào.
Trị số DT50 của một loại thuốc phụ thuộc vào bản chất hóa học, các phản ứng
hóa học có thể xảy ra, mức độ hoạt động của vi sinh vật đất và các nhân tố môi
trường (tính chất đất, nhiệt và ẩm độ đất, điều kiện thời tiết). Tuy nhiên trong
những điều kiện xác định, trị số DT50 khá ổn định.
Căn cứ vào trị số DT50, Briggs (1976) chia độ bền của các thuốc BVTV thành
4 nhóm:
1. Rất bền: DT50 > 26 tuần
2. Bền lâu: DT50 = 6-26 tuần
3. It bền: DT50 = 2-6 tuần
4. Không bền: DT50 < 2 tuần

Thuốc trừ bệnh tác động mạnh đến quần thể vi sinh vật đất. Các sinh vật có ích
như vi khuẩn nitrite và nitrate hóa, vi khuẩn phản nitrate, vi khuẩn cố định đạm,
vi khuẩn phân giải chitin rất mẫn cảm với thuốc trừ bệnh (cả thuốc trừ bệnh
xông hơi lẫn thông dụng). Nhiều nấm đối kháng như nấm Trichoderma viride
chống chịu được nhiều loại thuốc trừ bệnh (Ruhloff & Burton 1954;
Martin,1957; Domsh, 1959; Brown, 1978).
Thuốc trừ cỏ tác động rất khác nhau đến quần thể vi sinh vật đất, tuỳ theo loại
thuốc, liều lượng dùng và nhóm sinh vật. Một số thuốc trừ cỏ chỉ tác động xấu
đến một số nhóm vi sinh vật này, nhưng lại ít ảnh hưởng đến các các nhóm vi
sinh vật khác. Thuốc trừ cỏ tác động chọn lọc thường chỉ kìm hãm tạm thời đến
vi sinh vật đất. Sau một thời gian bị ức chế, hoạt động của sinh vật đó lại được
phục hồi, đôi khi một số loài nào đó còn phát triển mạnh hơn trước (Kearney,
1965; Bộ môn Vi sinh, trường Đại học Nông nghiệp I Hà nội,1970). Nhìn
chung, ở liều trừ cỏ, thuốc không tác động xấu đến hoạt động của vi sinh vật đất
(Zemaneck, 1971; Fryer & Kirland, 1970; Nguyễn Trần Oánh, 1983).
D. KẾT LUẬN


Mức độ tác động thuốc bảo vệ thực vật đến vi sinh vật phụ thuộc vào 3 yếu tố
chính đó là:
• Loại thuốc
• Nồng độ sử dụng
• Phương pháp sử dụng
Do đó khi đưa vào môi trường các loại thuốc BVTV ta cần chú ý các yếu tố trên
sao cho phù hợp, nhằm đảm bảo không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tới mức tối
thiểu nhất các tác hại mà thuốc BVTV gây cho vi sinh vật bởi hệ sinh thái vi
sinh vật có vai trò rất quan trọng trong nền nông nghiệp và đó cũng là hệ sinh
thái khó phục hồi nhất khi bị tác động quá mức hoặc nếu có hồi phục lại thì hệ
sinh thái đó cũng không thể trở lại như ban đầu.
E. TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status