MỞ BÀI
Trong cuộc đời của mỗi bản thân con người đều có những mơ ước khác
nhau, nhưng có một ước mơ mà không ai không muốn điều thành hiện thực đó là
“Tiền tài, địa vị, danh vọng”.
Từ ngày xưa trong xã hội phong kiến dưới sự thống trị của các vị vua anh
minh, luôn quan tâm hiền tài và coi trọng hiền tài là nguyên khí của quốc gia, dân
tộc, chính vì vậy hàng năm luôn tổ chức các khoa thi để tuyển chọn nhân tài cho
đất nước, hội thi được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau, từ thi hương, đên thi hội, thi
đình...Ai đỗ đạt sẽ được nhà vua phong cho làm quan... Trống dong, cờ mở về
làng, được triều đình ban cho bổng lộc...Và các quan niệm như “Học để làm
quan, Một người làn quan cả họ được nhờ ” đã thấm sâu vào trong suy nghĩ của
đại đa số người Việt nam cho đến ngày nay.
Chính vì vậy từ thời phong kiến đến nay trong xã hội Việt nam số lượng
người đang giữa chức vụ trong triều đình, nhà nước...Chủ động xin từ quan hoặc từ
chức khi bản thân không còn đủ năng lực, phẩm chất là rất ít, mặc dù trong lịch sử
đã có những trường hợp ngoại lệ nhưng chủ yếu là do lí do bất mãn với công việc
triều chính...Chính vì vậy điều đó chưa trở thành thói quen văn hóa hay nói cách
khác là “Văn hóa từ chức”...
Chính vì những lý do trên tác giả xin mạnh dạn chon đề tài tiều luận “Văn
hóa từ chức ở Việt nam” để từ đó nghiên cứu và đưa ra những giải pháp mang tính
định hướng cho việc hình thành văn hóa từ chức ở Việt nam
NỘI DUNG
1. Một số khái niệm.
1.1.
Văn hóa l à g ì ?
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hóa,
mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau dựa trên nhiều
mặt để định nghĩa ví dụ như dựa trên mặt thuật ngữ khoa học, các định nghĩa miêu
quen đó thì lúc đó thói quen từ chức sẽ trở thành “Văn hóa từ chức” bên cạnh đó
đã là văn hóa thì phải gắn với trình độ nhận thức và sự tự nguyện của người cán
bộ, lãnh đạo. Qua đó người dân đánh giá được văn hoá ứng xử của người có chức
danh. Chúng ta nên cổ xúy cho văn hóa từ chức ở trong chốn quan trường. Đã đến
lúc phải xem hành vi từ chức là hành vi văn hóa, thể hiện lòng tự trọng của con
người”.
2. Mối quan hệ giữa “Văn hóa chính trị ” và “Văn hóa từ chức”
2.1. Thế nào là văn hóa chính trị ?
Văn hoá chính trị, với tư cách là một loại hình của văn hoá là khái niệm nói
về sự thẩm thấu của văn hoá vào chính trị, là chính trị có tính văn hoá. Như vậy,
văn hoá chính trị không phải là bản thân chính trị, bản thân văn hoá, hay là sự cộng
gộp giản đơn hai lĩnh vực này, mà đó là chính trị bao hàm tính văn hoá từ bản chất
bên trong của nó. Biểu hiện của văn hoá chính trị thể hiện ở hai phương diện cơ
bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ phải hướng tới mục
đích cao nhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người,
tạo điều kiện cho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà. Đây là tính nhân
văn sâu sắc của một nền chính trị có văn hoá.
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm trừu
tượng mà phải thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống. Nghĩa là nó phải
thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện qua đường lối chính sách của đảng
cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc triển khai các kế hoạch
cụ thể nhằm phát triển xã hội và phục vụ cuộc sống của cá nhân cũng như của cộng
đồng xã hội.
Văn hoá chính trị làm cho sự tác động của chính trị đến đời sống xã hội
giống như sức mạnh của văn hoá. Đó là loại sức mạnh không dựa vào quyền lực
hay ép buộc mà thông qua cảm hoá, khơi dậy tinh thần sáng tạo, ý thức tự giác của
các tầng lớp xã hội. Việc xây dựng văn hoá chính trị phải chú trọng đồng thời cả ba
triết lý chung chung, thiếu tính khách quan và cơ sở khoa học vững chắc, dễ hài
lòng với mình, tâm lý chạy theo thành tích, “bệnh” hình thức..., nếu như không
được hạn chế, khắc phục kịp thời, sẽ có tác động tiêu cực, bào mòn dần sức sống
và khả năng sáng tạo của văn hoá chính trị Việt Nam.
2.3. Văn hóa chính trị thể hiện trong sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam
Xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh là mục tiêu mang đậm tính văn hóa chính trị nhân văn sâu sắc, mà
đất nước ta, nhân dân ta vươn tới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta.
nét văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện ở các khía cạnh
sau:
Thứ nhất. Về lựa chọn giá trị, Đảng ta khẳng định để xây dựng nền văn hóa
chính trị Việt Nam tiên tiến, hiện đại, cần kế thừa các giá trị văn hóa chính trị
truyền thống tốt đẹp được kết tinh qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kế
thừa các giá trị văn hóa chính trị tinh hoa của các nước trên thế giới, trên cơ sở lấy
chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
nam cho hành động. Chính vì cách lựa chọn giá trị như vậy nên trong bối cảnh các
nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ vào thập kỷ cuối cùng của
thế kỷ XX, Đảng ta vẫn kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đồng thời chủ trương
thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đảng cũng khẳng định chúng ta
“đổi mới” nhưng tuyệt đối không "đổi màu". Bản chất nền chính trị của chúng ta là
khoa học, cách mạng, dân chủ và nhân văn. Đó là nền chính trị phấn đấu vì hạnh
phúc của nhân dân, hướng tới mục đích "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh". Mục tiêu ấy không chỉ phù hợp với nguyện vọng của đông đảo
nhân dân Việt Nam, của lý tưởng xã hội xã hội chủ nghĩa, mà còn là mục tiêu cao
đẹp mà nhân loại tiến bộ hướng tới.
Thứ hai. Trong đường lối xây dựng và phát triển kinh tế, Đảng chủ trương
tế - thương mại song phương, trong đó có toàn bộ các nước, nền kinh tế phát triển,
thị trường lớn. Chúng ta ngày càng hoạt động tích cực và hiệu quả, nâng cao vị thế
đất nước trong các thể chế hợp tác quốc tế.
Thứ năm. xác định “xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt”. Để lãnh đạo
đất nước nắm bắt cơ hội, vượt qua khó khăn, đạt được mục tiêu cao cả đã đề ra,
Đảng - người lãnh đạo đất nước, phải có một đội ngũ cán bộ có văn hóa chính trị
cao, có trình độ và khả năng thực hiện các nội dung chính trị một cách văn hóa.
Chính vì thế, Đảng luôn tiến hành đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội
ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đoàn kết và uy tín của Đảng trong nhân dân.
Bản chất văn hoá chính trị tiến bộ cũng xa lạ với tệ quan liêu, tham nhũng, xa hoa,
lãng phí. Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã tiến hành đổi mới và
chỉnh đốn Đảng, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, giữ vững sự đoàn kết
và uy tín của Đảng, củng cố, và giữ vững niềm tin trong nhân dân. Văn kiện Đại
hội VII của Đảng khẳng định: "Đảng ta coi việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng
cao năng lực lãnh đạo của Đảng là yêu cầu quan trọng hàng đầu trong công tác xây
dựng Đảng, là công việc thường xuyên bảo đảm cho Đảng ta luôn ngang tầm
nhiệm vụ cách mạng" .
Tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi trọng phản biện xã hội, mở
rộng dân chủ trong tất cả các lĩnh vực, xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa... đã tạo nên những tiền đề, động lực quan trọng thúc
đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta ngày càng tiến triển mạnh mẽ.
Phát huy những thành tựu đã đạt được, vượt qua những khó khăn, thách thức
trong quá trình hội nhập quốc tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng
cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, thực hiện tốt an sinh xã hội, giải quyết những
tồn đọng, những vấn đề gây bức xúc trong dân hiện nay..., sẽ là những yếu tố quan
trọng để nâng cao hơn nữa tính văn hóa chính trị trong sự lãnh đạo của Đảng, để
Đảng xứng đáng với tên gọi: "Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.
2.4. Mối quan hệ giữa văn hóa chính trị và văn hóa từ chức
sự chưa có văn hóa từ chức.
-
Chưa có văn hóa từ chức xuất phát từ những nguyên nhân sau đây.
+ Chúng ta chưa xây dựng được chi tiết đề án cải cách chế độ công vụ, công
chức, trong đó có việc nghiên cứu, xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ,
công chức và coi từ chức- thuộc khía cạnh văn hóa của chế độ công vụ.
+ Công tác tổ chức cán bộ của chung ta còn yêu kém, nhất là trong việc giáo
dục, lãnh đạo, quản lý đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý
các cấp thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thực hành liên chính và thiếu gương mẫu,
không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn nhưng hầu như không thấy ai có lời xin
lỗi hay từ chức cả.
+ Chúng tâ chưa có hệ thống pháp luật quy định tõ trach nhiệm, thẩm quyền
của từng vị trí, nhất là đối với lãnh đạo, quản lý nên thiếu cơ sở đề người dân hoặc
các tổ chức, cơ quan giám sát.
+ việc từ chức hiện nay quá khó nên không ai tự nguyện từ chức nên phải có
quy định, đồng thời ở nước ta hiện nay chưa hình thành văn hóa từ chức. Điều đó
có nghĩa là một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa có lòng tự trọng,
thiếu trung thực, ứng xử chưa liêm khiết.
Lý giải cho điều trên có mấy lý do sau đây
Thứ nhất: Chức tước thường đi đôi với quyền lực, thương găn với lợi ích,
bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi. Nên từ chức có nghĩa là sẽ khôn gì cả
Thư Hai: Học để “làm quan” đã ăn sâu, bén rễ trong tâm thức người Việt
Nam và vì thế truyền thống coi “làm quan” là sự thành đạt cao nhất.
Thứ Ba: Dự luận xã hội chưa định hướng và đồng tình hay ủng hộ việc tự
nguyện từ chức. Nếu ai đó là Đảng viên thì viện dẫn đây là nhiệm vụ Đảng giao,
nếu từ chức coi là không có tinh thần đàng viên, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí