“Kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước vân long, huyện gia viễn, tỉnh ninh bình” - Pdf 38

1. Tên đề tài/dự án
“Kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”
2. Lý do chọn đề tài
Năm 2015, ngành Du lịch Việt Nam đã trải qua lịch sử 55 năm trưởng thành và phát
triển. Trong quãng thời gian đó đã ghi nhận nhiều bước thăng trầm của ngành gắn với bối
cảnh phát triển chung của đất nước. Những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của
ngành Du lịch đã góp phần mang lại một số thành tựu quan trọng trong công cuộc phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, đưa Việt Nam trở thành một điểm đến du lịch của nhiều du
khách quốc tế, mang đến cho cộng đồng địa phương nơi có điểm du lịch giải quyết được
nguồn lao động đáng kể để có thêm thu nhập. Tuy nhiên, một thực tế cần được giải quyết
còn tồn tại đến nay đó là việc phát triển du lịch sẽ tạo ra bao nhiêu việc làm cho người dân
nơi có khu du lịch phát triển, và tạo ra bao nhiêu thu nhập cho dân cư địa phương… Chính
vì lẽ đó mà đã có nhiều xu hướng tiếp cận phát triển du lịch khác nhau trong đó có phát triển
du lịch dựa vào cộng đồng.
Hiện nay phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là một hướng tiếp cận mới, ở đó có sự
tham gia của cộng đồng như một đối tác của ngành du lịch; một yêu cầu mới nhằm đảm bảo
sự cân bằng về lợi ích giữa các bên tham gia, cụ thể là: giữa nhà nước và doanh nghiệp du
lịch, cộng đồng và du khách để hướng tới sự phát triển bền vững trong cộng đồng.
Thực tế, các hoạt động du lịch đã và đang chứng minh được rằng cộng đồng dân cư
đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển các dịch vụ cung cấp cho khách du lịch, bảo vệ
tài nguyên môi trường và là chủ thể để phát triển du lịch. Cụ thể: Theo số liệu điều tra của
Tổng cục Thống kê, tổng thu từ du lịch những năm gần đây có sự tăng trưởng vượt bậc khi
năm 2013 đạt tới 200 nghìn tỷ đồng, trong khi năm 2010 mới đạt 96 nghìn tỷ, năm 2005 đạt
30 nghìn tỷ và năm 2000 chỉ đạt 17,4 nghìn tỷ. Tốc độ tăng trưởng của tổng thu từ khách du
lịch đang tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng khách du lịch, đóng góp của ngành Du lịch vào
cơ cấu GDP đất nước ngày càng lớn trong bối cảnh tình hình kinh tế trong nước còn nhiều
khó khăn. Ngành Du lịch cũng đang góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết an sinh xã
hội. Đến năm 2013, ước tính đã có trên 1,7 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch,
trong đó 550 nghìn lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp.
(Nguồn: ).

khai thác quá mức gỗ và củi là mối đe dọa chính đối với đa dạng sinh học và đã dẫn đến
rừng ở khu vực bị phá hủy do cháy hoặc sạt lở đất... Khả năng tái sinh tự nhiên của thảm
rừng cũng bị hạn chế nhiều do hoạt động chăn/thả dê trên các núi đá vôi, hoạt động khai
thác đã cũng đã tác động lớn đến môi trường tự nhiên nơi đây. Và câu hỏi đặt ra là: “Làm
thế nào để bảo tồn, phát huy bền vững những giá trị đang có ở Vân Long, đồng thời phát
huy vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch”. Trên quan điểm của chúng tôi, những
TTS của nghề Công tác xã hội, chúng lựa chọn xây dựng dự án phát triển cộng đồng với chủ
đề: “Kết nối nguồn lực phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn
thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình” để từng bước trả
lời câu hỏi đó với hy vọng nội dung mà chúng tôi nghiên cứu sẽ là một trong những ứng
dụng thiết thực vào thực tế tại nơi đây để cộng đồng địa phương tại khu bảo tồn thiên nhiên
đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình sẽ có phân bổ được nguồn lao
động hợp lý cho hoạt động du lịch và có được nguồn thu tương xứng với những gì họ đầu từ
và để khu du lịch sinh thái đất ngập nước Vân Long luôn phát triển bền vững cả hiện tại và
tương lai.
3. Mục đích nghiên cứu
2


Nghiên cứu nhằm mục đích chính là: là tìm hiểu các hoạt động phát triển du lịch tại
KDL sinh thái Vân Long, các nguồn lực hiện có trong cộng đồng, trên thực tế đó sẽ đề ra
các giải pháp, kết nối nguồn lực trong cộng đồng, nhằm nâng cao mức sống của cộng đồng
địa phương, đồng thời giảm áp lực tới môi trường và tài nguyên du lịch góp phần phát triển
du lịch bền vững tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu can thiệp
Để đạt được mục đích trên thì nhiệm vụ cần hoàn thành là:
- Nghiên cứu và hệ thống lại cơ sở lý thuyết có liên quan về DLST, DLST bền vững,
DLST dựa vào cộng đồng; hệ thống lý thuyết về Phát triển cộng đồng và dựa vào cộng
đồng. Vận dụng được lý thuyết phát triển cộng đồng vào thực hiện đề tài;
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển DLST dựa vào cộng đồng từ các mô hình của

đình để phục vụ khách du lịch có nhu cầu lưu trú; giới thiệu những món ẩm thực truyền
thống của quê hương tới khách du lịch… tuy nhiên nhu cầu này của người dân trong cộng
đồng vẫn còn bị hạn chế bởi nhiều yếu tố khác nhau (nguồn vốn xây dựng cơ sở vật chất
phục vụ khách du lịch, kỹ năng làm du lịch…)
Cần áp dụng mô hình phù hợp phát triển du lịch dựa vào cộng đồng với điều kiện
thực tế tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, mà theo nhóm TTS nhận thấy
đó là phát huy vai trò của TVCĐ trong hoạt động: “Kết nối nguồn lực phát triển du lịch tại
khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”
7. Phương pháp nghiên cứu can thiệp
Để thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu đặt ra, nhóm TTS sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
7.1. Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin cơ bản về hoạt động du lịch cộng đồng ở KDL sinh thái Vân
Long từ các nguồn chính thống như UBND xã Gia Vân, Sở VHTTDL tỉnh Ninh Bình. Các
thông tin này chủ yếu được thu thập từ năm 2014 đến 2015, phục vụ cho công tác phân tích,
trích dẫn tài liệu. Ngoài ra, các dữ liệu được thu thập từ các nguồn như sách, giáo trình, báo,
tạp chí chuyên ngành, các báo cáo, các đề tài nghiên cứu khoa học của tỉnh Ninh Bình, các
thông tin trên mạng Internet.
7.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa được tiến hành tại KDL sinh thái Vân Long. Phương pháp này
nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, xã hội, tìm hiểu giá trị tài nguyên du lịch, dịch
vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch của đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, việc khảo
sát thực địa tại địa phương đã giúp tác giả đánh giá thực trạng hoạt động 13 du lịch cộng
đồng tại địa phương, đó là cơ sở thực tế giúp TTS xác định nhu cầu và nguồn lực hiện có tại
cộng đồng và đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng phù hợp với địa phương.
7.3. Phương pháp Điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện thông qua việc thu thập số liệu bằng
bảng hỏi và phỏng vấn sâu.
Bảng hỏi được thiết kế dành cho hai đối tượng là người dân địa phương có tham gia
hoạt động du lịch và khách du lịch đến Vân Long. Tổng số bảng hỏi khảo sát là: 30 bảng hỏi

lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. [2, Điều
3]
8.1.3. Cơ sở lưu trú du lịch
Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng,
giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu
trú du lịch chủ yếu”. [12, Điều 3]
8.1.4. Du lịch bền vững
Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng
được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch
của tương lai”. [18, Điều 3]
8.1.5. Du lịch sinh thái
Ở Việt Nam vào năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia
về phát triển du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức
5


du lịch thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực
đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng
đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn”.
Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ, năm 1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu
tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi
tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời ta có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương”.
Một định nghĩa khác của Honey (1999) “DLST là du lịch hướng tới những khu vực
nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với
quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiêp
đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyên kích tôn
trọng các giá trị về văn hóa và quyền con người”.
Theo luật du lịch năm 2005 thì: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên
nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển

giải quyết bởi sự đồng hóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồn tại và
hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất và các
hoạt động khác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực
cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.
Cộng đồng còn được hiểu theo nghĩa thông thường là những người có đặc điểm hoặc
mối quan tâm, lợi ích chung. Bao gồm:
- Cộng đồng địa lý: Có cùng địa bàn, cùng lợi ích hoặc cùng mối quan tâm; Có chung đặc
điểm văn hóa – xã hội; Có mối quan hệ giàng buộc.
- Cộng đồng chức năng: Có cùng hoặc không cùng địa phương hoặc địa bàn cư trú; Có cùng
lợi ích (nghề nghiệp, sở thích, hợp tác…)
8.1.11. Phát triển
Theo nghĩa hiểu thông thường Phát triển là quá trình cải thiện về số lượng và chất
lượng, về vật chất và tinh thần nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên
trong cộng đồng.
8.1.12. Phát triển cộng đồng
Khái niệm phát triển cộng đồng được Chính phủ Anh sử dụng đầu tiên, 1940: “Phát
triển Cộng đồng là một chiến lược phát triển nhằm vận động sức dân trong các cộng đồng
nông thôn cũng như đo thị để phối hợp cùng những nỗ lực của nhà nước để cải thiện cơ sở
hạ tầng và tăng khả năng tự lực của cộng đồng”.
Định nghĩa của LHQ, 1956: “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực
của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội,
văn hóa của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hộ nhập và đóng góp vào đời sống
quốc gia”.
Theo ThS Nguyễn Thị Oanh, 1995: “Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm
chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc giáo dục
gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài nguyên sẵn
có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng và củng cố tổ chức và tiến tới tự lực phát
triển”.
8.1.13. Nguồn lực
Trong thực tế, những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc

Cơ sở nền tảng

C: Community

Cộng đồng

D: Development

Phát triển

Nói một cách đơn giản, ABCD tạm dịch là “Phát triển cộng đồng dựa vào tài
sản, nguồn lực tại chỗ”
ABCD là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm kiếm, khám phá và làm rõ những
mặt mạnh trong cộng đồng. Nó như là một phương tiện cho sự phát triển bền vững.
Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là cách tiếp cận nhắm vào năng lực, có
khả năng hay chắc chắn tăng năng lực cho cộng đồng, thúc đẩy người dân tạo ra sự
thay đổi đầy ý nghĩa và tích cực từ bên trong cộng đồng. Thay vì nhắm vào nhu cầu
của cộng đồng, mặt thiếu sót, khiếm khuyết và vấn đề, cách tiếp cận ABCD giúp họ
(cộng đồng) trở nên mạnh mẽ hơn và tự lực tự cường hơn qua khám phá, liệt kê, nhận
dạng (sắp đặt) và huy động tất cả các nguồn lực tại chỗ của họ.
Ít người nhận thức (hiểu biết) có bao nhiêu nguồn lực của một cộng đồng bất kỳ
như:
8


- Kỹ năng của người dân, từ người trẻ đến người khuyết tật, từ người có chuyên
môn, thành đạt đến người nghệ sĩ nghèo,…
- Sự cống hiến, đóng góp của các hội đoàn dân sự như: nhà thờ, các nhóm văn
hóa, câu lạc bộ, hội đồng hương/ hàng xóm,…
- Các nguồn lực từ các tổ chức (thiết chế) chính thức như: kinh tế/ doanh

cộng đồng theo hướng từ bên trong ra: Một hướng đi về tìm kiếm và huy động các tài
sản của cộng đồng”.
9


Phương pháp đã kế thừa và được phát triển từ bài học thực tiễn và một lý thuyết trong
phát triển cộng đồng. Cơ sở của phương pháp ABCD bắt đầu từ một thực tế của các
cộng đồng đã huy động được thế mạnh của mình để phát triển. Phương pháp được tạm
dịch sang tiếng Việt là “Phát triển cộng đồng dựa vào nội lực và do người dân làm
chủ” để tránh nghĩa hẹp về tài sản (Nhà cửa, tiền bạc…) và phù hợp hơn với ngữ cảnh
của Việt Nam.
Tiếp cận ABCD là một trong các phương pháp phát triển cộng đồng được sử
dụng ngày càng phổ biến trong những năm gần đây ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bắt
đầu ở Mỹ, phương pháp này đã lan rộng sang các nước khắp các châu lục như Canada,
Anh, Úc, Newzeland, Ecuador, Kenya,… Nhiều chương trình tập huấn, các mô hình
áp dụng, hội thảo về ABCD đã được tổ chức hàng năm trên thế giới như ở Mỹ,
Canada, Austraylia, thu hút nhiều chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách trao
đổi về lý luận và thực hành của phương pháp ABCD: năm 2008 hội thảo về ABCD
Châu Á – Thái Bình Dương được tổ chức tại trường đại học tổng hợp Newcaste,
Austraylia; năm 2009 một hội thảo khác về ABCD cũng được học viện quốc tế Coady,
Canada tập huấn cho cựu học sinh IFP và một số cán bộ của các tổ chức phi chính phủ
và cơ quan nhà nước với sự tài trợ của trung tâm trao đổi giáo dục với Việt
Nam(CEEVN) năm 2006 tại Đại học An Giang. Cho đến nay Học viện Quốc tế Coady
đã đào tạo cho Việt Nam hơn hai mươi người là cán bộ từ các cơ quan nhà nước và tổ
chức phi chính phủ. Nhiều khóa học, hội thảo, tư vấn, nghiên cứu về phương pháp
ABCD đã được thực hiện tại một số tỉnh thành trong cả nước như Trung tâm Nghiên
cứu – Tư ván Công tác xã hội và Phát triển cộng đồng (SDRC) tại Thành phố Hồ Chí
Minh, Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc và Đại học Tây Bắc tại
tỉnh Sơn La, tổ chức CRS tổ chức tại Hà Nội, Thanh Hóa, Trung tâm nghiên cứu và
quản lý tài nguyên tại Huế, Hội người khuyết tật thành phố Cần Thơ, UBND tỉnh

coi nhu cầu, sự thiếu hụt và các vấn đề là thực tế toàn bộ hiện trạng của cộng đồng. Phương
pháp “tiếp cận theo nhu cầu” đã từng được các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ sử
dụng và dùng các hỗ trợ từ bên ngoài (tài chính, kỹ thuật…) để đáp ứng nhu cầu cộng đồng
và thực hiện sứ mệnh hoặc chủ định của tổ chức mình hay của nhà tài trợ. Khác với các
phương pháp ấy, ABCD giúp chúng ta có thể nhìn thấy các điểm mạnh, các tiềm năng của
cộng đồng và lấy chúng làm đòn bẩy đề khơi dậy và hướng dẫn người dân phát triển cộng
đồng của họ.
Phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực nhìn nhận khả năng của người dân và các
tổ chức tự nguyện của họ là nguồn lực xây lên một cộng đồng mạnh mẽ. Với cách nhìn này,
cộng đồng có thể gắn kết các sức mạnh theo một khối tổng hòa mới, các cơ hội mới, các
nguồn thu nhập và các khả năng mới khác cho phát triển sản xuất và phát
triển cộng đồng. “Đối tượng thụ hưởng”có các nhu cầu và thiếu hụt “ Người công dân” có
các năng lực và khả năng thiên phú.
Tóm lại: nguyên lý chung của Phương pháp tiếp cận ABCD là một cách tiếp cận mới
trong phát triển cộng động mang tính tích cực, bắt đầu từ việc khơi dậy và phát huy những
điểm mạnh, năng lực vốn có và thành công của cộng đồng làm điểm bắt đầu của sự thay đổi.
Từ đó xây dựng một tầm nhìn dài hạn cho cộng đồng với các kế hoạch phát triển cộng đồng
cụ thể, phù hợp với các nguồn lực sẵn có. Một chiến lược cho sự phát triển bền vững: Phát
triển vận động từ bên trong ra, dựa vào nội lực trước khi tìm kiếm các hỗ trợ từ bên ngoài,
liên kết nguồn lực bên trong với môi trường bên ngoài.
Nội lực của cộng đồng gồm năm nguồn lực chính: con người, tài chính, cơ sở
vật chất-hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên và vốn xã hội. Tài sản xã hội được đưa
vào trọng tâm của huy động nội lực, tập trung vào các mối liên kết và năng lực
hợp tác của các nhóm, tổ chức trong cộng đồng.
11


Cơ sở chủ yếu của phương pháp là sự tham gia của người dân như một công dân tích
cực.
Các tổ chức bên ngoài cộng đồng (như các tổ chức phi chính phủ, cơ quan phát

tham gia vào hoạt động BVMT và tài nguyên vùng đảo.
Đến nay, du lịch sinh thái Cù Lao Chàm đã nâng lên một tầm mới. Nơi đây thực sự trở
thành sản phẩm mục tiêu trong phát triển du lịch của Hội An và Quảng Nam. Tại điểm cuối
của vùng hạ lưu, các sản vật được chuyển vào đất liền hoặc phục vụ du lịch trên đảo bao
gồm các sản phẩm thủy sản, cua đá, lá rừng, võng ngô đồng...Tuy nhiên các sản vật tự nhiên
12


này đang ngày càng bị suy giảm và bài toán cần được cần được các nhà quản lý tính đến là:
Phát triển du lịch sinh thái phải đi đôi với bảo tồn nguồn lực tự nhiên.
Chú trọng bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi tự nhiên KBT biển Cù Lao Chàm
Phát triển du lịch sinh thái luôn gắn liền mật thiết với đời sống kinh tế của người dân địa
phương. Vì vậy, phát triển du lịch sinh thái chính là sinh kế tích cực của địa phương. Như
vậy, sinh kế cộng đồng phải dựa trên 5 nguồn lực bao gồm: Tự nhiên, xã hội, con người, tài
chính, vật chất và cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên nguồn lực tự nhiên của KBT biển đang bị suy
giảm nghiêm trọng, cần phải được bảo vệ, bảo tồn.
Các hệ sinh thái rạn san hô, thảm cỏ biển, quần cư rong biển, rừng tự nhiên, bãi cát…là
nguồn lực tự nhiênquan trọng hỗ trợ cho sự phát triển du lịch sinh thái Cù Lao Chàm - Hội
An. Theo số liệu thống kê, KBT biển có 736 loài thuộc 263 giống của các nhóm sinh vật chủ
yếu trong hệ sinh thái rạn san hô, cụ thể: Cỏ biển có 5 loài thuộc 3 giống, rong biển kích
thước lớn có 76 loài thuộc 46 giống, san hô tạo rạn có 277 loài thuộc 40 giống, cá rạn san hô
có 270 loài thuộc 105 giống, thân mềm có 97 loài thuộc 61 giống và da gai có 11 loài thuộc
8 giống. Hiện nay, một số loài này bị suy giảm nghiêm trọng do hiện tượng chất lượng nước
bị ô nhiễm. Tình trạng mở đường quanh đảo, xây dựng bờ kè, sửa chữa tàu, thuyền và các
công trình hạ tầng hay việc xả rác thải bữa bãi cũng là một trong những nguyên nhân tác
động đến các vùng rạn san hô.
Bên cạnh đó, việc khai thác nguồn lợi thủy sản quá mức và sử dụng các phương pháp
đánh bắt mang tính hủy diệt, không bền vững của các ngư dân đang làm cho nguồn lợi hải
sản ở khu vực này bị suy giảm và có xu hướng cạn kiệt. Biểu hiện qua số lượng cá thể giảm
dần, kích thước cá thể bé dần. Đây là thách thức lớn đối với nguồn lực tự nhiên phục vụ phát

Xe máy vận chuyển khác
3
Hộ Homestay
4
Hộ vận chuyển bằng thuyền
5
Hàng lưu niệm
6
Hàng thủy sản khô
7
Bánh ít
8
Nước giải khát
9
Bán thủy sản tươi sống
10
Quần áo lưu niệm
11
Mặt hàng khác
12
Số lao động gián tiếp (tùy mùa vụ)
Tổng cộng:

Sô hộ
16
32
40
18
7
16

24
24
12
20
100
485

Ngoài ra, BQL KBT biển đã đẩy mạnh việc tuyên truyền nâng cao nhận thức và năng lực
cộng đồng, nghiên cứu khoa học, phối kết hợp các bên liên quan để bảo tồn nguồn lợi tự
nhiên KBT biển Cù Lao Chàm. Bên cạnh đó, BQL KBT biển đã thực hiện phân vùng chức
năng trong KBT nhằm sử dụng hợp lý nguồn lợi tài nguyên của đảo. Đồng thời, cộng đồng
dân cư xung quanh KBT đã có các cam kết trong công tác bảo tồn và phát triển du lịch sinh
thái.
8.2.3. Mô hình phát triển Du lịch cộng đồng tại Bản Lác, Mai Châu, Hòa Bình
Đặc điểm của Bản Lác
Bản Lác là một bản miền núi thuộc xã Chiềng Châu huyện Mai Châu., cách thủ đô
Hà Nội khoảng 140 km. Cộng đồng cư trú ở đây chủ yếu là người Thái trắng. Người Thái
trắng sinh sống ở bản Lác có nền văn hóa phát triển lâu đời, họ đã định cư ở bản Lác trên
700 năm, gồm 5 dòng họ Hà, Lò, Vì, Mác, Lộc, đến nay còn lưu giữ được nhiều giá trị văn
hóa đặc sắc như: trang phục của người phụ nữ Thái, phong tục đón khách của dân tộc Thái,
cộng đồng người Thái, văn hóa ẩm thực… Toàn huyện hiện có 12 di tích, danh thắng, trong
đó có 5 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia. Ngoài ra, Mai Châu còn là địa
phương lưu giữ kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với những nét đặc trưng của dân tộc
Thái, Mông qua các hoạt động của người xưa trong các lễ hội, như: lễ hội “Cầu mưa”, lễ hội
14


“Chá chiêng” của dân tộc Thái và lễ hội “Gầu tào” của dân tộc Mông… Hoạt động du lịch
cộng đồng tại bản Lác Trước đây dân bản chỉ sống dựa vào nghề trồng lúa, làm nương và
dệt thổ cẩm. Sau này, vẻ đẹp tiềm ẩn của Bản Lác đã dần được du khách khám phá. Vào

Từ đặc điểm của các mô hình đã nêu ở trên, Nhóm TTS đã chọn mô hình ABCD là
mô hình mẫu để áp dụng phát triển cộng đồng tại cơ sở thực hành. Bởi mô hình ABCD bao
phủ khá đầy đủ các yếu trong nguyên tắc trong phát triển cộng đồng và phát huy tối đa được
15


nguồn lực của cộng đồng về cả vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn
xã hội và vốn văn hóa truyền thống của địa phương; đồng thời đảm bảo lợi ích của các bên
khi tham gia hoạt động phát triển du lịch tại cộng đồng, đồng thời rút kinh nghiệm từ các
nhược điểm mà hai mô hình đã áp dụng từ thực tiễn ở Việt Nam được nêu ở trên như:
- Cộng đồng địa phương có trách nhiệm quản lý các hoạt động du lịch nhưng nguồn
khách phần lớn phụ thuộc vào các công ty lữ hành sắp xếp và bố trí.
- Hoạt động dịch vụ du lịch chưa có cơ quan quản lý hướng dẫn, đào tạo và giúp đỡ.
Mỗi hộ phải tự tổ chức các dịch vụ và liên hệ với các công ty lữ hành để đón khách.
- Cộng đồng không được hỗ trợ về tài chính và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng
đồng của các tổ chức trong và ngoài nước. Cộng đồng địa phương chưa có sự hỗ trợ về đào
tạo ngoại ngữ, kỹ năng đón tiếp khách và nấu ăn.
- Nguồn thu từ hoạt động du lịch tại địa điểm du lịch chưa được tái đầu tư
- Vấn đề bảo tồn, bảo vệ tài nguyên và bản sắc văn hóa truyền thống chưa được quan
tâm đúng mức... để tránh lặp lại những nhược điểm đó trong quá trình triển khai hoạt động
thực tiễn với điểm điểm mà nhóm TTS sẽ thực hành.
8.4. Tiêu chí xây dựng mô hình du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng tại khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nước Vân Long, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
- Người dân nên được tham gia vào quá trình lên kế hoạch và quản lý hoạt động du
lịch tại cộng đồng;
- Hoạt động du lịch này phải mang lại lợi ích một cách công bằng cho cộng đồng;
- Hoạt động du lịch này nên bao gồm tất cả các thành viên của cộng đồng hơn chỉ là
sự tham gia của một vài thành viên;
- Quan tâm đến sự bền vững của môi trường;
- Mọi hoạt động du lịch sinh thái cộng đồng phải tôn trọng nền văn hoá và các "cấu

cư sinh sống và đồng thời là đất canh tác nông nghiệp. Khu vực dân cư phân bố xen kẽ với
những cánh đồng.
Vùng đất ngập nước. Vùng này phân bố sát núi đá vôi, là nơi chuyển tiếp giữa vùng
đồng bằng nổi cao và vùng núi đá vôi, tạo thành một dải chạy bao quanh dãy núi đá vôi.
Vùng núi cao. Phân bố ở phía bắc, tây bắc khu vực Vân Long, kéo dài thành một dải
bao bọc lấy khu đất ngập nước, tạo nên bức tranh thủy mặc rất hữu tình và đa dạng. Nhiều
khối đá vôi do quá trình karst nên bị chia cắt mạnh, có nơi tạo nên những núi tai mèo khá
sắc nhọn. Giữa các khối núi đá vôi là các thung lũng karst tương đối bằng phẳng hoặc là
những cánh đồng nước xen kẽ. Ngoài ra còn có các hang động ngầm, phân bố trong các khối
đá vôi, tạo nên những bức tranh đa màu sắc. Các hang động trong khu vực Vân Long nổi
tiếng với các nhũ đá, măng đá, cột đá, rèm đá… đa dạng về kích thước và màu sắc.
9.1.3. Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Vân Long nằm ở phía Tây Nam châu thổ sông Hồng, chịu ảnh hưởng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa với sự phân hoá sâu sắc giữa các mùa trong năm. Nhiệt độ trung bình năm
khá cao và tương đối đồng đều: 23,3 0 C – 23,40C, độ ẩm dao động 84-85%. Mùa lạnh
thường tới sớm vào cuối tháng 11 và kết thúc muộn vào đầu tháng 3 (số ngày lạnh trung
bình từ 50 – 60 ngày) chủ yếu do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Tháng lạnh nhất là
tháng 1, xong cũng có năm là tháng 12. Nhiệt độ thấp nhất có thể xuống tới 5-6 oC và mỗi
đợt có thể kéo dài 5 -7 ngày. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 3. Nhiệt độ trung bình nóng nhất
vào tháng 7 (≥290C). Khu vực này ít chịu ảnh hưởng của gió Lào mà phần lớn là gió mùa
Đông Nam.
Lượng mưa ở mức trung bình (1800 – 1900 mm/năm) phân bố không đều giữa các
mùa. Mùa mưa từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 10, chiếm tới 88 -99% tổng lượng mưa hàng
năm. Mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có ngày mưa tới 451 mm.
Có 3 hệ thống sông lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ thủy văn trong vùng: Sông
Đáy, sông Bôi, sông Hoàng Long, các con sông này có độ dốc nhỏ, nhiều uốn khúc quanh
co, lại có nhiều sông nhỏ nối tạo nên một mạng lưới khá dày đặc. Các hang xuyên thủy động
là một trong những nhân tố duy trì sự ổn định của độ ẩm, chế độ nước cho khu vực. Tuyến
đê bao khu đất ngập nước Vân Long tạo ra sự khác biệt về chế độ thủy văn giữa trong đê và
ngoài đê. Ngoài ra trong khu bảo tồn còn có một số con suối nhỏ chảy vào đầm Vân Long


Gia
Thanh

Tổng
cộng

Kinh

Kinh

Kinh

Kinh

Kinh

Kinh

Kinh

Kinh

1

Dân tộc

2

Số hộ

7.848

5.465

7.021

8.109

5.889

46.257

- Nam

3.089

2.553

3.721

2.542

3.313

3.811

2.709

21.738



3.568

2.542

20.460

- Nam

1.439

1.211

1.724

1.140

1.488

1.748

1.240

9.990

- Nữ

1.516

1.261


5

Mật độ
dân số

Ng/Km2

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Gia Viễn 2011)
Theo thống kê của UBND huyện Gia Viễn tổng số nhân khẩu 7 xã (năm 2011) của
KDL sinh thái Vân Long là 46.257 người/11.205 hộ. Mật độ dân số là 655 người/km2 tập
trung chính ở những nơi đất trồng lúa. Xã có dân số đông nhất là xã Gia Tân (8.109
người/1.802 hộ). Trung tâm của khu du lịch sinh thái là Gia Vân có 5.465 khẩu.
Thực tế cho thấy số người bình quân trong một hộ thấp, chỉ khoảng 4 người/1 hộ. Chỉ
trừ vài xóm kinh tế mới của xã Gia Hòa là khá đông (bình quân 5-6 người/hộ). Hiện tại
trong vùng lõi của khu bảo tồn vẫn còn 400 hộ với khoảng 2.500 nhân khẩu đang sinh sống
thuộc 5 thôn: Hoa Tiên, Cọt (xã Gia Hưng), vườn Thị, đồi Ngô, Gọng Vó (Gia Hòa). Tuy đã
chuyển một số hộ gia đình vào sâu trong các thung lũng để khai hoang, nhưng mật độ dân số
trung bình ở khu vực này còn rất cao 530 người/km2 , song sự phân bố dân cư lại không
đồng đều theo địa bàn các xã. Tại các xã có ít ruộng canh tác thì mật độ dân số cao, nhưng
các xã có nhiều đất ruộng và nhất là đất chưa sử dụng (như vùng núi đá, đầm lầy) thì mật độ
giảm nhiều so với mật độ trung bình toàn vùng. Mặt khác, do hệ thống cơ sở hạ tầng về
đường giao thông, thủy lợi, điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn do đó mật độ dân số ở
khu vực này có giảm hơn so với các vùng khác.
Toàn khu vực có 20.460 lao động, chiếm 44% dân số. Trong đó lao động nữ là
10.470 người (chiếm 51% lực lượng lao động).
Trong số 20.460 lao động được phân theo ngành nghề như sau:
19



chống được lũ và giúp nông dân tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp. Đồng thời các công
trình này cũng có tác dụng giữ nước để tạo điều kiện bảo tồn đa dạng sinh học đất ngập
nước và phục vụ du lịch.
Hệ thống cấp nước sạch nhìn chung còn trong tình trạng yếu. Phần lớn nước sinh hoạt
chưa đảm bảo vệ sinh an toàn, chưa được xử lý trước khi đưa vào sử dụng.
*. Thoát nước bẩn và vệ sinh môi trường
20


Hệ thống thoát nước chưa có, hiện nay nước mưa và nước thải chủ yếu thoát ngay ra
các khu vực xung quanh và tập chung vào các ao, kênh mương hiện có trong khu vực dân
cư, gây ảnh hưởng tới nguồn nước và môi trường của các khu vực xung quanh.
Rác thải: chủ yếu là rác thải sinh hoạt trong khu vực dân cư hiện nay cũng chưa được
thu gom và xử lý. Vệ sinh môi trường bước đầu có sự quản lý của địa phương và các thôn
xóm, song làng xóm chưa được sạch đẹp chưa đáp ứng yêu cầu phục vụ khách du lịch.
Môi trường trong KDL chưa thực sự trong lành do ảnh hưởng khí thải của các nhà
máy trong khu công nghiệp Gián Khẩu nằm liền kề KDL.
*. Cơ cấu kinh tế
Trong KDL sinh thái Vân Long nông nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn với hai ngành
chính là trồng trọt và chăn nuôi. Ngoài ra còn phát triển ngành thương mại và du lịch, nhưng
các hoạt động còn mới bước đầu đi vào hoạt động, chưa tương xứng với tiềm năng của khu
du lịch.
Ngành nông nghiệp:
- Trồng trọt: Hiện nay trong khu vực về cơ cấu cây trồng lương thực khá đơn giản,
các cây chính ngoài lúa nước, sắn và rau đậu các loại, cây công nghiêp ngắn ngày chiếm tỷ
lệ rất ít. Kinh tế của các hộ gia đình phần lớn đều phục thuộc vào sản xuất nông nghiệp,
trong đó canh tác cây lúa nước đóng vai trò quan trọng nhât. Diện tích lúa nước chiếm
35,6% diện tích đất canh tác trong khu vực, ở phía ngoài đê Đầm Cút chiếm khoảng 65%,
còn lại 35% diện tích ở bên trong khu bảo tồn và chủ yếu là diện tích lúa 1 vụ. Phân bố chủ
yếu ven chân núi đá vôi, kéo dài từ núi Cận xã Gia Hưng qua thôn Cọt, đồi Ngô, Gọng Vó

- Thương mại và du lịch: Trên các khu vực xã vùng đệm có 207 cơ sở tham gia vào
hoạt động dịch vụ thương mại, số lao động tham gia chiếm 12% số lao động trong khu vực.
Hiện nay tại các xã như Gia Vân, Gia Thanh, Gia Hưng hoạt động du lịch đã dần từng bước
phát triển, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong xã.
9.2. Nhu cầu của người dân trong cộng đồng với hoạt động tham gia phát triển du lịch
tại khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long
Như chúng ta đã biết, hoạt động du lịch có thể cung cấp công việc trực tiếp đến người
dân tại cộng đồng nơi có điểm du lịch phát triển và từ đó thu nhập của người dân cũng có
thể được cải thiện khi tham gia vào các hoạt động du lịch như: chèo thuyền, trông xe, bán
hàng, hướng dẫn viên du lịch… Chính vì những lí do đó mà đa phần người dân được hỏi đều
thể hiện nhu cầu được tham gia vào hoạt động phát triển du lịch tại cộng đồng phù hợp với
điều kiện của bản thân và gia đình họ.
9.3.Những biện pháp mà địa phương đã thực hiện để phát triển du lịch tại cộng đồng
9.3.1.Chính sách phát triển du lịch
Trên cơ sở các nghiên cứu, điều tra tài nguyên về đa dạng sinh học khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nước Vân Long, UBND tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định 2888/QĐ-UBND
ngày 18/12/2001 thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long. Mục tiêu chủ
yếu là để bảo tồn hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, hệ sinh thái đất ngập nước nội đồng điển
hình của vùng châu thổ sông Hồng và loài voọc quần đùi trắng, một loài linh trưởng đặc hữu
của Việt Nam đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp, hiện chỉ phân bố ở vùng núi đá vôi
tam giác Thanh Hóa, Ninh Bình và Hòa Bình. Đây là một trong những tiền đề để Bộ Khoa
học & Công nghệ công nhận Vân Long là một trong những Khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất
đồng bằng Bắc Bộ. Sau khi các Quyết định đó được ban hành, Khu bảo tồn đã nhận được sự
quan tâm, chỉ đạo xây dựng các chương trình, kế hoạch, các định hướng phát triển và bảo vệ
tài nguyên trong khu vực. Điều này là một trong những thuận lợi tạo điều kiện cho du lịch
tại Vân Long phát triển. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2010,
22


định hướng đến 2015 đã xác định Khu du lịch sinh thái Vân Long là một trong bảy không

thuật và sản phẩm du lịch, từ việc tăng cường quản lý nhà nước về du lịch đến phát triển thị
trường, đẩy mạnh quảng bá và xúc tiến du lịch, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực du lịch. Trong đó một trong những sản phẩm du lịch Ninh Bình hướng tới là phát
triển loại hình du lịch nghỉ tại nhà dân (homestay).
Trên chủ trương này, UBND tỉnh Ninh Bình đã giao cho Sở Văn hóa, Thể thao & Du
lịch xây dựng Dự án phát triển loại hình du lịch homestay tại Vân Long. Đồng thời UBND
tỉnh Ninh Bình cũng chỉ đạo Sở Xây dựng thiết kế các mẫu nhà theo mẫu nhà truyền thống
23


của người dân đồng bằng Bắc Bộ cung cấp miễn phí cho người dân trong các khu, điểm du
lịch trên địa bàn tỉnh để khuyến khích phát triển du lịch homestay. Những chính sách này đã
góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch tại Vân Long ngày càng phát triển, đặc biệt là phát triển
về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Các chính sách và chương trình phát triển du lịch
của tỉnh trong thời gian vừa qua bước đầu đã tạo động lực cho sự phát triển du lịch Ninh
Bình nói chung, KDL sinh thái Vân Long nói riêng, từng bước chuyên nghiệp hóa, góp phần
không nhỏ nâng cao hình ảnh, vị thế du lịch Ninh Bình trên thị trường du lịch trong nước và
quốc tế.
Tuy nhiên, cộng đồng chưa được đầu tư cụ thể về cơ sở lý luận, chưa có công trình
nghiên cứu theo chiều sâu về phương thức hoạt động du lịch cộng đồng. Công tác xúc tiến,
quảng bá du lịch Vân Long đã được chú trọng nhưng chưa đạt hiệu quả. Các ấn phẩm về
Vân Long chưa đa dạng phong phú. Đây là hạn chế lớn để phát triển du lịch cộng đồng tại
KDL sinh thái Vân Long.
9.3.2. Xúc tiến, quảng bá du lịch
Trong những năm qua các cơ quan ban ngành, các cấp ở địa phương đã tiến hành
nhiều hoạt động xúc tiến, quảng bá KDL sinh thái Vân Long nói riêng và du lịch Ninh Bình
nói chung đến du khách trong và ngoài nước. Các hình thức quảng bá du 54 lịch chính là tổ
chức các lễ hội hằng năm; mời các hãng lữ hành ở các địa phương lớn đến Ninh Bình và
Vân Long khảo sát xây dựng các chương trình du lịch; tham gia các hội chợ trong nước và
quốc tế; quảng bá hình ảnh du lịch Vân Long và Ninh Bình trên các thông tin đại chúng,

các KBT đất ngập nước từ năm 2001 và là KBT lớn nhất châu thổ Bắc Bộ. Nơi lưu giữ
nhiều nguồn gen quý của động, thực vật và vi sinh vật, đồng thời là địa bàn với nhiều cảnh
quan đẹp, danh thắng hấp dẫn, di tích lịch sử văn hoá có giá trị. Đây là lợi thế quan trọng,
tạo tiền đề phát triển du lịch trong đó có du lịch cộng đồng, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát
triển ngành du lịch Ninh Bình trong thời gian tới.
9.4.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Đa dạng sinh học
Kết quả nghiên cứu điều tra gần đây nhất năm 2010 của Ban Quản lý rừng đặc dụng
Hoa Lư - Vân Long cho thấy số lượng loài của khu hệ thực vật sống trên cạn có 687 loài,
thuộc 451 chi, 144 họ. Thực vật hạt trần có cây tuế, cây gấm. Thực vật hạt kín một lá mầm
và hai lá mầm có rất nhiều loại. Thực vật thuộc nhóm cây gỗ vẫn còn gặp nhiều như: cây
nhội, lộc vừng, sung, ghè, chân chim, thàn mát, thị, đa, nghiến, lim, lát hoa… Trong nhóm
cây gỗ có nhiều loài quý hiếm, đặc biệt đây cũng là nơi phân bổ của loại cây sưa Bắc Bộ hay
còn gọi là gỗ huê - một loài cây quý hiếm có giá trị cao về kinh tế. Các loài cây bụi phổ biến
có: ô rô, duối, cò ke, bùng bục… Các loài cỏ có: cỏ lào, cỏ tranh, cỏ lam…
Trong số các loài cây sống trên núi đá vôi còn phải kể đến nhóm các loài cây làm
thuốc, có đến 266 loài. Cây bụi có: cây ương rồng, cây vú bò, cây ké hoa vàng, cây cơm
nguội… Cây cỏ có: cây rau má, hà thủ ô trắng, rau tàu bay, cây thuốc bỏng. Cây gỗ có: cây
núc nác, cây cánh kiến, cây sấu, cây sung, cây đề, cây gạo… Nhóm các loài cây cảnh có tới
20 loài có giá trị như: cây lan, cây si, cây sanh, cây dương xỉ, cây thông đất, cây tuế… Các
loài thực vật thuỷ sinh Với gần 1000 ha diện tích đất ngập nước và bán ngập nước đang ở
trạng thái tự nhiên hoang dã, giới khoa học đã thống kê được 39 loài thực vật thuỷ sinh. Loài
quyết thực vật có: cây hẹ nước, cây rau bợ, bèo ong. Loài cây một lá mầm có: bèo cái, bèo
tấm, cói, rau muống; Cây thuộc hai lá mầm có: sen, súng, cây treng, cây ấu… Các cây thuỷ
sinh phát triển mạnh vào mùa hè, về mùa đông thời tiết lạnh, nước cạn phát triển chậm. Các
loài thực vật thủy sinh không chỉ là thành phần rất quan trọng ở Vân Long nó còn là nhân tố
không thể thiếu của tất cả các khu đất ngập nước thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status