ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
TRẦN ĐĂNG KHOA
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
QUA MỘT SỐ CHỈ TIÊU NHÂN TRẮC
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI
PHƯỜNG PHƯỚC VĨNH – THÀNH PHỐ HUẾ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA
HUẾ, 2010
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ....................................................................................................
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU...............................................................
1.1. Sơ lược lịch sự nhân trắc học thế giới..........................................................
1.2. Tình hình nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam.........................................
1.3.Các chỉ số nhân trắc đánh giá tình trạng dinh dưỡng....................................
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................
2.1. Đối tượng nghiên cứu...................................................................................
2.2. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................
3.1. Các chỉ tiêu nhân trắc...................................................................................
3.2. Các chỉ số dinh dưỡng và thể lực.................................................................
Chương 4. BÀN LUẬN.....................................................................................
4.1. Các chỉ tiêu nhân trắc...................................................................................
4.2. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và thể lực...................................................
KẾT LUẬN........................................................................................................
được ứng dụng vào thực tế một cách phù hợp với đời sống sinh hoạt hằng
2
ngày. Ở nước ta, sau hoà bình lập lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về
nhân trắc đối với nhiều đối tượng lứa tuổi người lớn cũng như trẻ em.
Năm 1975, các chuẩn mẫu chỉ số nhân trắc của người Việt Nam được
đưa vào số liệu tham khảo qua đề tài “Hằng số sinh học người Việt Nam” do
giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên [25]. Bước đến năm 1986, số đo
nhân trắc theo chuẩn mẫu tham khảo thứ hai được trình bày trong “Atlat nhân
trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do giáo sư Võ Hưng và
cộng sự biên soạn.
Đến đầu thập kỉ 90 của thế kỷ XX, các số đo nhân trắc theo chuẩn mẫu
tham khảo thứ ba đã ra đời do GS. Trịnh Văn Minh tổng kết tr báo cáo toàn
văn: "Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam bình thường ở
thấp kỷ 90" [10].
Sự phát triển kinh tế xã hội về mọi mặt làm cho tuổi thọ con người
ngày càng được kéo dài, bên cạnh đó những bệnh lý liên quan đến tình trạng
dinh dưỡng của người cao tuổi đã xuất hiện với những tính chất ngày càng
phức tạp hơn. Việc tìm hiểu các yếu tố có liên quan đến dinh dưỡng người
cao tuổi trở nên rất cần thiết.
Sự phát triển kinh tế xãhội về mọi mặt làm cho tuổi thọ của con người
ngày càng kéo dài, bên cạnh đó những bệnh lý liên quan đến tình trạng dinh
dưỡng của người cao tuổi đã xuất hiện với những tính chất ngày càng phức
tạp hơn.
Vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá
tình trạng dinh dưỡng qua một số chỉ tiêu nhân trắc đối của người cao tuổi
tại phường Phước Vĩnh – thành phố Huế", với các mục tiêu sau đây:
1. Đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ tiêu nhân trắc của
hệ thống dụng cụ đo đạc, các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học, đặc biệt
là sự ứng dụng toán thống kê sinh học (trích theo Atlat nhân trắc học người
Việt Nam [29]). Ông được coi là người đặt nền móng cho khoa học nhân trắc
hiện đại. Những trường phái nhân học tiếp theo sau này đều phải dựa vào cơ
4
sở phương pháp của Martin mà bổ sung và hoàn thiện về mặt lí luận và thực
tiễn theo truyền thống khoa học của từng quốc gia. Phương pháp này có nhiều
ưu điểm hơn và được nhiều tác giả công nhận. Tuy nhiên phương pháp này
còn tồn tại một nhược điểm đó là 3 chỉ số: chiều cao, cân nặng và vòng ngực
được coi là 3 đặc điểm biến đổi độc lập với nhau. Trên thực tế chỉ có chiều
cao đứng là biến đổi độc lập, còn cân nặng và vòng ngực thì biến đổi phụ
thuộc vào chiều cao. Ngoài ra Martin còn sử dụng cả phương pháp tương
quan, nghĩa là chiều cao đứng biến đổi độc lập và cân nặng biến đổi phụ
thuộc vào chiều cao đứng và vòng ngực cơ thể.
Càng về sau, sự phát triển về nghiên cứu nhân trắc càng phong phú và đa
dạng hơn, cùng với sự phát triển của nhân chủng học. Tuỳ theo mục đích nghiên
cứu mà người ta chia ra: nhân trắc nhân chủng học, chuyên nghiên cứu hình thái
các chủng tộc loài người; nhân trắc học đường, chuyên nghiên cứu thể lực và các
tiêu chuẩn kiểm tra sức khoẻ học sinh; nhân trắc y học, nghiên cứu sự phát triển
cơ thể trẻ em theo từng lứa tuổi, phân loại tình trạng thể lực và dinh dưỡng, xác
định thay đổi hình thái do bệnh lí... [22].
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC HỌC Ở VIỆT NAM
Ở nước ta, nhân trắc học được quan tâm khá sớm, từ những năm 30 của
thế kỉ XX tại Viện giải phẫu học Hà Nội và Ban nhân học thuộc viện Viễn
Đông Bác Cổ với những công trình của Đỗ Xuân Hợp, Bigot A, Huard P
được công bố chủ yếu trong Hội san “Các công trình nghiên cứu của Viện
Giải phẫu học, Đại học y khoa Đông Dương” từ 1936 đến 1944 [11]. Tuy
sinh viên Thái Nguyên tốt hơn so với hằng số sinh học thể lực được xếp loại
tốt trong thang phân loại người Việt Nam bình thường [16].
- Sau năm 1993, Trịnh Văn Minh và cộng sự cũng đã có một công trình
nghiên cứu “ Đặc điểm sinh thể con người Việt Nam”, tiến hành nghiên cứu
tầm vóc thể lực và tình trạng dinh dưỡng của 1309 đối tượng tuổi từ 18-60 ở
một xã ngoại thành Hà Nội, đã đưa ra được nhiều nhận định có giá trị về tầm
vóc thể lực người Việt Nam đương đại [9].
6
Ngoài ra còn có một số tác giả khác như Trịnh Hữu Vách và Lê Gia
Vinh (1985 – 1986) [33] nghiên cứu trên các đối tượng người trưởng thành
của 5 tỉnh miền Bắc và miền Nam; Nguyễn Thế Hùng (1992) [6] nghiên cứu
trên học sinh – sinh viên Hải Phòng đều có nhận xét chung là tầm vóc thể lực
của các nhóm đối tượng nói trên tốt hơn hằng số sinh học người Việt Nam
(1975) chút ít. Như vậy sau hơn 10 năm, quy luật gia tăng tầm vóc thể lực
theo thời gian đã dần xuất hiện do hoàn cảnh kinh tế - xã hội của đất nước có
những thay đổi.
Ở miền Trung:
- Nguyễn Khải và cộng sự nghiên cứu trên các đối tượng sinh viên khu
vực Huế (1985), và nông dân xã Thuỷ Dương ở ngoại thành Huế đã nhận thấy
so với hằng số sinh học người Việt Nam (1975), tầm vóc thể lực của nam sinh
viên Huế tốt hơn, nhưng của nữ sinh viên Huế lại yếu hơn; ngược lại tầm vóc
thể lực của nam công dân xã Thuỷ Dương kém hơn chút ít nhưng nữ lại có
tầm vóc thể lực tốt hơn hoặc xấp xỉ [15]; Đào Huy Khuê (1991) với luận án
“Nghiên cứu đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và phát triển
cơ thể của học sinh phổ thông thị xã Hà Đông” [19]; Trịnh Văn Minh nghiên
cứu về nhân trắc trong công trình nghiên cứu về chỉ tiêu sinh học người Việt
Nam thập kỉ 90 của thế kỉ XX; Lê Đình Vấn nghiên cứu sự phát triển hình
với người miền Bắc, song kém người miền Nam và Tây Nguyên và kém
người Việt Nam toàn quốc [20].
Ở miền Nam, Nguyễn Thị Đoàn Hương và cộng sự nghiên cứu trên các
đối tượng là sinh viên học tại trường Đại học Y dược thành phố HCM và Đại
học sư phạm kĩ thuật Thủ Đức (1979) [8]; Nguyễn Hồng Bàng và cộng sự
nghiên cứu trên thanh niên tỉnh Long An (1986) [3]; Nguyễn Phi Hùng (2000)
nghiên cứu trên học sinh sinh viên Cần Thơ đã nhận thấy ở nam các chỉ số về
tầm vóc thể lực đều lớn hơn so với hằng số sinh học người Việt Nam (1976),
còn ở nữ sinh viên thì hầu hết các trị số đều nhỏ hơn [7].
Điểm lại những công trình nghiên cứu về tầm vóc thể lực của người
Việt Nam trong thời gian qua có thể nhận thấy:
8
- Người Việt Nam thuộc loại nhỏ bé so với thang phân loại của thế giới
nhưng thể lực cũng đủ tốt để đảm bảo sinh hoạt và lao động.
Người Việt Nam trong lứa tuổi lao động (17-55) có chiều cao và trọng
lượng cơ thể thuộc loại trung bình thấp của thế giới.
- Sự chênh lệch giới tính (nam và nữ), về chiều cao, các vòng và trọng
lượng có ý nghĩa thống kê thuộc loại bình thường, thường gặp trên thế giới.
- Nhiều kích thước cơ thể tăng dần từ miền Bắc vào miền Nam, sự khác
biệt của một số kích thước giữa các miền theo lớp tuổi trẻ và giảm dần.
1.3. CÁC CHỈ SỐ NHÂN TRẮC ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG
Trong các kích thước nhân trắc dinh dưỡng, khối lượng cơ thể, biểu
hiện bằng cân nặng vẫn là yếu tố hàng đầu. Hiện nay trong thực hành dinh
dưỡng, khi nói về cân nặng và sức khoẻ, người ta đã nêu lên khái niệm cân
nặng hợp lí. Theo đó, chúng ta cần biết rõ thành phần cấu tạo cơ thể như là
khối mỡ, khối nạc... Như vậy, độ béo gầy được đánh giá từ khối mỡ, khối nạc
là để xác định một cách chính xác hơn cho tình trạng thừa hoặc thiếu cân
nhiều nạc và ít mỡ hơn người làm công việc tĩnh tại.
- Chủng tộc: phụ nữ da đen có nhiều khối chất khoáng hơn phụ nữ da trắng.
- Khí hậu: người ở vùng khí hậu lạnh có nhiều mỡ dưới da hơn người ở
vùng khí hậu nóng để bảo vệ nhiệt độ cơ thể.
- Người có cân nặng quá mức (thừa cân) hay béo phì có khối mỡ vượt
quá mức so với khối nạc.
Để sử dụng các chỉ số đo nhân trắc để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở
một người bình thường thì chúng ta có một khái niệm về tình trạng cấu trúc
cơ thể của một người, đồng thời có thể phát hiện các dị dạng hình thái của
người đó.
Có nhiều chỉ tiêu nhân trắc hình thái và dinh dưỡng, tuy nhiên tuỳ theo
mục đích nghiên cứu và tuổi của đối tượng mà ta sử dụng các chỉ tiêu khác
nhau. Đối với đề tài nghiên cứu này của chúng tôi lứa tuổi là ở người cao tuổi
từ 60 tuổi trở lên, nên chúng tôi chỉ sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
* Trọng lượng:
10
Trọng lượng cũng như chiều cao là một chỉ tiêu thường được sử dụng
trong nghiên cứu nhân trắc học.
Trọng lượng người gồm 2 phần:
+ Phần cố định: gồm xương, da, các tạng và thần kinh
+ Phần thay đổi: gồm ¾ là trọng lượng của cơ, ¼ là mỡ và nước [2].
* Vòng bụng:
Là chỉ tiêu thường được dùng để đánh giá mức độ phân bố mỡ cơ thể
theo hướng trung tâm hoá ở nhóm người cao tuổi.
* Chiều cao đứng:
Chiều cao đứng là kích thước độc lập, nó không phụ thuộc vào các kích
thước khác, nói lên tầm vóc của con người và thường được sử dụng trong các
P
T2
Trong đó:
P: trọng lượng cơ thể tính bằng kilôgram (kg)
T: chiều cao tính bằng mét (m)
Ở trẻ em, BMI được sử dụng để đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng,
thừa cân và béo phì. Tuy nhiên đối với trẻ em, BMI còn phụ thuộc theo tuổi,
nên có một bảng phân loại dựa vào bách phân vị của từng lứa tuổi và quy ước
ngưỡng kết luận suy dinh dưỡng, thừa cân và béo phì như sau:
- BMI < bách phân vị 5% theo quần thể tham chiếu NHANESI của Mỹ:
suy dinh dưỡng
BMI > bách phân vị 85% theo quần thể tham chiếu NHANESI của Mĩ:
nguy cơ thừa cân
- BMI > bách phân vị 95% theo quần thể tham chiếu NHANESI của
Mĩ: béo phì
* Khối mỡ cơ thể: có nhiều phương pháp để xác định khối mỡ cơ thể.
Những phương pháp như đo độ dẫn điện cơ thể toàn phần, đo độ hấp thụ x
quang năng lượng kép ... đều được thực hiện trong phòng thí nghiệm và chi
phí cao. Các phương pháp dựa vào nhân trắc học vẫn là phổ biến. Ở Việt Nam
hay dùng công thức của Nguyễn Quang Quyền và LGV.
12
Công thức:
Nam: FBM = 6,16 x cao đứng x (vòng bụng)2 + 1,02
FBM = 8,29 x cao đững (vòng bụng)2 + 3,80.
Tổng cộng
152
96
59
307
- Người lớn bình thường, tuổi từ 60 trở lên đang sống và có mặt tại
phường Phước Vĩnh - Thành phố Huế.
- Không dị dạng về hình thái hoặc dị tật bẩm sinh hoặc do mắc phải.
- Không mắc các bệnh cấp tính và mạn tính
* Một số nét cơ bản về địa phương nghiên cứu:
+ Phường Phước Vĩnh thuộc thành phố Huế của tỉnh Thừa Thiên Huế có
diện tích tự nhiên 102,2ha, phường có 7 khu vực với 22 tổ dân phố, có 3352 hộ
dân và 15572 người, trong đó 74% dân số là đồng bào có đạo, phần lớn là
người dân lao động phổ thông, buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe thồ (trên 70%).
Các nghề thù công nghiệp và nghề khác chiếm chưa đầy 30% nhìn
chung đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, vất vả và thiếu thốn nhiều.
+ Về địa lý
Vị trí phường phước Vĩnh nằm phía Tây Nam thành phố Huế:
- Phía Bắc giáp với phường Vĩnh Ninh
- Phía Đông giáp với phường An Cựu
- Phía Nam giáp với phường An Tây
14
- Phía Tây giáp với phường Trường An
+ Kinh tế văn hoá xã hội
- Lao động phổ thông, buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe thồ (70%) còn lại
là nghề khác.
được đo thở bình thường.
- Vòng đùi: đo qua chỗ to nhất của vòng đùi, thường ngay dưới nếp lằn mông.
- Vòng bắp chân: đo qua chỗ to nhất của cẳng chân trái tư thế đứng chuẩn.
- Các nếp da: khi đo dùng tay trái véo da và lớp mỡ dưới da lên tới sát
lớp cân nông, tay phải dùng thước kẹp vào lớp da và lớp mỡ đó, buông nhẹ
tay cầm thước để cho kim chạy, khi kim dừng quay đọc số ngay, tất cả các
nếp da đều được đo bên trái, lần lượt đo ở các điểm.
+ Sau cánh tay (sau cơ tam đầu), điểm giữa mặt sau cánh tay
+ Trên mào chậu: trên đường nách giữa, dưới sườn cuối và trên mào chậu.
- Đo huyết áp (HA)
+ Đối tượng phải được nghỉ trước khi đo 5 phút, đo HA cánh tay lấy
HA tay trái làm chuẩn, đo tư thế ngồi.
+ Bao hơi cỡ thông thường (12 x 24cm) quấn phía trên nếp gấp khuỷu
tay 3cm, mặt trống ống nghe đặt sát gần bờ dưới bao hơi.
+ Bơm nhanh bao hơi lên 200mmHg hoặc trên mức huyết áp tâm thu
(HATT) mà ta có thể nhận biết bằng bắt mạch quay thấy biến mất xả bao hơi
ra theo tốc độ quay của kim vào khoảng 2mmHg/giây.
Ghi số HATT khi nghe thấy tiếng động đầu tiên, số HA lấy tới chữ số
hàng đơn vị mmHg (không lấy tròn chục).
Ghi số huyết áp tâm trương (HATTr) khi mất hẳn tiếng đập
+ Số lần đo: đối tượng nghiên cứu được đo 2 lần/ngày, mỗi lần cách
nhau ít nhất 2 phút, kết quả huyết áp được lấy để đánh giá mức độ huyết áp là
trung bình cộng của 2 lần đo trên.
+ Áp dụng bảng phân loại mức độ huyết áp theo hướng dẫn của JNC VI
(1997) hay WHO/ISH (1999) [32].
2.2.2.3. Dụng cụ đo đạc
16
Nam: FBM = 6,16 x cao đứng x (vòng bụng)2 + 1,02
17
Nữ: FBM = 8,29 x cao đứng x (vòng bụng)2 + 3,86
- Tổng bề dày nếp da: NDSCT + NDTMC
- Trung bình bề dày nếp da = tổng bề dày 2 nếp da/2
2.2.4. Xử lý kết quả điều tra
- Dùng phần mềm Epi info 6.04 và SPSS for windows 13.0
- Nhập số liệu bằng máy tính
- Kết quả thống kê đều được tính bằng các bảng X ± SD
X = (∑ X / n)
SD =
∑ ( x − x)
x
: Trung bình cộng của mẫu
n
: Số lần quan sát
x
: Giá trị của từng biến số một
2
2
2
Tương quan r được đánh giá như sau:
- r ≥ 0,7: liên quan rất chặc chẽ
- r < 0,3: rất ít liên quan
- r = 0,5 - 0,7: liên quan khá chặc chẽ
- r + : Tương quan thuận
- r = 0,3 - 0,5: liên quan mức độ vừa
- r - : Tương quan nghịch
Chương 3
18
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu 307 người cao tuổi (từ tuổi 60 trở lên),
trong đó: nam 126 và nữ 181 người, kết quả được trình bày trong các bảng sau:
3.1. CÂN NẶNG
Bảng 3.1. Cân nặng theo nhóm tuổi và giới
Nhóm
tuổi
60-69
X
50.39
48.07
46.83
49.07
SD
6.41
6.59
7.49
6.77
Biểu đồ 3.1. Cân nặng theo nhóm tuổi và giới
Cân nặng của hai giới giảm theo từng nhóm tuổi. Ở nhóm tuổi 70-79
nam giảm 3,09kg; nữ giảm 2,32kg. Ở nhóm tuổi ≥ 80 nam giảm 0,08kg; nữ
giảm 1,24kg. So sánh giữa nam và nữ ở nhóm tuổi 60 - 70 và nhóm tuổi ≥ 80,
nam lớn hơn nữ, chênh lệch khoảng 4,78 - 5,17kg, ở nhóm tuổi 70 - 79 chênh
lệch 4,01kg, sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê (p < 0,01).
3.2. CHIỀU CAO ĐỨNG
19
Bảng 3.2. Chiều cao đứng theo tuổi và giới
Nhóm
60-69
70-79
≥ 80
Chung
152.68
SD
4.13
4.89
3.42
4.39
Biểu đồ 3.2. Chiều cao đứng theo nhóm tuổi và giới
Chiều cao nam nhóm tuổi 70-79 giảm 1,90cm, nhóm tuổi ≥ 80 tăng
1,10cm. Ở nữ nhóm tuổi 70-79 giảm 2,32cm, nhóm tuổi ≥ 80 tăng 0,51cm.
Nam cao hơn nữ, chênh lệch gần bằng nhau qua các nhóm tuổi (khoảng
5,88 - 6,89cm). Sự khác biệt rất có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
20
3.3. VÒNG CÁNH TAY
Bảng 3.3. Vòng cánh tay theo nhóm tuổi và giới
Nhóm
tuổi
60-69
70-79
≥ 80
N
58
39
29
126
3.36
3.36
Biểu đồ 3.3. Vòng cánh tay theo nhóm tuổi và giới
Vòng cánh tay trái duỗi của hai giới đều giảm dần theo từng nhóm tuổi.
Ở nam nhóm tuổi 70 - 79 giảm 1,13cm, nhóm tuổi ≥ 80 giảm nhẹ 0,03cm. Ở
nữ nhóm tuổi 70 - 79 giảm nhẹ (0,03cm), nhóm tuổi ≥ 80 giảm 0,95cm.
So sánh giữa nam và nữ theo từng nhóm tuổi thì vòng cánh tay xấp xỉ
bằng nhau. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
3.4. VÒNG BỤNG
Bảng 3.4. Vòng bụng theo nhóm tuổi và giới
21
Nhóm
60-69
70-79
≥ 80
N
58
39
29
126
Nam
X
80.69
Vòng bụng ở nam giảm mạnh nhóm tuổi 70-79, nhóm tuổi ≥ 80 tăng
1,17cm. Ở nữ nhóm tuổi 70 - 79 giảm nhẹ 0,28cm; nhóm tuổi ≥ 80 tăng nhẹ
0,84cm. So sánh vòng bụng nam và nữ xấp xỉ nhau, chênh lệch ít. Riêng
nhóm tuổi ≥ 80 nữ lớn hơn nam 2,17cm. Sự khác biệt này rất có ý nghĩa thống
kê với (p < 0,01).
3.5. VÒNG ĐÙI
Bảng 3.5. Vòng đùi theo nhóm tuổi và giới
Nhóm
tuổi
N
Nam
X
SD
N
Nữ
X
SD
22
60-69
70-79
5.18
Biểu đồ 3.5. Vòng đùi theo nhóm tuổi và giới
Vòng đùi đều giảm cả hai giới. Ở nam nhóm tuổi 70 - 79 giảm 3,55cm,
nhóm tuổi ≥ 80 (0,14cm). Ở nữ nhóm tuổi 70 - 79 giảm 1,75cm, nhóm tuổi ≥
80 giảm 0,43cm. So sánh vòng đùi giữa nam và nữ xấp xỉ bằng nhau ở các
nhóm tuổi, chênh lệch 0,03 - 0,07cm.
3.6. VÒNG BẮP CHÂN
Bảng 3.6. Vòng bắp chân theo nhóm tuổi và giới
Nhóm
tuổi
60-69
70-79
≥ 80
N
58
39
29
Nam
X
28.09
26.51
26.24
SD
4.75
4.16
3.7. BỀ DÀY CÁC NẾP DA
Bảng 3.7. Bề dày nếp da sau cánh tay theo nhóm tuổi và giới
Nhóm
Nam
Nữ
N
X
SD
N
X
SD
tuổi
60-69
58
11.55
5.22
94
11.45
4.52
70-79
39
10.95
5.09
57
11.91
3.60
>= 80
29
10.79